Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Tổng quan nghiên cứu về cơ sở địa lí cho sử dụng hợp lý TN và BVMT 1. Trên thế giới Trong những năm gần đây, CQ học với tư cách là khoa học địa lí TN tổng hợp liên ngành đã đóng vai trò quan trọng trong công tác tổ chức không gian và định hướng sử dụng hợp lý TNMT.
Kể từ khi lý luận khoa học về CQ học được phát triển vào giữa thế kỷ XVIII, nhiều trường phái nghiên cứu khác nhau về lĩnh vực này đã được hình thành trên nền tảng các nghiên cứu ở nhiều quy mô lãnh thổ khác nhau. Là một hướng nghiên cứu quan trọng trong hệ thống các khoa học địa lí, CQ học đã trải qua lịch sử phát triển lâu đời, gắn liền với sự phát triển của nhiều khoa học liên quan cũng như phát triển tư duy TCLT. Điều này đưa tới sự phân dị về các quan điểm khoa học, sự hình thành các định hướng khác nhau trên thế giới. Các nhà khoa học Liên Xô cũ, Đông Âu và Việt Nam nghiên cứu cảnh quan theo hướng tiếp cận địa lí tự nhiên, tổ chức lãnh thổ chủ yếu dựa trên cơ sở ĐKTN.
Các học giả Bắc Mỹ và châu Âu, với phương pháp tiếp cận liên ngành gắn nghiên cứu CQ với KT - XH và địa lí nhân văn với việc ứng dụng trong QH phục vụ PTBV. Một hướng tiếp cận phổ biến hiện nay là “tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu CQ học” [7,38,56,79,85,87,100,118,119,121,133,145,151]. Sự phát triển của CQ học được chia theo nhiều giai đoạn khác nhau gắn liền với các mục đích khai thác sử dụng TN. Giai đoạn đầu tiên được đặc trưng bởi quá trình điều tra và khai thác lãnh thổ, phát triển mạnh ở các nước Đông Âu và Liên Xô cũ.
Các nghiên cứu CQ học giai đoạn này được phân chia riêng rẽ thành hai hướng: (i) hướng chú trọng tới cấu trúc CQ, mô tả và lập bản đồ các yếu tố thành tạo CQ, phát triển ở Liên Xô cũ và một số nước Đông Âu; (ii) hướng chú trọng nghiên cứu các quần xã sinh vật, phát triển phổ biến ở nhiều quốc gia Tây và Trung Âu [132,133,138,140,145,151]. Giai đoạn phát triển thứ hai được đánh dấu bằng quan điểm của nhà địa lí học Đức là Carl Troll (1939) về sinh thái cảnh quan. Ban đầu, khoa học này được phát triển chủ yếu tại các nước nói tiếng Đức và tiếng Hà Lan, sau đó được phát triển mở rộng ở các nước nói tiếng Anh và trên phạm vi toàn thế giới. Từ những -6- z năm 1980, CQ học đạt được nhiều mốc quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, trong đó hướng sinh thái hóa CQ học được nhấn mạnh.
Giai đoạn này gắn liền với những vấn đề cấp bách về những thay đổi MT, sự PTKT nhanh chóng cũng như các tiến bộ khoa học công nghệ. Có thể kể tên các sự kiện nổi bật nhất trong tiến trình phát triển của sinh thái CQ hiện nay: sự ra đời của Hiệp hội Sinh thái Cảnh quan Quốc tế (IALE) vào năm 1982; sự thành lập của nhiều chi hội Sinh thái Cảnh quan Quốc tế tại nhiều quốc gia ở châu Âu, Bắc Mỹ, Mỹ La tinh, châu Á, châu Phi và châu Đại dương; sự ra đời của hai tạp chí quốc tế của uy tín nhất về sinh thái CQ là “Tạp chí Sinh thái Cảnh quan” (Journal of Landscape Ecology) và “Tạp chí Cảnh quan và QH Đô thị” (Journal of Landscape and Urban Planning). Sinh thái CQ Bắc Mỹ tập trung vào nghiên cứu các đặc trưng sinh thái của CQ. Trong khi đó, sinh thái CQ châu Âu tập trung vào hướng nghiên cứu ứng dụng trong phân vùng lãnh thổ, đánh giá và QH SDĐ đai trong đó coi nhân tố con người là yếu tố thống nhất trong CQ.
Sự phát triển về phương pháp nghiên cứu gắn liền với công nghệ vũ trụ và công nghệ máy tính đã thúc đẩy sự chuyển biến từ các nghiên cứu thuần túy mô tả định tính chuyển sang phân tích định lượng và mô hình hóa. Đóng góp lớn vào sự phát triển về phương pháp đó là khả năng tiếp cận các dữ liệu và thông tin không gian nhờ công nghệ viễn thám. GIS cũng là tác nhân quan trọng trong trắc lượng cấu trúc, chức năng CQ dựa trên xây dựng các mô hình thống kê và mô hình hóa không gian. Trong những năm gần đây, từ quan điểm ứng dụng, nghiên cứu CQ theo hướng sinh thái đã đóng vai trò rất quan trọng với tư cách là cơ sở khoa học cho quản lý TN và PTBV [87,105,138,144].
Tại bán đảo Scandinavia và các nước Baltic, các nhà địa lí là những người tiên phong trong phát triển sinh thái CQ (Brandt 1997). Riêng tại Đan Mạch, hiệp hội CQ quốc gia đã quy tụ được rất nhiều nhà địa lí, sinh thái và QH khác nhau. Có hai xu thế phát triển chung về nghiên cứu CQ trên thế giới: - Xu hướng liên ngành: Trong xu hướng nghiên cứu hiện đại, hầu hết CQ được coi như một hệ thống sinh thái - xã hội phức tạp (Anderies và nnk., 2004), đòi hỏi có hướng tiếp cận liên ngành và đa tỷ lệ (hoặc đa quy mô) [129]. Sự kết hợp giữa khoa học CQ và sinh thái đã làm xuất hiện thuật ngữ liên ngành (interdisciplinarity) và xuyên ngành (transdisciplinarity), được Tress và cộng sự sử dụng khi mô tả phương pháp Wageningen nhằm kết nối khoa học nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và các tổ chức, cá nhân có cùng chung lợi ích [150].
-7- z - Xu hướng địa lí tự nhiên: Có thể thấy rõ xu hướng nghiên cứu liên ngành không diễn ra đồng thời ở hai trường phái nghiên cứu CQ. Trong giai đoạn phát triển ban đầu của CQ học, các nhà khoa học Đông và Trung Âu chiếm ưu thế. Khoa học CQ ở Liên Xô cũ và Đông Âu được xem như một phần của địa lí tự nhiên, nhánh địa lí chiếm ưu thế thời kỳ đó, do mục tiêu khai thác TN và công nghiệp hóa của chính quyền Xô Viết (Ixatsenko, 1976) [59]. Ở Việt Nam Trong những thập kỷ vừa qua, khoa học CQ ở Việt Nam chủ yếu được dựa trên các nền tảng lý luận của các nhà CQ học Liên Xô cũ, tùy từng giai đoạn phát triển mà nghiên cứu CQ phục vụ cho các mục đích khác nhau.
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể tới là “Về sự cần thiết nghiên cứu tổng hợp đất nước bằng phương pháp cảnh quan” (Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập, 1970), “Địa lí tự nhiên Việt Nam” (Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập, 1970); “Thiên nhiên Việt Nam” (Lê Bá Thảo, 1977), “Việt Nam - lãnh thổ các vùng kinh tế” (Lê Bá Thảo, 2000); “Phân vùng cảnh quan miền Nam Việt Nam” (Trương Quang Hải, 1991);“Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan các t lệ trên lãnh thổ Việt Nam” (Nguyễn Thành Long và cộng sự, 1993); “Cơ sở cảnh quan học của sử dụng hợp lý TN thiên nhiên và bảo vệ MT lãnh thổ Việt Nam” (Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng và Nguyễn Ngọc Khánh, 1997); “Đánh giá cảnh quan theo tiếp cận kinh tế sinh thái” “Nghiên cứu hoạch định tổ chức không gian PTKT và sử dụng hợp lý TN, bảo vệ MT cấp tỉnh, huyện (Nghiên cứu mẫu tỉnh Lào Cai)” (Nguyễn Cao Huần, 2004); “Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam” (Phạm Quang Anh, 1996); “Nghiên cứu đa dạng cảnh quan Việt Nam, phương pháp luận và một số kết quả thực tiễn nghiên cứu” (Phạm Hoàng Hải, 2006); Đặc biệt, Vũ Tự Lập (1976) với công trình “Cảnh quan địa lí miền Bắc Việt Nam”đã nghiên cứu CQ theo quan niệm CQ là đơn vị cá thể trong hệ thống các đơn vị phân vùng địa lí. Trương Quang Hải (1991) với công trình “Landscape typology in Southeast Vietnam”đã xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan và thành lập bản đồ cảnh quan miền Nam Việt Nam t lệ 1:1000. Gần đây có một số tác giả đi sâu nghiên cứu đặc điểm CQ cho một vùng lãnh thổ cụ thể như Lê Văn Thăng (1995), Nguyễn Trọng Tiến (1996), Nguyễn Văn Vinh (1996), Hà Văn Hành (2002), Phạm Quang Tuấn (2003), Nguyễn An Thịnh (2008). Hướng nghiên cứu "sinh thái hoá cảnh quan" cũng được thể hiện ở một số công -8- z trình của Phạm Quang Anh (1996).
Những công trình ứng dụng viễn thám và GIS để nghiên cứu các hợp phần của CQ có thể kể đến như nghiên cứu về rừng (Lại Huy Phương 1995, 1997), địa mạo (Phạm Văn Cự, 1996), SDĐ (Nguyễn Thị Cẩm Vân, 2001), xói mòn (Vũ Anh Tuân, 2004),. Bên cạnh đó, các hệ thống phân loại CQ khác nhau cũng được xây dựng cho phù hợp với quy mô lãnh thổ và tỷ lệ bản đồ. Một số hệ thống phân loại được kể đến như: Vũ Tự Lập (1976) với hệ thống phân loại CQ địa lí miền Bắc Việt Nam gồm 8 cấp; hệ thống phân loại CQ Việt Nam của tập thể tác giả phòng Địa lí tự nhiên thuộc trung tâm Địa lí và TNTN gồm 10 cấp. Hệ thống phân loại này được ứng dụng để nghiên cứu và thành lập bản đồ CQ một số vùng như dải ven biển Việt Nam (1 : 250.000) và các vùng khác.
Nghiên cứu CQ học ứng dụng là hướng mới được khai thác trong nghiên cứu CQ học truyền thống. Việc nghiên cứu CQ học ứng dụng đều phải bắt đầu từ nghiên cứu CQ cơ bản và coi CQ là một tổng hợp thể địa lí, nói cách khác nghiên cứu CQ học ứng dụng trước tiên phải thông qua nghiên cứu CQ cơ bản. Cảnh quan học đóng vai trò quan trọng trong các nghiên cứu QH lãnh thổ. Cống hiến lớn lao về phát triển lý luận và ứng dụng các tri thức địa lí trong lĩnh vực tổ chức lãnh thổ của GS.
Lê Bá Thảo thể hiện trong báo cáo tổng kết các đề tài cấp Nhà nước do GS làm chủ nhiệm: "Tổ chức lãnh thổ đồng bằng sông Hồng và các tuyến trọng điểm" (1992 - 1994), "Cơ sở khoa học của tổ chức lãnh thổ Việt Nam" (1994 - 1996). Nghiên cứu CQ trong QH lãnh thổ của Vũ Tự Lập (1982) với công trình “Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu, đánh giá tổng hợp ĐKTN và QH lãnh thổ”. Đề tài cấp Nhà nước “TCLT vùng kinh tế trọng điểm miền Trung" do Lưu Đức Hồng làm chủ nhiệm; Công trình "Xác định cơ cấu kinh tế lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm ở Việt Nam" của Ngô Doãn Vịnh và Nguyễn Văn Phú (1998).