Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch Việt Nam đạt mức tăng trưởng ấn tượng với tỷ trọng đóng góp khoảng 6,6% vào GDP cả nước tính đến đầu năm 2016. Là trung tâm văn hóa và chính trị hàng đầu, Thủ đô Hà Nội đã đón gần 4 triệu lượt khách quốc tế và 13,5 triệu lượt khách nội địa trong năm 2016, chiếm xấp xỉ 33,3% tổng dung lượng thị trường du lịch toàn quốc. Mặc dù từng được trang thông tin uy tín quốc tế TripAdvisor vinh danh trong top 10 điểm đến hấp dẫn thế giới vào năm 2014, thực tiễn phát triển du lịch tại Hà Nội vẫn đối mặt với nhiều rào cản nghiêm trọng.

Báo cáo khảo sát của ngành du lịch cho thấy hơn 40% lượng du khách quốc tế sau khi đáp chuyến bay xuống sân bay Nội Bài chỉ lưu trú ngắn ngày hoặc di chuyển ngay sang các địa phương lân cận. Vấn nạn chèo kéo, ép giá, hạ tầng dịch vụ công cộng thiếu đồng bộ và chất lượng phục vụ chưa chuẩn hóa đang làm suy giảm hình ảnh điểm đến. Xuất phát từ thực trạng đó, đề tài tập trung làm rõ các nhân tố cấu thành chất lượng dịch vụ điểm đến và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới sự hài lòng của du khách nước ngoài.

Phạm vi không gian nghiên cứu được thực hiện tại 4 điểm tham quan tiêu biểu trong nội thành Hà Nội gồm Hồ Gươm, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hoàng thành Thăng Long và Chùa Một Cột. Khung thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp kéo dài từ năm 2014 đến năm 2016, kết hợp dữ liệu sơ cấp điều tra trong Quý 3 năm 2016. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý nâng cao chỉ số giữ chân du khách, gia tăng mức chi tiêu bình quân và tối ưu hóa năng lực cạnh tranh của du lịch Thủ đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của hai lý thuyết nền tảng trong quản trị chất lượng dịch vụ và hành vi người tiêu dùng. Đầu tiên là mô hình HOLSAT do Tribe và Snaith phát triển năm 1998, chuyên biệt hóa cho việc đo lường mức độ thỏa mãn của du khách tại các điểm đến thông qua việc so sánh cảm nhận thực tế với kỳ vọng trước chuyến đi trên cả hai chiều tích cực và tiêu cực. Tiếp đó, nghiên cứu kế thừa mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ SERVQUAL của Parasuraman công bố năm 1988 với 5 thành phần gốc gồm sự tin cậy, mức độ đáp ứng, năng lực phục vụ, sự đồng cảm và phương tiện hữu hình, kết hợp biến thể SERVPERF của Cronin và Taylor năm 1992.

Ngoài ra, luận văn tham chiếu cấu trúc chỉ số hài lòng khách hàng Hoa Kỳ ACSI năm 1994 và chỉ số hài lòng Châu Âu ECSI nhằm xác định mối quan hệ nhân quả giữa kỳ vọng, chất lượng cảm nhận và lòng trung thành thương hiệu. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa gồm: sự hài lòng của khách hàng theo định nghĩa của Kotler năm 2001 và Oliver năm 1997, chất lượng dịch vụ cảm nhận và điểm đến du lịch nội đô. Mô hình hiệu chỉnh cuối cùng bao quát 6 nhóm thuộc tính: tài nguyên thiên nhiên và điều kiện vật chất, môi trường tự nhiên và xã hội, dịch vụ ăn uống - giải trí - mua sắm, di sản và văn hóa, dịch vụ chuyển đổi ngoại tệ, và cơ sở lưu trú.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu triển khai quy trình kết hợp phương pháp định tính và định lượng qua 2 giai đoạn chặt chẽ:

Giai đoạn định tính sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu với 5 chuyên gia quản lý du lịch và đại diện ban quản lý di tích tại Hà Nội. Mục đích của bước này nhằm điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát từ mô hình HOLSAT gốc cho phù hợp với bối cảnh thực địa, sàng lọc thành công bảng câu hỏi gồm 28 biến quan sát đặc trưng.

Giai đoạn định lượng thực hiện thông qua điều tra bảng hỏi trực tiếp với quy mô mẫu n = 275 du khách quốc tế được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất tại 4 điểm đến nội thành trong Quý 3 năm 2016. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê gồm kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy tuyến tính bội trên phần mềm SPSS là vì công cụ này cho phép kiểm tra tính đơn hướng, loại bỏ các biến có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,30, đồng thời xác định chính xác trọng số tác động của từng nhân tố độc lập lên biến phụ thuộc sự hài lòng tổng thể.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu từ 275 mẫu hợp lệ mang lại những phát hiện quan trọng về mức độ thỏa mãn của khách quốc tế:

Thứ nhất, kiểm định Cronbach's Alpha cho thấy toàn bộ 6 nhóm thang đo đều đạt độ tin cậy cao với hệ số nhất quán nội bộ dao động từ 0,72 đến 0,86, không có biến quan sát nào bị loại. Phân tích EFA trích xuất được 6 nhân tố giải thích trên 60% tổng phương sai của mẫu dữ liệu.

Thứ hai, nhóm nhân tố Môi trường tự nhiên và an ninh trật tự có hệ số hồi quy chuẩn hóa cao nhất, đạt giá trị beta xấp xỉ 0,28 với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05. Điều này khẳng định không gian cảnh quan sạch sẽ, không khí trong lành và an toàn xã hội là trụ cột quyết định trải nghiệm của du khách.

Thứ ba, nhóm nhân tố Di sản và văn hóa cùng Dịch vụ ẩm thực - giải trí đạt điểm số cảm nhận trung bình cao nhất, lần lượt là 3,85 và 3,72 trên thang đo Likert 5 điểm. Du khách quốc tế đánh giá cao giá trị kiến trúc nghìn năm văn hiến và tính độc đáo của ẩm thực đường phố Hà Nội.

Thứ tư, nhóm nhân tố Dịch vụ chuyển đổi ngoại tệ và Điều kiện vệ sinh công cộng ghi nhận mức điểm cảm nhận thấp nhất, chỉ đạt khoảng 2,65 điểm, tạo ra mức chênh lệch âm từ 15% đến 20% so với mức kỳ vọng ban đầu của du khách.

Thảo luận kết quả

Khi mô tả dữ liệu trên ma trận tọa độ HOLSAT hai chiều với trục hoành là cảm nhận thực tế và trục tung là mức độ kỳ vọng, đường phân giác 45 độ phân tách rõ ràng các nhóm thuộc tính vào hai khu vực: khu vực thỏa mãn và khu vực thất vọng.

Các thuộc tính về cảnh quan Hồ Gươm, không khí trang nghiêm tại Lăng Bác và giá trị lịch sử của Hoàng thành Thăng Long nằm sâu trong khu vực thỏa mãn, nơi trải nghiệm thực tế vượt xa kỳ vọng từ 10% đến 15%. Ngược lại, các biến quan sát liên quan đến tình trạng chèo kéo người mua, mật độ giao thông hỗn loạn và thiếu nhà vệ sinh đạt chuẩn rơi vào khu vực mất điểm, tương ứng với vị trí nằm dưới đường phân giác.

Kết quả này có sự tương đồng sâu sắc với nghiên cứu của Võ Thị Cẩm Nga năm 2014 tại Hội An với cỡ mẫu 425 du khách, cũng như công trình của Đặng Thị Minh Anh năm 2012 tại Nha Trang với cỡ mẫu 180 khách, khi đều chỉ ra rằng môi trường xã hội và hạ tầng công cộng là yếu tố dễ gây bức xúc nhất. So sánh với nghiên cứu của Alexandr Vetitnev năm 2013 tại Nga với 1.100 mẫu, sự bất cập trong hệ thống thanh toán và dịch vụ y tế luôn là điểm nghẽn hạn chế ý định quay trở lại của du khách quốc tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao sự hài lòng của du khách quốc tế:

Thứ nhất, quy hoạch đồng bộ không gian thương mại và chuẩn hóa sản phẩm lưu niệm. Ban quản lý di tích phối hợp với Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm và Ba Đình thiết lập mạng lưới 100% quầy hàng đặc sản niêm yết giá công khai, loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ép giá xung quanh khu vực Hồ Gươm và Chùa Một Cột, hoàn thành mục tiêu trong thời gian 6 tháng.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng môi trường và bảo đảm trật tự an ninh du lịch. Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Công an Thành phố Hà Nội cần triển khai lắp đặt bổ sung 20 nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn 3 sao du lịch tại 4 khu vực di tích trọng điểm, đồng thời thành lập đội tuần tra liên ngành xử lý 100% tình trạng bán hàng rong chèo kéo trước quý 2 năm 2018.

Thứ ba, mở rộng mạng lưới tiện ích tài chính và thanh toán quốc tế. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội phối hợp với các ngân hàng thương mại bố trí tối thiểu 15 điểm đổi ngoại tệ tự động và máy rút tiền ATM chấp nhận thẻ quốc tế quanh khu phố cổ và Hoàng thành Thăng Long trong lộ trình 9 tháng.

Thứ tư, kiểm định và phân hạng chất lượng chuỗi cung ứng dịch vụ ẩm thực, lưu trú. Hiệp hội Du lịch Hà Nội và Sở Du lịch cần ban hành bộ tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm chuyên biệt cho các cơ sở phục vụ khách quốc tế, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ hài lòng chung của du khách lên trên 85% vào giai đoạn 2018-2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch như Sở Du lịch Hà Nội và Cục Du lịch Quốc gia. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm để hoạch định chiến lược quảng bá hình ảnh điểm đến, ban hành các chính sách kiểm soát thị trường và tối ưu hóa hạ tầng đô thị.

Nhóm thứ hai là Ban quản lý tại các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh như Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long hay Ban Quản lý Lăng Bác. Cán bộ quản lý có thể sử dụng trực tiếp mô hình HOLSAT để đánh giá định kỳ mức độ đáp ứng dịch vụ và điều chỉnh quy trình đón tiếp khách quốc tế.

Nhóm thứ ba là các doanh nghiệp lữ hành, công ty tổ chức tour inbound và cơ sở kinh doanh dịch vụ phụ trợ. Nghiên cứu giúp các giám đốc điều hành nhận diện chính xác kỳ vọng của từng phân khúc khách du lịch nước ngoài, từ đó hoàn thiện thiết kế tour và nâng cao kỹ năng ứng xử cho đội ngũ hướng dẫn viên.

Nhóm thứ tư là các giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình kết hợp mô hình định tính và định lượng trong phân tích hành vi khách hàng.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình HOLSAT mang lại lợi thế vượt trội gì so với các mô hình đo lường sự hài lòng truyền thống? Mô hình HOLSAT được thiết kế đặc thù cho ngành du lịch, cho phép đo lường đồng thời cả hai thái cực thuộc tính tích cực và tiêu cực. Thay vì chỉ đánh giá một dịch vụ đơn lẻ, công cụ này so sánh trực tiếp khoảng cách giữa kỳ vọng trước chuyến đi và trải nghiệm thực tế tại điểm đến trên hệ tọa độ trực quan.

Quy mô mẫu 275 du khách quốc tế có bảo đảm tính đại diện khoa học cho nghiên cứu không? Cỡ mẫu 275 hoàn toàn thỏa mãn các tiêu chuẩn thống kê trong nghiên cứu hàn lâm. Theo quy tắc phân tích nhân tố khám phá EFA, số lượng quan sát tối thiểu cần gấp 5 lần số biến quan sát; với 28 biến trong mô hình, kích thước mẫu tối thiểu là 140, do đó mức 275 mẫu bảo đảm độ tin cậy và tính khái quát hóa cao.

Yếu tố nào gây ra sự thất vọng lớn nhất cho du khách nước ngoài khi đến Hà Nội? Dữ liệu khảo sát chỉ ra rằng hạ tầng vệ sinh công cộng yếu kém và dịch vụ đổi ngoại tệ thiếu thuận tiện là hai rào cản lớn nhất. Điểm số cảm nhận của hai tiêu chí này chỉ đạt mức trung bình 2,65 trên 5 điểm, thấp hơn đáng kể so với kỳ vọng ban đầu của du khách.

Làm thế nào để nhà quản lý nhận diện nhanh chóng các thuộc tính cần ưu tiên cải thiện? Nhà quản lý có thể đối chiếu các chỉ số lên ma trận HOLSAT. Mọi biến quan sát rơi vào vùng nằm phía dưới đường chéo phân giác 45 độ đều thể hiện tình trạng trải nghiệm thực tế kém hơn kỳ vọng, là những điểm nghẽn cần tập trung nguồn lực tài chính và nhân sự xử lý ngay.

Kết quả nghiên cứu này có thể áp dụng cho các điểm đến du lịch khác ngoài Hà Nội không? Khung nghiên cứu và bộ 28 biến quan sát có tính linh hoạt cao, hoàn toàn có thể hiệu chỉnh để áp dụng tại các đô thị du lịch văn hóa khác như Huế, Hội An hay Đà Lạt. Các nhà nghiên cứu chỉ cần điều chỉnh một số biến đặc thù cho phù hợp với tài nguyên bản địa.

Kết luận

Nghiên cứu đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu khoa học và thực tiễn đề ra thông qua các đóng góp nổi bật:

  • Hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về chất lượng dịch vụ điểm đến và chuẩn hóa thang đo HOLSAT gồm 28 biến quan sát phù hợp thực tế Hà Nội.
  • Lượng hóa chính xác tác động tích cực của 6 nhóm nhân tố tới sự hài lòng của du khách quốc tế trên mẫu khảo sát 275 khách du lịch.
  • Xác định nhóm Môi trường và An ninh trật tự là nhân tố giữ vai trò chi phối mạnh mẽ nhất với hệ số chuẩn hóa beta xấp xỉ 0,28.
  • Cung cấp ma trận chẩn đoán điểm nghẽn thực tế tại 4 điểm đến trọng điểm nội thành gồm Hồ Gươm, Lăng Bác, Hoàng thành Thăng Long và Chùa Một Cột.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể gắn liền với lộ trình triển khai từ 6 đến 12 tháng cho các cơ quan hữu quan.

Để duy trì đà tăng trưởng bền vững và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch quốc gia, các cơ quan ban ngành cần sớm áp dụng các kiến nghị này vào thực tiễn quản lý điểm đến ngay từ quý tiếp theo.