CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN 1. Khái niệm về tài chính toàn diện Tiếp cận tài chính toàn diện hoặc Tài chính toàn diện (TCTD) đều là cách dịch khác nhau của thuật ngữ (Financial Inclusion).
TCTD là một khía cạnh không thể thiếu cho sự phát triển bền vững của một quốc gia, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế và tổ chức tài chính (Lê Thái Hà và cộng sự, 2019). Khi TCTD trở thành hiện tượng kinh tế - xã hội mới, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách đều chuyển sự chú ý của họ về vấn đề này, thúc đẩy một lĩnh vực nghiên cứu mới về nó. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về tài chính toàn diện, mà từng quốc gia, từng tổ chức đưa ra khái niệm dựa vào chính sách và chiến lược kinh tế của mình. Kochhar (2009) định nghĩa tài chính toàn diện là quá trình đảm bảo quyền tiếp cận các dịch vụ tài chính đầy đủ, kịp thời cho các nhóm dễ bị tổn thương như các nhóm có thu nhập thấp với chi phí phải chăng nhưng phải công bằng và minh bạch.
Tác giả cũng đề cập rằng viêc mọi người nhận tín dụng từ các tổ chức nhỏ, cho vay nặng lãi và những điều tương tự như vậy không phải là TCTD. Quyền tiếp cận phải thông qua các thể chế chính thống và chỉ khi đó mới thể hiện sự công bằng, minh bạch và tiết kiệm chi phí. Đồng quan điểm này, Ủy ban Rangarajan (2008) cho rằng TCTD là quá trình đảm bảo việc tiếp cận các dịch vụ tài chính và tín dụng kịp thời, phù hợp đến các nhóm thu nhập thấp, dễ bị tổn thương với chi phí phải chăng. Các dịch vụ tài chính bao gồm tiết kiệm, cho vay, bảo hiểm, thanh toán, chuyển tiền và dịch vụ tư vấn của hệ thống tài chính chính thức.
Ngân hàng dự trữ Ấn Độ (2011) cũng bày tỏ quan điểm TCTD là một quá trình đảm bảo quyền truy cập vào các sản phẩm và dịch vụ tài chính phù hợp, cần thiết cho các nhóm dễ bị tổn thương như các nhóm thu nhập thấp với chi phí phải chăng một cách công bằng và minh bạch bởi thể chế chính thống. TCTD là quá trình cung cấp dịch vụ tài chính với chi phí hợp lý cho các nhóm thu nhập thấp và có hoàn cảnh khó khăn. Truy cập không giới hạn vào các sản phẩm và dịch vụ công cộng là điều kiện thiết yếu của một xã hội cởi mở và hiệu quả. Vì bản chất của các dịch vụ ngân hàng là đáp ứng cho lợi ích công cộng, nên sự sẵn có của dịch vụ nhằm 5 phục vụ cho tất cả các đối tượng mà không bị phân biệt đối xử là mục tiêu chính của chính sách công (Kumar, 2013).
Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình nhóm tác giả Aduda và Kalunda (2012) cho cái nhìn sâu sắc hơn rằng TCTD là một quá trình cung cấp dịch vụ tài chính với mức giá hợp lý ở đúng nơi, đúng chỗ mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào với tất cả các thành viên trong xã hội bởi nhà cung cấp dịch vụ. Một hệ thống tài chính toàn diện là một hệ thống tối đa hóa việc sử dụng và truy cập, đồng thời giảm thiểu loại trừ tài chính không tự nguyện (Cámara và Tuesta, 2014). Cũng tương tự, Nhóm tư vấn hỗ trợ người nghèo (CGAP, 2013) cho rằng TCTD là một thế giới nơi mọi người có thể truy cập và sử dụng hiệu quả các dịch vụ tài chính mà họ cần để cải thiện cuộc sống nhưng không có nghĩa là phát triển thị trường tài chính riêng cho người nghèo. Ngoài ra, Chakraborty (2011) bổ sung thêm TCTD là quá trình đảm bảo quyền tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ tài chính phù hợp cần thiết cho tất cả các bộ phận trong xã hội nói chung và các nhóm dễ bị tổn thương như các nhóm thu nhập thấp nói riêng, với chi phí hợp lý theo một cách công bằng và minh bạch bởi thể chế chính thống.
Đồng thời, theo Cull và cộng sự (2014) TCTD có nghĩa là tất cả người trưởng thành trong độ tuổi lao động đều có quyền truy cập hiệu quả vào tín dụng, tiết kiệm, thanh toán và bảo hiểm từ các nhà cung cấp dịch vụ chính thức. Truy cập hiệu quả là việc cung cấp các dịch vụ thuận tiện với chi phí phải chăng cho khách hàng, có trách nhiệm và bền vững từ nhà cung cấp để khách hàng bị loại trừ về tài chính sử dụng các dịch vụ tài chính chính thức thay vì các lựa chọn không chính thức hiện có. Ở Việt Nam, theo tác giả PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh và ThS. Trần Thị Thắng (2019) thì cho rằng “TCTD là việc mọi người dân và doanh nghiệp được tiếp cận và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính một cách thuận tiện, phù hợp nhu cầu với chi phí hợp lý do các tổ chức tài chính cung cấp một cách có trách nhiệm và bền vững, trong đó chú trọng đến nhóm người nghèo, người thu nhập thấp, người yếu thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ (SMEs)”.
Hay viện chiến lược Ngân hàng cho rằng “Tài chính toàn diện hiểu khái quát nhất là việc cung cấp dịch vụ tài chính phù hợp và thuận tiện cho mọi thành viên trong xă hội, đặc biệt là đối với nhóm người dễ bị tổn thương nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính, góp phần tạo cơ hội sinh kế, luân chuyển dòng 6 vốn đầu tư và tiết kiệm trong xã hội, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” (Sơ lược tài chính toàn diện, 2018). Tiếp cận tài chính toàn diện là giúp cho mọi cá nhân và doanh nghiệp tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ tài chính với chi phí phải chăng, không phân biệt giá trị tài sản ròng của cá nhân hay qui mô doanh nghiệp. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) trong báo cáo năm 2015 cho rằng TCTD là quá tŕnh đảm bảo tiếp cận dịch vụ tài chính cho các hộ gia đình và doanh nghiệp với mức chi phí hợp lý. Trong khi Ngân hàng Thế giới (WB) (2018) định nghĩa “TCTD là việc cung cấp dịch vụ tài chính phù hợp và thuận tiện tới mọi cá nhân và tổ chức với mức chi phí hợp lý, bao gồm: Chuyển tiền, thanh toán, tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm - được phân phối theo cách thức có trách nhiệm và bền vững”.
Tiếp cận toàn diện tài chính không chỉ là quá trình đảm bảo khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính mà bao gồm cả nâng cao hiểu biết về tài chính của người dân. Trong lập luận của mình Thống đốc Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ, Subbarao (2013) nhấn mạnh về hiểu biết tài chính của người dân. Theo tác giả, TCTD không chỉ có nghĩa là cung cấp dịch vụ tài chính mà bao gồm cả hiểu biết về tài chính, kiến thức về ngân hàng và các kênh phân phối ngân hàng, lợi ích của việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Hiểu biết về tài chính là về phía cầu còn TCTD là bên cung.
TCTD là quá trình thúc đẩy việc tiếp cận, kịp thời và đầy đủ các sản phẩm và dịch vụ tài chính chính thống và mở rộng phạm vi sử dụng bởi tất cả các thành viên trong xã hội thông qua việc thực hiện các phương pháp tiếp cận hiện đại và sáng tạo, bao gồm nhận thức và giáo dục về tài chính nhằm thúc sự phát triển kinh tế và hòa nhập xã hội (Atkinson và Messy, 2013). Do vậy có thể hiểu rằng “Tài chính toàn diện có thể hiểu là cung cấp cơ hội bình đẳng cho mọi người dân trong tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thống một cách thuận tiện, phù hợp với nhu cầu với mức chi phí phải chăng, góp phần quan trọng trong xóa đói giảm nghèo của đất nước, qua đó thúc đẩy kinh tế phát triển. Đồng thời có cơ chế nâng cao hiểu biết của người dân và bảo vệ người tiêu dùng”. Các thước đo tài chính toàn diện Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành nhằm xác định thước đo thích hợp để đánh giá hệ thống tài chính toàn diện (Inclusive Financial System).
Thước đo đó được gọi là chỉ số 7 tài chính toàn diện (Index of Financial Inclusion - IFI), được đề xuất lần đầu bởi Sarma (2008). Tuy nhiên, hiện nay chưa có một phương pháp nhất quán để đo lường hoặc đánh giá chỉ số IFI. Chỉ số tài chính toàn diện của Mandira Sarma (2008) Theo Sarma (2008) có ba yếu tố cấu thành IFI của một quốc gia: sự thâm nhập (penetration), sự thuận tiện (available) và mức độ sử dụng (usage). Tác giả áp dụng cách tiếp cận đa chiều để đo lường IFI, tương tự như phương pháp của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) trong việc tính toán các chỉ số phát triển như HDI, HPI và GDI.
Bước đầu, ba khía cạnh: penetration, available và usage đại diện cho một quốc gia i bằng một điểm (pi, ai, ui) trong hệ tọa độ Descartes sao cho 0 ≤ pi, ai, ui ≤ 1. Trong không gian này điểm (0,0,0) sẽ chỉ ra tình huống xấu nhất (loại trừ hoàn toàn tài chính) và điểm (1,1,1) sẽ chỉ ra tình huống lý tưởng (TCTD mức cao nhất), chỉ số khía cạnh (dimension index) - 𝑑𝑖 được tính như sau: 𝐴𝑖 − 𝑚𝑖 𝑑𝑖 = 𝑀𝑖− 𝑚𝑖 Trong đó: Ai = Giá trị thực tế của thành phần thứ i. mi = Giá trị thấp nhất của thành phần thứ i. Mi = Giá trị cao nhất của thành phần thứ i.
i là nhân tố của tiếp cận tài chính. Với điều kiện 0 ≤ di ≤ 1 ( Giá trị di càng cao thì mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính của người dân của quốc gia càng cao). Sau đó, IFI cho quốc gia i được đo bằng khoảng cách Euclide nghịch đảo chuẩn hóa của điểm (pi, ai, ui) đến điểm lý tưởng (1,1,1): √(1 − 𝑝𝑖 )2 + (1 − 𝑎𝑖 )2 + ⋯ + (1 − 𝑢𝑖 )2 𝐹𝐼 = 1 − √3 Chỉ số tài chính toàn diện - IFI được trình bày trên ba thành phần: Thành phần 1: Sự thâm nhập của hệ thống ngân hàng (Banking penetration). Cho biết mức độ tiếp cận các dịch vụ tài chính của người dân, số lượng người sử dụng các dịch vụ ngân hàng càng nhiều thì khả năng tiếp cận tài chính càng cao.
Nếu mỗi 8 người trong nền kinh tế đều có tài khoản ngân hàng, thì thành phần này sẽ có trọng số bằng 1.