Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ RỪNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC 1. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong phát triển nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc 1. Những nghiên cứu trên thế giới 1. Về tài nguyên thiên nhiên Vấn đề sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên trong hoạt động sản xuất, đặc biệt là trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, đảm bảo cho sản xuất phát triển bền vững đã được các nhà khoa học nghiên cứu từ lâu đời, trong đó nổi bật có các tác giả.
Robert Goodland, George Ledec trong công trình nghiên cứu Neoclasical economics and Principles of sustainable Development, Elsevier B.V, USA-1987, đã nghiên cứu về chuyển đổi các mô hình KT-XH từ chủ yếu dựa vào việc khai thác và sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên sang mô hình kinh tế xã hội phát triển bền vững. Theo ông phát triển KT-XH bền vững thì trước hết phải có các biện pháp tối ưu về khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì chỉ có như vậy mới vừa bảo đảm đáp ứng được sự phát triển hiện tại của xã hội loài người, lại vừa tạo ra được cơ sở phát triển cho các thế hệ tương lai [104]. Theo Frank Ellis trong cuốn “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển”, ông đã phân tích khá đầy đủ những mặt tích cực cũng như những mặt còn hạn chế trong chính sách phát triển nông nghiệp của các nước này. Đặc biệt ông đã tập trung phân tích khá sâu về những mặt còn hạn chế.
Theo Frank Ellis, do mong muốn phát triển và nhanh chóng nâng cao mức sống của người dân, nhất là đảm bảo tốt vấn đề an ninh lương thực và thực phẩm, các nước đang phát triển hay vấp phải sai lầm là khai thác một cách quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng quá mức gấp nhiều lần cho phép các loại phân hoá học, các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh và dịch bệnh, các loại hoá chất kích thích tăng trưởng cây trồng, các loại tăng trọng cho gia súc gia cần, cũng như bảo quản các loại nông sản đã sản xuất ra. Hậu quả tất yếu là các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, môi trường sinh thái và môi trường sống của con người bị huỷ hoại.Từ thực tế đó, Frank Ellis khuyến nghị các nước đang phát triển nên nhanh chóng điều chỉnh lại chính sách phát triển nông nghiệp, trong đó quan trọng nhất là chính sách sử dụng hợp lí các tài nguyên nông nghiệp để phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững [25]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 14 Đồng quan điểm với Frank Ellis, Ernst Lutz cũng đã đưa ra khuyến cáo với các quốc gia, nhất là đối với các quốc gia đang phát triển rằng: “Trong quá trình phát triển KT-XH ở khu vực nông thôn, phải đặc biệt coi trọng việc gắn kết hài hoà giữa phát triển sản xuất với gìn giữ và bảo vệ môi trường, nhất là môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí và môi trường rừng. Các quốc gia chỉ có thể đạt được sự thành công trong phát triển KT-XH ở khu vực nông thôn khi và chỉ khi đi theo hướng phát triển bền vững” [108].
Liên quan đến vấn đề này, Sudhir Anand và Amartya Sen (1996) cũng đã khảng định rằng: Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong hoạt động sản xuất, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp là nền tảng cho phát triển bền vững và nâng cao chất lượng môi trường sống. Để bảo đảm phát triển bền vững các NCS cũng đã đưa ra nhiều điều cần lưu ý, trong đó đáng quan tâm là: Sử dụng hợp lý đất vùng, bảo về rừng và nguồn tài nguyên nước, tiết kiệm năng lượng và giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội [106]. Hay theo, Mankin (1998) nói một cách khác, sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động thực vật để không bị suy thoái môi trường, sử dụng kĩ thuận thích hợp, tạo sinh lợi về kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội và môi trường. Về phát triển nông nghiệp Nền kinh tế của các nước trên thế giới đều đi lên từ nông nghiệp, hoặc nông nghiệp có vị trí đặc biệt đối với sự phát triển của một quốc gia nào đó, vì thế đã có không ít các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến luận án và các nghiên cứu này sẽ là những tài liệu bổ ích cho nghiên cứu của luận án và gợi mở những bài học kinh nghiệm quý giá đối với Việt Nam.
Ngân hàng thế giới với tài liệu báo cáo "Tăng cường nông nghiệp cho phát triển" [44] đã nêu bật nông nghiệp là công cụ phát triển sống còn để đạt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Báo cáo có độ dài hơn 500 trang, nội dung thể hiện 3 vấn đề chính, đó là: Nông nghiệp có thể làm gì để góp phần vào phát triển; công cụ hữu hiệu trong việc sử dụng nông nghiệp vì sự phát triển là gì?; làm thế nào để thực hiện tốt nhất các chương trình nghị sự nông nghiệp vì sự phát triển. Báo cáo này đã hướng dẫn cho các Chính phủ và cộng đồng quốc tế khi thiết kế và thực thi các chương trình nông nghiệp cho phát triển, những chương trình này có thể đổi cuộc sống cho hàng triệu người đói nghèo, cơ cực ở nông thôn. Peter Oakley et al trong công trình nghiên cứu Projects with People: The Practice of Participation in Rural Development Geneva: International Labour Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 15 Office, 1991, đã nêu rõ: muốn phát triển KT-XH nông thôn nhanh, theo hướng hiện đại, con đường đúng nhất là phải phát triển theo hướng bền vững.
Trong đó, nghiên cứu cho rằng việc để người nông dân tham gia vào thực thi, cũng như kiểm tra, giám sát các chương trình, dự án Phát triển nông thôn là yếu tố cực kỳ quan trọng cho sự phát triển bền vững của khu vực này [95]. Về cộng đồng các dân tộc với việc sử dụng TNTN Trong khoảng 20 năm trở lại đây, kiến thức bản địa được các nhà nghiên cứu tập trung chú ý. Qua việc phân tích những thành tựu và thất bại của nhiều dự án phát triển nông thôn và miền núi tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh họ nhận thấy rằng: Các kỹ thuật truyền thống có khả năng thích ứng cao với điều kiện môi trường tự nhiên cũng như tập quán xã hội, nên việc kết hợp kiến thức bản địa với kỹ thuật hiện đại là phương pháp tốt nhất để ứng dựng khoa học kỹ thuật mới vào nông thôn và miền núi. Đối với các dân tộc sống ở khu vực miền núi thì cuộc sống của họ gắn bó chặt chẽ với các nguồn tài nguyên thiên nhiên nơi cư trú (đặc biệt là tài nguyên rừng, đất và khí hậu), nên việc sử dụng những kiến thức bản địa để bảo vệ và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên được các tộc người rất coi trọng - và đó cũng là hướng nghiên cứu mà các nhà khoa học, trong đó có khoa học Địa lí rất quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây.
Trong các dự án phát triển nông nghiệp nông thôn. Ngân hàng thế giới là một trong các tổ chức quốc tế đã tích cực ủng hộ các chương trình nghiên cứu KTBĐ nhằm tăng tính hiệu quả cho các dự án phát triển nông thôn. Hiện nay, trên thế giới có khoảng trên 3000 chuyên gia tại khoảng 126 nước hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu KTBĐ. Một mạng lưới quốc tế nghiên cứu và sử dụng và sử dụng KTBĐ đã được thành lập năm 1987 thông qua Trung tâm nghiên cứu KTBĐ phục vụ phát triển nông nghiệp (CIKARD) tại Đại học Iowa State, Hoa Kỳ [109].
Ngoài mục đích làm tăng tính hiệu quả trong phát triển nông nghiệp và nông thôn, quản lí bền vững TNTN và BVMT, nhiều quốc gia còn chú trọng khai thác dạng tài nguyên này để phục vụ mục đích thương mại, mang lại hiệu quả kinh tế cao, như trong lĩnh vực y học cổ truyền hay mỹ phẩm. Năm 1998, tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank) đã thiết lập chương trình “Tri thức bản địa cho sự phát triển” nhằm mục đích học tập từ các hệ thống tri thức địa phương phục vụ phát triển tại các cộng đồng đó và từ đó mở rộng tính ứng dụng của tri thức này. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Những nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, những vấn đề về tài nguyên, môi trường đã được nghiên cứu trong vài thập kỷ gần đây, nhất là từ năm 1986 Việt Nam chuyển sang một giai đoạn đổi mới toàn diện đất nước.
Hàng loạt các công trình cả về lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu về vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên; về phát triển nông nghiệp; về cộng đồng các dân tộc trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, đặc biệt là dân tộc vùng miền núi đã được công bố. Về tài nguyên thiên nhiên Vấn đề quản lí sử dụng tài nguyên thiên nhiên được nghiên cứu khá chi tiết trong các công trình nghiên cứu của Lê Đức An, Uông Đình Khanh [1], Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức [72], Trần Công Tấu [64], Nguyễn Văn Đạt [23]. Nhờ kết quả nghiên cứu cơ bản về cơ sở địa lí, nhiều vấn đề về thổ nhưỡng, về tài nguyên rừng, tài nguyên nước đã được kiến nghị trong nhiều tác phẩm của các nhà địa lí Việt Nam như Lê Bá Thảo [69], Vũ Tự Lập [40]. Những khái niệm cơ bản, cách quản lí sử dụng về các nguồn tài nguyên như khí hậu, đất vùng, sinh vật,.
đã được diễn giải sâu sắc và toàn diện tại các ấn phẩm của nhiều học giả như: Alaev E. B [4], Trần Công Tấu [64], Báo cáo về PCI Việt Nam năm 2015, Báo cáo về Quản lí tài nguyên đất và rừng của Nhóm các nhà tài trợ quốc tế cho Việt Nam. Việc sử dụng và quản lí các nguồn tài nguyên cũng đã được phân tích sâu sắc và với nhiều kiến nghị thiết thực của Đào Châu Thu [79], Lê Thông [76], Thái Văn Trừng [74], Trần Công Tấu [64]. Xu hướng nghiên cứu cụ thể thiết thực ngày càng thu hút nhiều nghiên cứu của các nhà nghiên cứu thông qua các luận văn tiến sĩ, thạc sĩ địa lí.