CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, theo luật môi trường và các chính sách nghiêm ngặt của Quốc tế và Việt Nam đã cách mạng hóa lĩnh vực điện lạnh, đặc biệt liên quan đến các môi chất làm lạnh an toàn cho môi trường. Một trong những vấn đề quan trọng đặt ra đó là làm sao để giảm thiểu tối đa lượng khí thải gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu cũng như làm suy giảm tầng ozone. Dựa vào các nghiên cứu, các nhà khoa học đã xác định rằng chỉ có môi chất làm lạnh tự nhiên được xem là lành tính với môi trường.
Trong khi các chất lượng môi chất lạnh khác được xem xét, đặc biệt là những yêu cầu chất lượng liên quan đến độc tính và tính dễ cháy, carbon dioxide được xem là tốt nhất trong số các chất làm lạnh tự nhiên. Tuy nhiên, chất làm lạnh dựa trên carbon dioxide không phải là không có nhược điểm. Mặc dù việc sử dụng R744 - một loại khí làm lạnh dựa trên carbon dioxide - đã giải quyết được ảnh hưởng trực tiếp của khí thải đến môi trường, các nghiên cứu để điều tra các tác động gián tiếp của các hệ thống này là cần thiết. Nếu như trước đây, môi chất lạnh thường sử dụng trong các hệ thống lạnh là HFC, CFC hay HCFC thì dần dần, những môi chất lạnh này đã được thay thế bởi những môi chất mới, đảm bảo về các tính chất nhiệt động, hóa học, vật lý, rẻ tiền , dễ chế tạo và đặc biệt phải không gây ô nhiễm môi trường.
Nắm bắt được tình hình và đặc điểm nghiên cứu của loại môi chất lạnh CO2, với chỉ số phá hủy tầng ozone hoàn, chỉ số làm nóng lên toàn cầu khá thấp. Tuy nhiên, CO2 với vai trò là chất làm lạnh từ lâu đã phải chịu chi phí lắp đặt và vận hành cao, cũng như hiệu suất năng lượng kém, đặc biệt là ở vùng khí hậu ấm áp. Sự khác biệt lớn nhất đặt ra của loại môi chất lạnh này là áp suất cao và nhiệt độ thấp, do đó cần phải có một thiết đặc biệt và phù hợp đối với loại môi chất này. Từ những vấn đề trên có thể thấy rằng, mặc dù CO2 là một loại môi chất khá thân thiện với con người nhưng cũng vấp phải những hạn chế nhất định.
Do đó, quá trình thực nghiệm xác định năng suất làm lạnh của CO2 để đưa ra một môi chất lạnh gần gũi với môi trường thực sự cần thiết trong tình hình hiện nay. Đó chính là lý do nhóm quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu thực nghiệm năng suất lạnh hệ thống điều hòa không khí CO2.” SV2020-01 8 Luan van NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN GVHD:PGS.TS Đặng Thành Trung 1. Tổng hợp các nghiên cứu liên quan Như đã trình bày trên, vấn đề về môi chất lạnh CO2 không chỉ tại Việt Nam mà còn nhiều nơi trên thế giới đã và đang không ngừng nỗ lực nghiên cứu về nó. Với hi vọng tạo ra một môi chất lạnh hiệu quả và tiết kiệm năng lược một cách tối ưu.
Dưới đây là một số tổng hợp về các công trình liên quan. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Lee [1] cùng các cộng sự đã nghiên cứu về Hệ thống điều hòa không khí CO2 sử dụng Van tiết lưu Ejector. Kết quả thí nghiệm cho thấy hệ thống điều hòa không khí CO2 sử dụng Ejector được so sánh với nhiệt độ ngoài trời và tần số biến tần khác nhau. Các chỉ số COP của hệ thống điều hòa không khí sử dụng Ejector và hệ thống thông thường đã được tính toán và so sánh dựa trên áp suất và nhiệt độ của các thí nghiệm.
Công suất lạnh và COP trong hệ thống điều hòa không khí sử dụng Ejector cao hơn so với công suất trong hệ thống thông thường với tỷ số hút lớn hơn 0,76. Ngoài ra, trong các điều kiện thử nghiệm khác, hiệu suất cao hơn so với hệ thống thông thường theo tỷ lệ nhất định. Liu [2] cùng các các cộng sự đã thiết lập mô hình phân tích toàn diện cho máy điều hòa không khí CO2 dùng Ejector tiết lưu có thể điều khiển được 3 tấn lạnh đã được phát triển và xác nhận. Các nghiên cứu tham số của hệ thống CO2 Ejector tiết lưu cho thấy hệ số làm lạnh (COP) và công suất lạnh đạt mức tối đa khi đường kính Ejector là 2,8 mm; hệ số lạnh COP và công suất lạnh tối đa xảy ra khi đường kính của phần hòa trộn có diện tích không đổi trong khoảng từ 4,1 đến 4,2 mm; COP và công suất lạnh bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ không khí ngoài trời.
Tại 1 hình dạng ejector cụ thể và nhiệt độ ngoài trời là 37,8°C, hệ thống CO2 sử dụng Ejector làm tiết lưu theo lý thuyết có COP và công suất làm lạnh vượt trội hơn hệ thống thông thường lần lượt khoảng 30,7% và 32,1%. Việc chọn kích thước van tiết lưu: chọn đường kính cổ phun, đường kính phần hòa trộn diện tích không đổi, là rất quan trọng để cải thiện hiệu suất của hệ thống điều hòa không khí CO2 Ecjector tiết lưu. Rozhentsev [3] cùng các các cộng sự đã tiến hành đưa ra sự phân tích chu trình của hệ thống điều hòa không khí CO2. Nó cho thấy rằng ảnh hưởng của quá nhiệt bên trong đến hệ số hiệu suất làm lạnh (COP) là rất nhỏ đối với một hệ thống sử dụng máy nén nửa kín.
Tuy nhiên, hiệu suất máy nén có ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống COP. Thiết kế SV2020-01 9 Luan van NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN GVHD:PGS.TS Đặng Thành Trung của bộ thu hồi nhiệt trong một hệ thống là rất quan trọng, vì COP hệ thống có thể giảm khi kích thước của bộ thu hồi nhiệt lớn hơn một kích thước nhất định. Tao cùng cộng sự [4] vận hành thử nghiệm cho hệ thống điều hòa không khí dân dụng CO2 với bộ trao đổi nhiệt bên trong đã được xây dựng và các tác động của điều kiện làm việc lên hệ số hiệu suất của hệ thống (COP) đã được nghiên cứu. Kết quả cho thấy các thông số đầu vào của thiết bị bay hơi ít ảnh hưởng đến COP; phạm vi tăng của COP thấp hơn 6% và 4% ở các vùng nhiệt độ và nhiệt độ khí vào của thiết bị bay hơi tương ứng.
Các thông số đầu vào của bộ làm mát khí và nhiệt độ bay hơi của hệ thống là những yếu tố ảnh hưởng chính đến COP. COP giảm khoảng 20% khi nhiệt độ khí vào của bộ làm mát khí tăng từ 32,5°C lên 37°C, tăng khoảng 27% khi tốc độ khí vào của bộ làm mát khí tăng từ 0,68 m/s lên 1,8 m/s và tăng khoảng 11% khi nhiệt độ bay hơi tăng từ 8,7°C lên 13,9°C. Sau đó, dựa trên dữ liệu thực nghiệm, tổn thất điều tiết và ảnh hưởng của nó đối với COP đã được phân tích. Mặc dù bộ trao đổi nhiệt bên trong có thể làm giảm tổn thất điều tiết của chu kỳ chuyển hóa, nhưng vẫn có sự mất công suất làm mát 5% trong quá trình tiết lưu, khiến cho hệ thống mất khoảng 20%.
Hiệu suất làm mát của bộ làm mát khí ảnh hưởng trực tiếp đến tổn thất điều tiết, hiệu suất làm mát càng tốt thì tổn thất điều tiết càng nhỏ. Và tổn thất điều tiết giảm khi tăng nhiệt độ bay hơi. Azzouzi cùng các cộng sự [5] đã nghiên cứu về những ảnh hưởng của quá trình quá lạnh ở dàn ngưng tụ giải nhiệt bằng không khí đối lưu tự nhiên cánh tản nhiệt bằng thép đến hệ thống điều hòa không khí, nghiên cứu này đưa ra những tham số của chu trình quá lạnh đối với hệ số COP trong hệ thống làm lạnh khi sử dụng môi chất R134a, R12 và R600a tại các tỷ số áp suất khác nhau. Nghiên cứu này đã đóng góp cho sự phát triển của một phương pháp phân tích mới, làm cho nó có thể dự đoán tác động của sự quá lạnh cùng với bề mặt ngưng tụ phụ.
Hệ số COP tăng cùng với độ quá lạnh cho cả ba chất làm lạnh. Khi khoảng nhiệt độ quá lạnh từ 0°C đến 8°C, R600a cho thấy hệ số COP tốt hơn và ít sử dụng bề mặt ngưng tụ phụ hơn so với R134a. Vì thế, để tạo ra một nguồn lạnh có giá trị kinh tế cao chúng ta cần cân nhắc để thay thế môi chất R134a bởi R600a. Kim cùng các cộng sự [6] nghiên cứu đến ảnh hưởng của các thông số vận hành đến hiệu suất làm lạnh có thể được áp dụng cho hệ thống điều hòa không khí ô tô CO2 chuyển tới hạn.
Các điều kiện thử nghiệm của các hiệu suất thực nghiệm đối với hệ thống CO2 và các thành phần như làm lạnh gas và thiết bị bay hơi được đưa ra để so sánh với hiệu SV2020-01 10 Luan van NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN GVHD:PGS.TS Đặng Thành Trung suất của từng loại ở các điều kiện thử nghiệm tiêu chuẩn. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã trình bày kết quả thử nghiệm cho các đặc tính hiệu suất của hệ thống điều hòa không khí ô tô CO2 với các điều kiện vận hành khác nhau như áp suất khí làm mát khí khác nhau, tốc độ máy nén và nhiệt độ không khí trước / tốc độ dòng chảy qua thiết bị bay hơi và làm mát không khí. Kết quả thí nghiệm cho thấy công suất làm mát là hơn 4,9 kW và hệ số hiệu quả năng lượng (COP) là hơn 2,4, ở mỗi áp suất đầu vào làm mát không khí trong điều kiện không tải. Ngoài ra, công suất làm mát là khoảng 7,5 kW và COP là khoảng 1,7 ở áp suất tối ưu của đầu vào làm mát khí trong điều kiện lái xe khi nhiệt độ khí vào của bộ làm mát khí và thiết bị bay hơi lần lượt là 45°C và 35°C.
Do đó, các tác giả đã đưa ra kết luận rằng hệ thống điều hòa không khí ô tô sử dụng môi chất CO2 có hiệu suất tốt. Nghiên cứu này cũng đề cập đến việc phát triển thuật toán điều khiển áp suất cao tối ưu cho chu trình CO2 để đạt được COP tối đa. Hazarakia cùng các cộng sự [7] đã thực hiện điều tra hiệu suất của hệ thống dựa trên quá trình chuyển tới hạn của R744 cho hệ thống điều hòa không khí. Trong nghiên cứu này, sản phẩm mô phỏng số chi tiết của hệ thống dựa trên R744 được phát triển.
Một thiết bị nghiên cứu thực nghiệm của một hệ thống điều hòa không khí dựa trên R744 được thiết kế và phát triển để nghiên cứu thực nghiệm thực sự tốt và được xác định mô hình lý thuyết.