CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài - Long Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã và đang tác động mạnh mẽ vào nền kinh tế của các nước cũng như nhiều ngành nghề khác nhau, trong đó có giáo dục. Nhờ sự ảnh hưởng này, giáo dục có cơ hội được phát triển, tiếp cận với người học thông qua nhiều hình thức khác nhau. Hiện tại, người học không nhất thiết phải đến lớp học để tiếp thu kiến thức như cách học truyền thông trước đây. Thay vào đó, họ có thể truy cập vào các khóa học trực tuyến thông qua Internet và các thiết bị di động ở bất kỳ lúc nào và bất kỳ đâu để hoàn thành các khóa học (Albelbisi, 2021).
Điều này giúp người học dễ dàng hơn trong việc sắp xếp thời gian, hệ thống bài giảng và tìm kiếm khóa học phù hợp với nhu cầu của bản thân. Theo thống kê của Class Central (2020) số lượng người học tham gia các khóa học trực tuyến đại chúng mở - MOOCs đã đạt 180 triệu người. Trong đó, nền tảng Coursera đã được sử dụng bởi 49 triệu người và hơn 2.300 doanh nghiệp trên toàn thế giới (Coursera, 2021). Bên cạnh đó, cùng với hơn 16.000 khoá học trực tuyến đại chúng mở từ 950 trường đại học trên khắp thế giới (Class Central, 2020) trên các nền tảng như Udemy, Future Learn, WizIQ, and Skill Share và nhiều nền tảng khác đã cho thấy được sự phổ biến của các khóa học MOOCs.
Tại Mỹ 43% sinh viên sử dụng MOOCs như là công cụ để hỗ trợ cho việc làm bài tập về nhà một dễ dàng hơn (Markinstyle, 2021). Ở Việt Nam, nhiều trường đại học đang tạo ra các khóa học trực tuyến mở miễn phí (MOOCs) để tạo ra một môi trường học tập mở cho tất cả mọi người, trong đó có trường Đại học Mở TPHCM. Các lớp học trực tuyến với đa dạng nội dung không chỉ bổ sung cho các lớp học truyền thống mà còn khiến sinh viên học hỏi từ các bài giảng do các giáo sư giỏi nhất thế giới giảng dạy tại các trường đại học tốt nhất trên thế giới mà hầu như không mất phí (Al-Adwan, 2020; Albelbisi và cộng sự, 2021; Deng và cộng sự, 2019; Ma & Lee, 2019). Chính vì những lý do trên rất cần có đề tài nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến sự chấp nhận sử dụng các khóa học trực tuyến đại chúng mở - MOOCs của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” để có thể 10 tìm ra các yếu tố tác động đến sự chấp nhận và sử dụng các khóa học trực tuyến đại chúng mở của sinh viên.
Thông qua đó, đề xuất các hàm ý quản trị thích hợp phát triển các khóa học đến rộng rãi sinh viên tại Việt Nam cụ thể hơn là ở Thành phố Hồ Chí Minh.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là khám phá các yếu tố tác động đến sự chấp nhận sử dụng các khóa học trực tuyến đại chúng mở - MOOCs của sinh viên. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: - Xác định các yếu tố tác động đến sự chấp nhận sử dụng các khóa học trực tuyến đại chúng mở - MOOCs của sinh viên ở TPHCM. - Kiểm định mức độ tác động của các yếu tố đến sự chấp nhận sử dụng khóa học trực tuyến đại chúng mở - MOOCs của sinh viên ở TPHCM. - Cuối cùng là đề xuất các giải pháp cho tổ chức nhằm thúc đẩy sinh viên tham gia các khóa học trực tuyến đại chúng mở - MOOCs.3 Câu hỏi nghiên cứu - Việc chấp nhận sử dụng các khóa học trực tuyến đại chúng mở - MOOCs của sinh viên ở TPHCM hiện nay như thế nào? - Những yếu tố nào tác động đến sự chấp nhận sử dụng các khóa học trực tuyến đại chúng mở - MOOCs của sinh viên ở TPHCM? - Mức độ tác động đến sự chấp nhận sử dụng các khóa học trực tuyến đại chúng mở - MOOCs của sinh viên ở TPHCM? 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến sự chấp nhận sử dụng các khóa học trực tuyến đại chúng mở - MOOCs của sinh viên ở TPHCM.
- Đối tượng khảo sát: Sinh viên thuộc các trường đại học đã sử dụng hoặc có ý định sử dụng MOOCs. - Phạm vi nghiên cứu: + Không gian: Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. 11 + Thời gian: Bài nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2022 đến tháng 3/2023. 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khóa học trực tuyến đại chúng mở - MOOCs Cho đến thời điểm hiện tại, Cách mạng Công nghiệp 4.0 đã đem đến nhiều tác động mạnh mẽ lên nhiều lĩnh vực, E-learning là một phương thức học sử dụng trên nền tảng công nghệ cũng chịu ảnh hưởng lớn và không ngừng thay đổi.
Các khóa học trực tuyến đại chúng mở (Massive Open Online Courses - MOOCs) chính là một hình thức phát triển của loại hình đào tạo trực tuyến, có tác động đáng kể đến lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là giáo dục từ xa. Theo một định nghĩa của OpenupEd, MOOCs là các khoá học được thiết kế cho một số lượng lớn người tham dự. Người học có thể truy cập vào khóa học này ở bất cứ nơi nào chỉ với thiết bị thông minh (điện thoại, máy tính, laptop,.) có kết nối với Internet. Khóa học trực tuyến đại chúng mở là nguồn mở cho tất cả mọi người, vì thế người tham gia không cần phải chứng thực trình độ mới có thể tham gia.
MOOCs cung cấp các khóa học trực tuyến hoàn chỉnh và hoàn toàn miễn phí. MOOCs được định nghĩa là phương pháp học trực tuyến dành cho sinh viên toàn cầu để bổ sung kiến thức và cải thiện kỹ năng của họ (Altalhi, 2020). Ngoài ra, MOOCs có thể được xem là một phương tiện thích hợp để cá nhân hóa việc học trong thế kỷ 21 (Din, 2015). Khác với các khóa học trực tuyến truyền thống, các khóa học trực tuyến đại chúng mở sở hữu nhiều đặc điểm độc đáo như quy mô rộng lớn, cấu trúc mở và tính đa dạng (Tyler Sr., 2020; Lopes và cộng sự.
Song, các bài giảng được cung cấp bởi các Tổ chức Giáo dục Đại học (Higher Education Institution - HEI) (Deng, 2017) hoặc được dạy miễn phí qua Internet. Cũng như bất kỳ công nghệ học tập trực tuyến nào khác, MOOCs cung cấp những lợi ích quan trọng cho sinh viên và người học, nhất là cải thiện hiệu suất học tập của họ (Wang & Zhu, 2019). MOOCs có thể hỗ trợ sinh viên tốt nghiệp đại học thiếu kinh nghiệm hoặc kỹ năng làm việc bằng cách cho phép họ đăng ký các khóa học trực tuyến do các chuyên gia và học giả giảng dạy.2 Khái niệm MOOCs ở Việt Nam Ở Việt Nam, trường Đại học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh là trường đại học đầu tiên tiên phong trong việc xây dựng và triển khai các khóa học trực tuyến đại chúng mở. Song, trường đã nghiên cứu và xây dựng mô hình giáo dục trực tuyến mở đại chúng với tên gọi VMOOCs (Vietnamese MOOCs).
Hiện nay, hệ thống VMOOCs giúp cung cấp các khóa học miễn phí, đã kiểm duyệt chất lượng, với sự tham gia của các trường đại học, Viện nghiên cứu, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các cơ quan, doanh nghiệp trong việc cung cấp, chia sẻ nội dung, phát triển hệ thống. Sự ra đời của VMOOCs được hứa hẹn sẽ góp phần nâng cao dân trí và thúc đẩy việc học tập suốt đời của người dân Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ cuộc cách mạng 4.1 Lý thuyết hành vi dự định (TPB) Lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) thuộc lĩnh vực tâm lý xã hội được ứng dụng rộng rãi nhất và có thể dự đoán hành vi ra quyết định hợp lý của con người (Sommer, 2011). Lý thuyết này là kết quả của sự phát triển bởi lý thuyết hành vi hợp lý (Theory of reasoned action - TRA, Fishbein & Ajzen, 1975). Trong mô hình lý thuyết, biến ý định sử dụng (BI - Behavioural Intention) được chi phối bởi 3 biến độc lập: thái độ (Attitude - Ab), chuẩn chủ quan (Subjective Norm - SN) và nhận thức kiểm soát (Perceived Behavioral Control - PBC).
PBC là một thành phần mới được mở rộng trong TPB, yếu tố này có thể mang đến những tác động trực tiếp tới diễn biến hành vi và kết hợp với những tác động gián tiếp được tạo ra bởi kế hoạch hành động của họ. PBC thể hiện mức độ dễ dàng hoặc khó khăn được cảm nhận của một người đối với một hành động (Ajzen & Fishbein, 2000) và SN thể hiện nhận thức của một người về áp lực xã hội hay niềm tin chung của mình với một nhóm người (Ajzen, 1991). Điều này có thể hiểu rằng việc nhìn nhận của cá nhân và cách xã hội cho là việc tham gia các khóa học trực tuyến đại chúng mở - MOOCs là cần thiết và có lợi sẽ tác động trực tiếp đến ý định sử dụng của cá nhân đó.2 Mô hình TAM Mô hình TAM (Technology Acceptance Model) là mô hình chấp nhận công nghệ được phát triển bởi Davis (1989) dựa trên thuyết Hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action, Fishbein & Ajzen, 1975) và thuyết hành vi có kế hoạch TPB Theory of Planned Behavior, Ajzen, 1991), liên quan đến dự đoán về khả năng chấp nhận của một hệ thống thông tin. Mô hình này được xác định bởi hai yếu tố chính: Nhận thức tính hữu ích (PU - Perceived usefulness) và Nhận thức dễ sử dụng (PEOU - Perceived ease of use).
Mô hình chấp nhận công nghệ cho rằng hành vi ảnh hưởng đến việc sử dụng hệ thống thông tin, mặt khác, hành vi được xác định bởi thái độ và nhận thức của người sử dụng về tiện ích của nó. Nhận thức hữu ích tác động trực tiếp đến việc chấp nhận sử dụng công nghệ.2: Mô hình chấp nhận công nghệ (Nguồn : Davis, 1989) 2.3 Mô hình UTAUT2 Mô hình UTAUT2 (Unified extended Theory of Acceptance and Use of Technology) hay có thể gọi là “Mô hình lý thuyết hợp nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ mở rộng” được xây dựng bởi Venkatesh và cộng sự (2012). Mô hình UTAUT2 cho thấy sự cải tiến và phát triển từ kết quả được tạo ra bởi mô hình nguyên thủy của lý thuyết hợp nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ - UTAUT (Venkatesh, Morris, Davis, 2003).