Chương I: Cơ sở lý thuyết về sự hài lòng của nhân viên Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách 5. Tổng quan tài liệu Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã đọc, tham khảo rất nhiều công trình nghiên cứu, sách báo tài liệu và các ấn phẩm do các tác giả trong và ngoài nước công bố có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận văn. Sau đây là một số công trình cảm thấy là tiêu biểu: * Các tài liệu nghiên cứu nước ngoài: - Smith, PC, LM Kendall, & CL Hulin. (1969), “The Measurement of Satisfaction in Work and Retirement”.
Noi dén cdc nghién ctu lién quan đến sự hài lòng công việc không thé không đề cập đến nghiên cứu của Smith, Kendall và Hulin (1969) của trường Đại học Cornell. Nghiên cứu đã xây dựng các chỉ số mô tả công việc JDI (Job Descriptive Index) để đánh gi mức độ hài lòng đối với công việc của một người thông qua các nhân tổ là (1) Bản chất công việc, (2) Đào tạo thăng tiến, (3) Lãnh đạo, (4) Đồng nghiệp, (5) Tiền lương. Thang đo mô tả công việc JDI là một trong những thang đo có giá trị và độ tin cậy được đánh giá cao trong lý thuyết lẫn thực tiễn. Về cơ bản mô.
hình của Smith gồm 5 nhân tố va 72 chi báo để đánh giá mức độ hài lòng công việc. Sau nay, Crossman va Bassem (2003) đã bổ sung thêm hai thành phần nữa, đó là phúc lợi và môi trường làm việc. Nhược điểm của JDI là không có thang đo tổng thể sự hài lòng. - Mosammod Mahamuda Parvin (2011), “Đánh giá sự hài lòng của nhân viên trong các công ty dược phẩm”.
Tác giả đã cỗ gắng đê đánh giá sự hài lòng công việc của nhân viên trong các công ty dược phẩm khác nhau. Nghiên cứu tập trung vào tầm quan trọng tương đối của các yếu tố: điều kiện làm việc, tiền lương và thăng tiến, công bằng, công việc an toàn, mi quan hệ với đồng nghiệp, mối quan hệ với cấp trên ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc và tác động của chúng vào việc làm hài lòng tông thể của người lao động. Đồng thời nghiên cứu cũng điều tra tác động của kinh nghiệm làm việc, tuổi tác, và sự khác biệt giới tính đến với sự hài lòng công việc. Trong phan tong quan nghiên cứu của mình, ông đã trích dẫn định nghĩa về sự hài lòng theo 2 hướng là sự hài lòng với các công việc nói chung, và sự hài lòng với các thành phần công việc.
Dựa trên các kết quả cho các giá trị tiêu chuẩi đã chứng minh rằng điều kiện làm việc, công bằng, tiền lương và thăng, là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên các công ty dược phẩm.Job Satisfuction fueiors among. faculty in physician assistant education, Eastern Michigan University”. Boeve đã tiến hành cuộc nghiên cứu sự thỏa mãn công việc của các giảng viên khoa đào tạo trợ lý bác sỹ ở các trường y tại Mỹ trên cơ sở sử dụng lý thuyết hai nhân tố của Herzberg va chỉ số mô tả công việc JDI của Smith, Kendall & Hulin Theo đó, nhân tố sự thỏa mãn công việc được chia làm hai nhóm: nhóm nhân tố bên trong (bản chất công việc và cơ hội phát thăng tiến) và nhóm nhân tố bên ngoài (lương, sự hỗ trợ của cấp trên và mói quan hệ với đồng nghiệp). Mục đích của nghiên cứu này cũng nhằm là hỗ trợ và nâng cao cho cả hai lý thuyết trên.
Kết quả phân tích tương quan của 5 nhân tổ trong JDI đối với sự thỏa mãn công việc nói chung đã cho thấy nhân tó công việc, mối quan hệ với đồng nghiệp và cơ hội phát triển là có tương quan mạnh nhất với sự thỏa mãn công việc trong khi sự hỗ trợ của cấp trên và lương bồng có tương quan yếu đối với sự thỏa mãn công việc của các giảng viên. Trong các nhân tố ảnh hưởng được xét trong nghiên cứu này thì nhân tố công việc là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến sự thỏa mãn công việc nói chung. * Các tài liệu nghiên cứu trong nước: - Trần Kim Dung (2005), “Đo lường mức độ thỏa mãn đổi với công việc trong điều kiện của Việt Nam” - Tạp chí Phát triển Khoa học Công Nghệ. ĐH Quốc gia Tp.
Trần Kim Dung (2005) đã thực hiện nghiên cứu đo lường mức độ hài lòng công việc trong điều kiện của Việt Nam bang cach sir dung Chỉ số mô tả công việc (JDI) của Smith và đồng nghiệp. Tuy nhiên, ngoài 5 nhân tố được đề nghị trong JDI, tác giả đã đưa thêm 2 nhân tố nữa là “phúc lợi” và “điều kiện làm việc” để phù hợp với tình hình Việt Nam. Sau khi kiểm định, còn lại 4 yếu tố làm nhân viên hài lòng với công việc bao gồm: tiền lương, đồng nghiệp, lãnh đạo và cơ hội thăng tiến. Nhóm tác giả đã khảo sát 558 nhân viên đang làm việc toàn thời gian và kết quả cho thấy mức độ hài lòng về tiền lương có quan hệ âm với mức độ nỗ lực, có gắng của nhân viên.
- Nguyên Thị Thu Hằng và Nguyễn Khánh Trang (2013) “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng và lòng trung thành của giảng viên, viên chức. tại các trường đại học, cao đẳng ở Lâm Đồng” (Tạp chí phát triển KH&CN, tập 16, số Q3- 2013) có mục đích xác định các yếu tố ảnh hưởng. đến sự hài lòng và lòng trung thành của giảng viên, viên chức tại các trường, đại học và cao đăng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức dựa trên kết quả khảo sát từ 249 mẫu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng là đào tạo và phát triển, điều kiện làm việc và quan hệ với cấp trên. Yếu tố đào tạo và phát triển có ảnh hưởng lớn nhất đến sự hài lòng. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự hài lòng có mối quan hệ tuyến tính đương với lòng trung thành - Trần Xuân Thạnh (2013) “Nghiên cứu sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên tại Tổng công ty Pisico Bình Định” (Tạp chí Khoa học Trường đại học An Giang, số 5- 2015, trang 113-120). Trong Nghiên cứu này tác giả xác định những nhân tố tác động đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên tại Tổng Công ty Pisico Bình Định.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 nhóm nhân tố tác động đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên bao gồm: đồng nghiệp, thu nhập, cơ hội đào tạo và thăng tiến, phúc lợi, cấp trên và đặc điểm công việc. Các nhóm nhân tố này được đo lường thông qua 23 biến quan sát. Sau khi phân tích mô hình hồi quy đa biến, kết quả nghiên cứu cho thấy đồng, nghiệp, thu nhập, cơ hội đào tạo và thăng tiến, cấp trên là bốn nhân tố có tác động lớn nhất đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên tại Pisico. - Trần Minh Hiếu (2013) “Sự hài lòng của nhân viên trong giảng dạy và nghiên cứu tại Trường Đại học An Giang” (Tạp chí khoa học Đại học An Giang, số 1, trang 91-100).
Nghiên cứu này chỉ ra sự hài lòng của giảng viên trong giảng dạy và nghiên cứu tại Trường Đại học An Giang chịu ảnh hưởng bởi năm yếu tố (1) Lương và các khoản phúc lợi, (2) Sự lãnh đạo của cấp trên, (3) Mối quan hệ với đồng nghiệp, (4) Điều kiện môi trường làm việc và (5) Đặc điểm tính chất công việc. Đồng thời, nghiên cứu cũng đo lường mức độ tác động của từng yếu tố đến sự hài lòng của giảng viên. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có đến 60,3% mức độ hài lòng của giảng viên được giải thích bởi các các yếu tố nêu trên Tóm lại, ta có thể nhận thấy, mặc dù mô hình JDI của Smith et al tuy chưa khái quát hết các yếu ảnh hưởng đến sự hài lòng và không có thang tổng thể, nhưng trên cơ sở mô hình này, đã có rất nhiều nghiên cứu cho các kết quả được đánh giá cao về gi trị và độ tin cậy. Tại Việt Nam, mô hình JDI cũng có không ít tác giả sử dụng làm cơ sở cho công tác nghiên cứu sự hài lòng của nhân viên, với các đề tài của Trần Thị Kim Dung (2005), Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Khánh Trang (2013), Trần Xuân Thạnh (2013).Tuy nhiên, sau khi điểm qua các nghiên cứu về sự hài lòng công việc ở các lĩnh vực các lĩnh vực khác nhau tại Việt Nam, tác giả thấy mô hình nghiên cứu AJDI của Trần Kim Dung (2005) có giá trị và độ tin cậy cần thiết.
Mô hình này phù hợp việc thực hiện đo lường mức độ hài lòng của nhân viên đối với công việc tại Việt Nam. Đây sẽ là gợi ý để tác giả lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp với điều kiện Công ty. CHUONG 1 CO SO LY THUYET VE SU HAI LONG CUA NHÂN VIÊN 1. KHÁI NIỆM VỀ SỰ HÀI LÕNG CUA NHAN VIÊN 1.
Định nghĩa sự hài lòng của nhân viên Khái niệm về sự hài lòng lần đầu tiên được phát triển từ các nghiên cứu Hawthome trong những năm cuối thập niêm 1920 và đầu thập niên 1930 của Elion Mayo tại nhà máy Hawthome của Công ty Western Electric tai Chicago. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng cảm xúc của người lao. động có thể ảnh hưởng đến hành vi làm việc của họ. Các mối quan hệ xã hội và các yếu tố tâm lý là nguyên nhân chính dẫn đến sự hài lòng cũng như năng.
suất của người lao động (Robbins, 2002) Định nghĩa của Robert Hoppock (1935) là một trong những định nghĩa sớm nhất và hiện nay vẫn được trích dẫn nhiều nhất về sự hài lòng. Theo định nghĩa này, sự hài lòng là sự kết hợp bắt kỳ của các tình huống tâm lý, sinh lý hay môi trường khiến cho người lao động thực sự muốn nói “Tôi hài lòng với công việc của mình”. Locke (1968) lai miêu tả sự hài lòng như là một phản ứng cảm xúc thu được khi người lao động nhận được toàn bộ những điều họ cần và những điều mà họ tin rằng công ty sẽ cung cấp.