CHƯƠNG 1 TONG QUAN TÀI LIEU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE SỰ THAM GIA CUA NGƯỜI DAN DIA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIEN DU LICH CONG DONG 1. Nghiên cứu về Du lich cộng đồng “Du lịch cộng đồng” (DLCD) là thuật ngữ được biết đến từ những năm 70 của thế kỷ XX và đã phát triển ở nhiều châu lục trên thế giới nhưng từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, DLCĐ mới thực sự được quan tâm và được đầu tư nghiên cứu [74]. Về mặt lý luận, có nhiều tác giả đã nghiên cứu và đưa ra các khái niệm, đặc điểm và các vấn đề liên quan đến DLCĐ. Sue Beeton (2006) với công trình “Community Development through Tourism” đã dua ra hệ thong lý thuyết cơ bản về du lịch và các vấn đề liên quan đến cộng đồng trong việc phát triển du lịch.
Vì vậy cuốn sách này được xem là tài liệu vô cùng cần thiết cho các nghiên cứu về DLCĐ. Tác giả đã phân tích, đánh giá sự phát triển của CDDP từ công tác quy hoạch cộng đồng, lập kế hoạch kinh doanh và quy hoạch du lịch. Từ đó, đưa ra những lý thuyết phù hợp nhất về du lịch và hoạt động kinh doanh nhằm chuyền từ khâu lập kế hoạch chiến lược sang trao quyên cho người dân đề họ tham gia vào hoạt động du lịch một cách thuận lợi [176]. Bùi Thị Hải Yến (2012) trong cuốn “Du lịch cong đông” [104] và Võ Qué (chủ biên, 2006) trong cuốn “Du lich cộng đồng - lý thuyết va vận dung 1” đều cùng hướng hệ thống hóa cơ sở lý luận về DLCD, đồng thời nghiên cứu mô hình phát triển ở một số quốc gia trên thế giới /67J.
Năm 2016 trong tài liệu “ASEAN Community Based Tourism Standard” đã đưa ra hệ thong các khái 22 niệm về DLCD, các tiêu chuẩn dé phát triển DLCĐ địa phương của các quốc gia, dân tộc trong khối ASEAN [110]. Trong những nghiên cứu ứng dụng thực tiễn, các công trình chủ yếu nghiên cứu về chiến lược, mô hình, quy trình quy hoạch, phát triển và khai thác DLCĐ từ các khía cạnh khác nhau. Điển hình như Tosun, C. Nhưng các tác giả cũng nhấn mạnh mô hình này không dùng dé thay thé cho phương thức lập kế hoạch theo kiểu truyền thống mà nên áp dụng trong một bối cảnh rộng hơn giúp các bước lập kế hoạch diễn ra một cách hợp lý, toàn diện.
Ngoài ra, các tác gia cũng khẳng định các nguyên tắc của mô hình sẽ đem lại hiệu quả hơn khi các thành viên trong cộng đồng được phép và được khuyến khích tham gia vào việc quy hoạch phát triển du lịch, hoạt động du lịch phát triển theo hướng tích cực [189]. Etsuko Okazaki (2008), Đại học Kobe, Nhật Bản (Kobe university) với tác phẩm “A Community-based Tourism Model: Its conception and Use” da dé xuất mô hình du lịch dựa vào cộng đồng trên cơ sở tổng hợp hệ thống lý luận cơ bản về cộng đồng, sự tham gia của cộng đồng, du lịch dựa vào cộng đồng. Đặc biệt tác giả đề cập đến lý thuyết “Von xã hội” trong nghiên cứu của mình và áp dụng mô hình lý thuyết vào tình huống thực tế ở Palawan, Philippine [128]. Năm 2013, một công trình mang tính ứng dụng hơn với Việt Nam là Community-based Tourism Standard Handbook (Thailand: REST project) của Suansri.
Đây là tài liệu hướng dẫn chuẩn dé phát triển DLCD cho các quốc gia ASEAN, trong đó, Thái Lan được chọn làm mô hình mẫu. Tài liệu này hướng dẫn chỉ tiết các bước thực hiện cho một địa phương 23 nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ, đáp ứng tiêu chuẩn phát triển bền vững và tăng khả năng tiếp cận thị trường trong phát triển du lịch có trách nhiệm [175]. Từ những bài học về xây dựng mô hình phát trién DLCĐ quốc tế, Việt Nam cũng có nhiều dé tài xây dựng mô hình phát triển DLCD ở những địa điểm cụ thé như “Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển DLCD tại chùa Hương — Ha Tây” của Võ Quế (2003) [62], “Nghiên cứu mô hình bảo vệ môi trường du lịch với sự tham gia của cộng dong góp phần phát triển du lịch bên vững trên đảo Cát Bà — Hải Phòng” của Phạm Trung Lương (2002) [50]. Trần Cảnh Đào (2005) với công trình nghiên cứu “Phát huy văn hóa truyền thống Churu và xây dựng làng văn hóa- du lịch tại xã Pró, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Dong” đã phân tích kỹ lưỡng giá tri tài nguyên du lịch văn hóa (vật thé và phi vat thé) gắn với đồng bào dân tộc Churu, từ đó đề xuất mô hình điểm làng văn hóa - du lịch tại xã Pró dựa trên giá trị văn hóa bản dia của đồng bào Churu //5/.
Nguyễn Thị Hường (2011) đã nghiên cứu “DLCĐ miễn núi phía Bắc Việt Nam” (nghiên cứu trường hợp bản Sả Séng, Tả Phin, Sapa, Lào Cai và bản Lác, Chiéng Châu, Mai Châu, Hòa Bình). Tác giả nhân mạnh giá tri văn hóa tộc người trong việc khai thác du lịch, tác động của DLCD đối với hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường tại hai địa phương đồng thời phân tích rõ phản ứng và sự thích ứng của người dân địa phương trước trào lưu phát triển DLCD [38]. Ngoài ra, nghiên cứu nhận thức con người trong phát triển DLCD cũng là một xu hướng tiêu biêu. Điển hình như công trình “Perception and Attitudes of Decision Making Groups in Tourism Centers” của Murphy (1983) nghiên cứu thái độ va nhận thức giữa ba nhóm liên quan gồm kinh doanh, quản ly nhà nước và người dân địa phương, từ đó cân bằng các yếu tố dé đi đến thỏa hiệp về quy hoạch phát triển du lịch trong tương lai [152].
Cùng hướng nghiên cứu, Jamal, T. Claiborne đã đề cập đến vai trò của “von xã hội” trong cộng đồng ở nghiên cứu “Community participation in tourism development and the value of social capital”. Nghiên cứu đã chi ra vốn xã hội trong cộng đồng chính là nhận thức, hiểu biết về du lịch, sự tình nguyện, hợp tác và các sáng kiến tham gia vào các dự án phát triển du lịch tại địa phương //20]. Đáng lưu ý là công trình “Local Residents’ Perceptions of Tourism Impacts and Their Support for Tourim Development: the Case of Ha Long Bay, Quang Ninh, Viet Nam” của Pham Hồng Long (2012) dựa trên Thuyết Trao đổi xã hội dé giải thích và xây dựng mô hình về nhận thức va thái độ của CDDP đối với việc phát triển du lịch, từ đó khăng định nhận thức của người dân về tác động của du lịch và thái độ của họ đối với phát triển du lịch.
Đây cũng là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch [48]. Nghiên cứu về những tác động của hoạt động du lịch và lợi ich của DLCD mang lại có công trình cua Shalini Singh, Dallen J. Ngoài ra còn có một số tài liệu của một số quốc gia khác cũng nghiên cứu về dé tài này, như tác phẩm “Effectives Community Based Tourism” tài liệu hướng dẫn của APEC năm 2010 đã trình bày lợi ích của DLCĐ mang lại, cách thức xây dựng sản phẩm DLCĐ [107]. Bên cạnh đó, một số luận văn thạc sĩ tường ĐH KHXH&NV, DHQGHN đã nghiên cứu về DLCĐ ở một số điểm đến du lịch của Việt Nam như: Nguyễn Thị Thu Nhàn (2010) “phát triển du lịch gắn với cộng đồng dân tộc thiểu số ở Sapa theo hướng phát triển bên vững”, Vũ Văn Cường (2012), “Nghiên cứu phát triển DLCD tại khu bảo tôn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa”, Phạm Thị Hồng Quyên (2013) “Nghiên cứu phát triển DLCĐ ở khu du lịch sinh thái Vân Long”, Hoàng 25 Thị Thanh Tâm (2013) “Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại xã Lát, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đông, Nguyễn Thị Mai (2013), “Phát triển DLCĐ ở huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lak” , Phạm Xuân An (2014) “Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng dong tại Cà Lao Ông Hồ - An Giang”, Huỳnh Ngọc Phương (2014) “Nghiên cứu phát triển DLCĐ tại các làng nghề truyền thống ở thành phố Nha Trang”, Nguyễn Thị Phương Lan (2015) “Nghiên cứu phát triển DLCĐ ở khu bảo ton thiên nhiên Khe Ro”, Vũ Đức Cường (2015) “Phát triển DLCĐ ở khu vực vườn Quốc Gia Cát Tiên — tỉnh Đồng Nai, Lê Thi Thảo Xuân (2016) ) “Phát triển DLCĐ ở xã Ba Vì - huyện Ba Vì - Hà Nội”, Nguyễn Thị Thanh Kiều (2016) “Nghiên cứu phát triển DLCĐ tại huyện Don Dương, tỉnh Lâm Đồng”, Nguyễn Thị Huyền Trang (2018) “Nghiên cứu chuỗi cung ứng DLCPĐ tại xã Ba Vi, huyện Ba Vi, Hà Nội”, Bùi Thị Ngọc Dung (2020) “Nghiên cứu phát triển DLCĐ ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa”, Dương Thúy Quỳnh (2021) “Nghiên cứu phát triển DLCĐ tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh”.
Các nghiên cứu này đã đánh giá khả năng phát triển của DLCD tại địa phương dựa trên các điều kiện phát triển và sự tham gia của CĐĐP vào hoạt động du lịch. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về DLCD và phát triển du lịch dựa vào cộng đồng đều được nghiên cứu và phân tích từ rất lâu. Những công trình nghiên cứu này tương đối đa dạng ở nhiều góc độ và cũng đã có nhiều kết quả đáng ghi nhận. Về mặt nội hàm, hầu hết các công trình này đã đưa ra nhiều kết luận quan trọng từ lý thuyết đến thực tiễn, chủ yếu hướng vào nhóm cộng đồng yếu thế của điểm đến với sức hấp dẫn lớn về giá trị tài nguyên du lịch.
Các đề tài nghiên cứu đã chỉ ra điểm thuận lợi cũng như khó khăn trong phát triển DLCĐ thông qua việc nghiên cứu, đánh giá tài nguyên du lịch của điểm đến gắn với yếu tố CDDP; nghiên cứu tác động nhận thức, thái độ của cộng đồng đối với việc phát triển du lịch; nghiên cứu những rào cản của CDDP trong phát tiền DLCD hoặc nghiên cứu sự tham gia của CĐĐP vào hoạt động du lịch tại các điểm du lịch sở tại. Nghiên cứu về sự tham gia của người dân địa phương vào hoạt động du lịch Sự tham gia của NDĐP đã được nghiên cứu bởi nhiều học giả trong nước và nước ngoài. Nghiên cứu về nhận thức và mối quan hệ giữa các bên liên quan về sự tham gia của cộng đồng điển hình là “Community-based Tourism: Local Participation and Perceived Impacts, a Comparative Study between two Communities in Thailand” của Liedewij van Breugel (2013) đã tập trung sâu hơn về sự tham gia của cộng đồng vào dự án du lịch, phân tích mối quan hệ giữa sự tham gia với sự hài lòng của cộng đồng thông qua kết quả hoạt động du lịch trong đó nghiên cứu điển hình là cộng đồng Mae La Na va Koh Yao Noi ở Thái Lan [146]. (2011) trong “Sense of Community and participation for tourism development.
Life Science Journal” lại nhân mạnh đến méi quan hệ giữa ý thức cộng đồng và mức độ tham gia vào hoạt động du lịch.