LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nƣớc ta đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm và định hƣớng phát triển trong từng giai đoạn. Sau hơn 20 năm chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, nƣớc ta đã đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng. Nền kinh tế có tốc độ tăng trƣởng cao và liên tục trong nhiều năm.
Mức sống của đại bộ phận dân cƣ đô thị và nông thôn đƣợc cải thiện rõ nét, bƣớc đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế để đầu tƣ cho phát triển. Những thành quả đạt đƣợc trong thời gian qua bắt nguồn từ những định hƣớng và chính sách phát triển kinh tế đúng đắn, hợp lý. Trong đó có việc xác định cơ cấu kinh tế hợp lý là nhân tố quan trọng trong tăng trƣởng và phát triển bền vững. Cơ cấu kinh tế không cố định mà thay đổi tùy theo từng giai đoạn và tuỳ vào không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh phát triển của mỗi quốc gia.
Đối với mỗi quốc gia, vùng, khu vực hay mỗi tỉnh điều cần thiết là xác định một cơ cấu kinh tế sao cho thật phù hợp với tiềm năng của quốc gia, vùng, khu vực hay mỗi tỉnh. Muốn nhƣ vậy cần phải xác định rõ mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế, các ngành kinh tế, các vùng lãnh thổ, giữa các thành phần kinh tế. Những mối quan hệ trên đƣợc xác lập chặc chẽ thể hiện cả số lƣợng và chất lƣợng. Nằm ở cửa ngỏ phía nam, tỉnh Kiên Giang trong những năm qua, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có những chuyển biến tích cực theo hƣớng công nghiệp hoá và hiện đại hóa.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề phát sinh gây khó khăn trong quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, nhƣ: xây dựng chiến lƣợc, vốn, đào tạo nguồn nhân lực và những vấn đề kinh tế - xã hội có liên quan. Nhƣ vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn hiện nay của tỉnh Kiên Giang. Việc xác định cơ cấu kinh tế nhƣ thế nào là hợp lý để tạo điều kiện cho tỉnh sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, phát huy các thế mạnh, đảm bảo đƣợc các mục tiêu trƣớc mắt và lâu dài. Đó là việc làm cấp thiết không những có ý nghĩa lý luận khoa học mà còn là đòi hỏi bức xúc của cuộc sống.
Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài: Qua quá trình tìm hiểu cho thấy, có nhiều tài liệu liên quan nghiên cứu đƣợc đề cập đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Kiên Giang. Phần lớn các nghiên cứu dƣới dạng các bài báo và các báo cáo ví dụ nhƣ: Dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kiên Giang đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 của Sở Kế Hoạch và Đầu Tƣ tỉnh Kiên Giang. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 tỉnh Kiên Giang của UBND tỉnh Kiên Giang. Nhƣ vậy các nghiên cứu này chỉ chú trọng đến công tác quy hoạch, chƣa đi sâu vào nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Để tìm hiểu sâu hơn về quá trình chuyển dịch này cũng nhƣ đề ra những giải pháp để khắc phục những tồn tại trong quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế đi đến thành công, tôi đã chọn đề tài: "PHƢƠNG HƢỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH TỈNH KIÊN GIANG ĐẾN NĂM 2020" làm luận văn tốt nghiệp. Mục tiêu của luận văn: a) Mục tiêu: Mục tiêu của đề tài là vạch ra các quan điểm và giải pháp đảm bảo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lý, hiệu quả trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh Kiên Giang. b) Nội dung: Khái quát hoá những vấn đề lý luận cơ bản về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nghiên cứu các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số nƣớc trong khu vực và việc vận dụng kinh nghiệm đó vào hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam. Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu các ngành các khu vực kinh tế tỉnh Kiên Giang.
Xác định quan điểm phƣơng hƣớng và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài: Đối tƣợng nghiên cứu: quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của ngành đồng thời nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành của tỉnh Kiên Giang. Về thời gian: giai đoạn 2001 – 2010 đánh giá thực trạng, từ đó nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành giai đoạn 2011 – 2020. Phạm vi nghiên cứu: về không gian địa bàn của tỉnh Kiên Giang.
Cơ sở lí luận, nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu: Cơ sở lý luận: những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các văn kiện của Đảng Cộng Sản Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nguồn tài liệu: kinh tế chính trị Mác - Lênin, Các văn kiện của Đảng Cộng Sản Việt Nam, các tƣ liệu của: Bộ Kế Hoạch Đầu Tƣ, UBND tỉnh Kiên Giang, Sở Kế Hoạch và Đầu Tƣ tỉnh Kiên Giang, …. Phƣơng pháp nghiên cứu: đề tài sử dụng phƣơng pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp phân tích hệ thống, phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp chuyên gia: tham dự các cuộc hội thảo, các báo cáo chuyên đề về tình hình kinh tế xã hội do UBND tỉnh tổ chức, tham khảo ý kiến của các chuyên gia lập quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang 2011-2020, tham khảo ý kiến của TS.
Đặng Công Huẩn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang,… 6. Đóng góp của luận văn: Tổng hợp một số vấn đề lý luận cơ bản về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Lần đầu tiên đánh giá toàn diện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Kiên Giang. Vạch ra các quan điểm cơ bản và các giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Kiên Giang.
Góp phần cung cấp có cơ sở, căn cứ trong việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho các cấp của địa phƣơng. 123doc 4 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ. CƠ CẤU KINH TẾ: 1. Khái niệm về cơ cấu kinh tế: Cơ cấu là gì: Cơ cấu được xem là một cấu trúc, một thành tố cơ bản, cái khung,.
gắn kết các thành phần trong một tổ chức hay các bộ phận lại với nhau, nó tạo cho các sự vật được vận động và phát triển một cách hoàn hảo Cơ cấu hay còn gọi là cấu trúc (structure) là một phạm trù triết học, dùng để chỉ cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ hợp thành của một hệ thống. Được hiểu như là một tập hợp những mối quan hệ hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định. Thuật ngữ cơ cấu được dùng nhiều trong các ngành khoa học: sinh vật, kinh tế, vật lý,. Cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế là tổng thể mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố và trong từng yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất với những điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể trong những giai đoạn phát triển nhất định.
Cơ cấu kinh tế bao gồm: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế. Cơ cấu kinh tế không chỉ được hiểu dưới gốc độ “toàn bộ nền kinh tế quốc dân” mà còn cả dưới gốc độ của địa phương, của ngành, mặc dù với phạm vi và cơ cấu khác nhau. Như vậy chúng ta thấy rằng cơ cấu kinh tế không chỉ là một phạm trù rộng lớn mà có thể hiểu là cơ cấu ở một cấp nhỏ hơn, như cơ cấu của một ngành nào đó: cơ cấu ngành nông nghiệp, ngành công nghiệp, ngành thủy sản, ngành thương mại,. Điều này bắt nguồn từ điều kiện tiềm năng và thế mạnh giữa các địa phương, các ngành có khác nhau.
Karl Marx cho rằng: "Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất". Mỗi chế độ khác nhau sẽ có những mối quan hệ khác nhau, cơ cấu kinh tế khác nhau và những mối quan hệ này cũng chỉ thích ứng với từng chế độ trong từng thời điểm 123doc 5 nhất định, vì vậy cần phải xác định một cơ cấu kinh tế cho phù hợp. Việc xác định đúng đắn cơ cấu kinh tế sẽ là động lực để thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và ngược lại sự hình thành cơ cấu kinh tế thường bị chi phối bởi các nhân tố như: Những nhân tố địa lý – tự nhiên (tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, nguồn nước, đất đai, khí hậu,. Những nhân tố về chính trị có ảnh hưởng rất quan trọng, có thể ảnh hưởng quyết định đến cơ cấu kinh tế và mỗi chính sách của mỗi thời kỳ sẽ có những tác động khác nhau đến việc hình thành cơ cấu kinh tế.
Những nhân tố xã hội bên trong đất nước, nhu cầu phát triển của con người quy định các dạng lao động hoạt động của con người cũng như kết quả những hoạt động đó. Nhu cầu, với tính cách là động cơ thúc đẩy bên trong của sản xuất là những tiền đề của cơ cấu kinh tế. Những nhân tố bên ngoài: đường lối đối ngoại, chính sách thâm nhập thị trường thế giới, phân công lao động quốc tế dưới nhiều hình thức sẽ gia tăng thích ứng và phù hợp về cơ cấu kinh tế của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế là vấn đề có tính chiến lược, vừa phản ánh chất lượng tăng trưởng kinh tế, vừa tạo điều kiện nâng cao tốc độ tăng trưởng vừa để phát huy lợi thế trong nước, vừa tranh thủ thời cơ hội nhập.
Cơ cấu kinh tế là cơ cấu quan trọng nhất, phổ biến nhất mà các quốc gia đều quan tâm. Đối với nước ta, một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi và hội nhập, thì sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế càng đặc biệt quan tâm.