mở đầu với việc tóm tắt những kết quả chính tìm được trong quá trình nghiên cứu, trước khi đi sâu vào phần thảo luận những kết luận chính được rút ra đó với ngụ ý chính sách trong từng trường hợp. Góc nhìn mới về chuyển dịch cơ cấu sản xuất và nâng cao chất lượng rổ hàng hóa xuất khẩu từ cách tiếp cận của lý thuyết về khả năng sản xuất sẽ được thảo luận trong chương này. Cuối cùng, những hạn chế của nghiên 6 cứu cũng được phân tích nhằm gợi ý hướng nghiên cứu sâu hơn cho những nghiên cứu tiếp theo. Chất lượng rổ hàng hóa xuất khẩu 1.
Khái niệm Trong những năm gần đây, một nhánh nghiên cứu nhỏ nhưng phát triển nhanh chóng xuất hiện tranh luận rằng một yếu tố quan trọng của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế nằm ở sự nâng cấp “chất lượng rổ hàng hóa” sản xuất và xuất khẩu của một quốc gia. Thật vậy, các nhà kinh tế đã lập luận rằng những gì một quốc gia sản xuất và xuất khẩu có thể sẽ quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế trong tương lai. “… không phải tất cả hàng hóa đều giống nhau về hệ quả của chúng đối với hoạt động kinh tế. Chuyên môn hóa một số sản phẩm sẽ mang lại tăng trưởng kinh tế cao hơn so với chuyên môn hóa những sản phẩm khác.” ~ (Hausmann et al., 2007) Tuy nhiên những sản phẩm đó không đơn thuần là những sản phẩm có lợi thế so sánh theo quan niệm của kinh tế học truyền thống.
Theo quan niệm mới, đó nên là những sản phẩm có thể mang lại sự lan tỏa kiến thức lớn hơn, có tiềm năng lớn hơn cho việc tạo ra liên kết ngược và xuôi, hoặc ít nhất cũng cung cấp một lộ trình dễ dàng hơn để đến được với những sản phẩm khác có đặc điểm như vậy. Kết cục là, một số sản phẩm được coi là tinh vi hơn, hay có chất lượng cao hơn, theo nghĩa chúng thể hiện mức năng suất cao hơn. Không dừng lại ở đây, Hausmann et al. (2007) đi xa hơn khi nhận định rằng những sản phẩm được xuất khẩu bởi những nước giàu thường có mức năng suất hay chất lượng cao hơn những sản phẩm được sản xuất và xuất khẩu bởi những nước nghèo hơn.
Tổng hợp những sản phẩm quốc gia sản xuất và xuất khẩu thu được rổ hàng hóa sản xuất và xuất khẩu của quốc gia. Mở rộng định nghĩa cho một sản phẩm, rổ hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia được coi là tinh vi hơn hay có chất lượng cao hơn, nếu rổ hàng hóa này bao gồm nhiều hàng hóa có chất lượng cao hơn, hay đơn giản hơn là rổ hàng hóa này bao gồm nhiều hàng hóa được xuất khẩu bởi những nước phát triển. Lô-gic ở đây khá đơn giản: trong điều kiện thương mại tự do, những sản phẩm được xuất khẩu bởi nước giàu (nước phát triển) hẳn phải sở hữu một thuộc tính gì đó cho phép những nhà sản xuất có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới mà vẫn trả mức lương cao hơn cho người lao động. Thuộc tính đơn giản nhất có thể kể đến là mức giá, hay giá một đơn vị 7 sản phẩm (unit value) đề xuất bởi Sutton (2001).
Tuy nhiên, thực tế là một số mặt hàng được các nước phát triển xuất khẩu với giá một đơn vị sản phẩm thấp hơn mặt hàng tương đương xuất khẩu bởi các nước đang phát triển. Rổ hàng hóa xuất khẩu có chất lượng cao hơn mang nội hàm rộng hơn thế. Lall et al. (2006) đưa ra tranh luận chính thức đầu tiên cho vấn đề này.
Chất lượng của rổ hàng hóa xuất khẩu là một sự pha trộn tổng hợp của nhiều yếu tố từ trình độ công nghệ, sự chuyên nghiệp trong các khâu marketing hay logistic, sự phát triển của hệ thống hạ tầng cơ sở hay đơn thuần là sự dồi dào phong phú của tài nguyên thiên nhiên. Công nghệ được coi như điều kiện tiên quyết, bởi chỉ có công nghệ tiên tiến mới là công cụ cạnh tranh chính của các nước phát triển. Trong đó, công nghệ được đánh giá qua kết quả của quá trình nghiên cứu triển khai R&D, quá trình đổi mới và khả năng vận hành các quy trình sản xuất một cách hiệu quả. Các quốc gia sở hữu những kỹ năng tiên phong, khả năng công nghệ và hệ thống đổi mới sáng tạo mạnh mẽ sẽ có xu hướng xuất khẩu các sản phẩm có công nghệ tiên tiến.
Vì vậy, chất lượng sản phẩm cao hơn thường có xu hướng phản ánh về sự phức tạp, phát triển và đổi mới của công nghệ, bao gồm nỗ lực nắm bắt kỹ thuật mới, kỹ năng, chuỗi cung ứng và hệ thống đổi mới sáng tạo. Theo thời gian, chất lượng rổ hàng hóa sản xuất và xuất khẩu của một quốc gia có thể nâng cấp lên, thông qua việc nâng cao chất lượng của hàng hóa đã được sản xuất trước đó, hoặc chuyển sang các sản phẩm mới có chất lượng cao hơn. Đo lường Với định nghĩa và nội hàm được xác định như trên, chất lượng rổ hàng hóa xuất khẩu được đo lường đầu tiên bởi Lall et al. Theo đó, mức độ tinh vi/phức tạp của một sản phẩm được đo lượng bằng mức bình quân gia quyền thu nhập bình quân đầu người của tất cả các quốc gia xuất khẩu sản phẩm này, với trọng số là thị phần xuất khẩu của mỗi quốc gia trong tổng xuất khẩu sản phẩm này trên thế giới.
Việc lấy thị phần xuất khẩu của mỗi quốc gia làm trọng số có bất cập khi đánh giá quá cao vai trò của những nước lớn và xem nhẹ vai trò của các nước nhỏ nhưng lại có lợi thế so sánh lớn về sản phẩm đó. Vì vậy, Hausmann et al. (2007) đã thay thế thị phần xuất khẩu như cách xây dựng chỉ số của Lall et al. PRODY thể hiện mức năng suất/chất lượng tương ứng với từng sản phẩm xuất khẩu.
Trên cơ sở chỉ số PRODY, Hausmann et al. (2007) tiếp tục phát triển lên với chỉ báo EXPY cho cấp độ quốc gia (productivity level of an export basket) thể hiện mức năng suất hay chất lượng của rổ hàng hóa xuất khẩu quốc gia. EXPY cho một quốc gia được tính bằng trung bình có trọng số của PRODY tất cả các sản phẩm xuất khẩu của quốc gia 8 đó, với trọng số là tỷ trọng xuất khấu của từng sản phẩm trong rổ hàng hóa xuất khấu của một quốc gia. Một số ý kiến chỉ ra hạn chế của PRODY và EXPY là không tính đến sự khác biệt về chất lượng của cùng một sản phẩm xuất khẩu giữa các quốc gia dẫn đến việc chất lượng của rổ hàng hóa xuất khẩu ở những nước thu nhập thấp có xu hướng bị thổi phồng so với thực tế và ngược lại (Minondo, 2010a).
Để giải quyết vấn đề này, Minondo (2010b) đề xuất hiệu chỉnh hai chỉ báo PRODY và EXPY theo chất lượng thực tế của mỗi sản phẩm xuất khẩu ở từng quốc gia và đưa ra chỉ số PRODY và EXPY hiệu chỉnh theo chất lượng (quality adjusted PRODY and EXPY). Trong một nghiên cứu có ảnh hưởng khác, Hidalgo and Hausmann (2009) đã đề xuất hai chỉ báo mới: Chỉ báo mức độ phức tạp của sản phẩm (Product Complexity Indicator - PCI) và chỉ báo mức độ phức tạp của nền kinh tế (Economic Complexity Indicator - ECI). Về cơ bản, PCI và ECI được thiết kế để tương ứng với PRODY và EXPY, và mong muốn đo lường mức độ thâm dụng yếu tố tri thức trong mỗi sản phẩm xuất khẩu và cả rổ hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia. Tuy nhiên, với việc cả hai chỉ báo này chỉ được tính toán dựa vào dữ liệu thương mại song phương ở cấp độ sản phẩm, một số nhà kinh tế tỏ ra nghi ngờ khả năng biến đại diện đủ tốt của hai chỉ báo này cho mức năng suất/chất lượng của sản phẩm và rổ hàng hóa xuất khẩu quốc gia (Lectard and Rougier, 2018).
Xét trong bối cảnh hiện nay khi các quốc gia đều ít nhiều tham gia vào một công đoạn nào đó trong chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain), thì việc sử dụng dữ liệu tổng xuất khẩu cho từng sản phẩm để tính chất lượng rổ hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia có thể sẽ thiếu hợp lý. Trong chuỗi giá trị toàn cầu, công đoạn thâm dụng vốn và có hàm lượng chất xám cao như thiết kế thường được tiến hành ở các nước phát triển, còn những công đoạn chỉ đòi hỏi sử dụng nhiều lao động không qua đào tạo như gia công lắp ráp có xu hướng được chuyển ra bên ngoài đến các nước đang phát triển (Grossman and Rossi-Hansberg, 2008). Khi đó, thành phẩm xuất khẩu cuối cùng sẽ có giá trị rất lớn, nhưng giá trị gia tăng thực tế cho các nước đang phát triển lại khá hạn chế. Do đó, chỉ báo chất lượng rổ hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia có thể không đánh giá một cách tin cậy “chất lượng” thực sự của những gì quốc gia có thể sản xuất và xuất khẩu.
Bất chấp những luồng ý kiến nghi ngờ và chỉ trích, cũng như việc đã có nhiều nghiên cứu cố gắng thiết kế các chỉ số khác để đo lường chất lượng rổ hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia, PRODY và EXPY vẫn là hai chỉ báo được sử dụng rộng rãi nhất trong các dây nghiên cứu về chủ đề này. Vì vậy, bài nghiên cứu này sẽ tiếp tục sử dụng PRODY và EXPY để đo lường mức năng suất/chất lượng của một sản phẩm và cả rổ hàng hóa xuất khẩu quốc gia. Cần nhấn mạnh rằng hai chỉ báo này đều có những hạn chế nhất định. 9 PRODY cho sản phẩm/ngành k được tính theo công thức sau: (𝑥𝑗𝑘 /𝑋𝑗 ) ( 𝑃𝑅𝑂𝐷𝑌𝑘 = ∑ 𝑌 ∑𝑗(𝑥𝑗𝑘 /𝑋𝑗 ) 𝑗 1.1) 𝑗 Trong đó: 𝑥𝑗𝑘 là giá trị xuất khẩu sản phẩm/ngành k của quốc gia j; 𝑋𝑗 và 𝑌𝑗 lần lượt là tổng xuất khẩu và GDP của nước j.
PRODY là một thước đo ở cấp độ sản phẩm hoặc cấp độ ngành thể hiện mức năng suất trung bình có trọng số theo thu nhập bình quân đầu người của tất cả các quốc gia sản xuất và xuất khẩu một sản phẩm/ngành nhất định. Một sản phẩm/ngành chiếm tỷ trọng lớn trong rổ hàng hóa xuất khấu của các nước giàu nhưng có tỷ lệ không đáng kể trong rổ hàng hóa xuất khẩu của các nước nghèo thì các sản phẩm/ngành đó có giá trị PRODY cao vì đó là sản phẩm/ngành được xuất khẩu bởi nước giàu, và ngược lại.