Luận án tiến sĩ cơ sở địa lý của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường huyện kỳ anh tỉnh hà tĩnh

Luận án tiến sĩ phân tích cơ sở địa lý trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Địa lí tự nhiên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2013

181
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

1.2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CƠ SỞ ĐỊA LÍ CHO SỬ DỤNG HỢP LÝ TN VÀ BVMT

1.3. CƠ SỞ ĐỊA LÍ HỌC TRONG SỬ DỤNG HỢP LÝ TN VÀ BVMT

1.4. QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU

1.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN VÀ SỰ PHÂN HÓA LÃNH THỔ NGHIÊN CỨU

2.1. CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN

2.1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÍ

2.1.2. ĐỊA CHẤT VÀ ĐỊA MẠO

2.1.3. KHÍ HẬU VÀ THUỶ VĂN

2.1.4. THỔ NHƯỠNG VÀ SINH VẬT

2.1.5. HOẠT ĐỘNG NHÂN SINH

2.2. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN

2.2.1. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI CẢNH QUAN LÃNH THỔ NGHIÊN CỨU

2.2.2. CHỈ TIÊU CÁC CẤP TRONG HỆ THỐNG PHÂN LOẠI CẢNH QUAN KHU VỰC

2.2.3. ĐẶC ĐIỂM CÁC ĐƠN VỊ CẢNH QUAN

2.2.4. PHÂN VÙNG CẢNH QUAN VÀ TIỀM NĂNG TỰ NHIÊN CỦA LÃNH THỔ NGHIÊN CỨU

2.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ KHÔNG GIAN BỐ TRÍ ĐIỂM DÂN CƯ HUYỆN KỲ ANH

3.1. ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO CÁC MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN

3.1.1. NHU CẦU SINH THÁI MỘT SỐ LOẠI CÂY TRỒNG CHÍNH VÀ NTTS

3.1.2. TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH KHÔNG GIAN ƯU TIÊN CHO BỐ TRÍ CÁC ĐIỂM DÂN CƯ

3.1.3. ĐÁNH GIÁ VÀ PHÂN HẠNG MỨC ĐỘ THÍCH NGHI SINH THÁI CẢNH QUAN

3.1.4. HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ VÀ MỨC ĐỘ THÍCH NGHI SINH THÁI

3.2. TỔ CHỨC KHÔNG GIAN SỬ DỤNG HỢP LÝ TNTN VÀ BVMT

3.2.1. XU THẾ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN LÃNH THỔ HUYỆN KỲ ANH

3.2.2. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CQ

3.2.3. TỔ CHỨC KHÔNG GIAN SỬ DỤNG HỢP LÝ TNTN VÀ BVMT

3.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: ĐẶC TÍNH LÝ HÓA CỦA MỘT SỐ PHẪU DIỆN ĐẤT ĐẶC TRƯNG

PHỤ LỤC 2: ĐẶC ĐIỂM CÁC ĐƠN VỊ CẢNH QUAN

PHỤ LỤC 3: TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ THẢM THỰC VẬT THEO CÁC TIỂU VÙNG CẢNH QUAN

PHỤ LỤC 4: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ RIÊNG CHO TỪNG MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG

PHỤ LỤC 5: MỘT SỐ HÌNH ẢNH KHẢO SÁT THỰC ĐỊA

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiênbảo vệ môi trường tại huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Huyện Kỳ Anh, với vị trí địa lý đặc thù và đa dạng về điều kiện tự nhiên, đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên một cách hợp lý. Việc khai thác tài nguyên hiện tại chủ yếu dựa trên nhu cầu ngắn hạn mà không chú trọng đến tính bền vững, dẫn đến sự suy giảm tài nguyên và đa dạng sinh học. Hậu quả là sự biến đổi của môi trường tự nhiên, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người dân. Do đó, nghiên cứu này không chỉ nhằm xác lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên mà còn góp phần vào việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tại địa phương.

II. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là làm rõ các đặc điểm và sự phân hóa của các hợp phần tự nhiên tại huyện Kỳ Anh, từ đó xác lập cơ sở khoa học cho việc định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiênbảo vệ môi trường. Nhiệm vụ cụ thể bao gồm: phân tích các điều kiện địa lý và cảnh quan, đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên như đất, rừng và thủy sản, và đề xuất các giải pháp nhằm tổ chức không gian sử dụng hợp lý tài nguyênbảo vệ môi trường. Nghiên cứu cũng sẽ tập trung vào việc phát triển các chính sách bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên một cách hiệu quả, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho huyện Kỳ Anh.

III. Phân tích các nhân tố thành tạo cảnh quan

Phân tích các nhân tố thành tạo cảnh quan tại huyện Kỳ Anh là một phần quan trọng trong nghiên cứu. Các yếu tố như vị trí địa lý, địa chất, khí hậu, và thổ nhưỡng đều ảnh hưởng đến sự phân bố và phát triển của tài nguyên thiên nhiên. Huyện Kỳ Anh có địa hình đồi núi ven biển, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại hình tài nguyên. Tuy nhiên, sự khai thác không hợp lý có thể dẫn đến tình trạng suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Do đó, việc đánh giá và phân tích các yếu tố này sẽ giúp xác định các giải pháp bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên một cách bền vững.

IV. Đánh giá cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp

Đánh giá cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp tại huyện Kỳ Anh là một nhiệm vụ quan trọng nhằm xác định không gian ưu tiên cho các hoạt động sản xuất. Nghiên cứu sẽ phân tích nhu cầu sinh thái của các loại cây trồng chủ lực và đánh giá mức độ thích nghi của các dạng cảnh quan với các hoạt động nông lâm nghiệp. Việc tổ chức không gian sử dụng hợp lý tài nguyên sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời đảm bảo bảo vệ môi trường. Các giải pháp đề xuất sẽ bao gồm việc quy hoạch sử dụng đất, phát triển các mô hình sản xuất bền vững và tăng cường quản lý tài nguyên.

V. Kiến nghị và giải pháp

Nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiênbảo vệ môi trường tại huyện Kỳ Anh. Các giải pháp bao gồm việc xây dựng các chính sách quản lý tài nguyên hiệu quả, tăng cường công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường, và phát triển các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp bền vững. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng địa phương trong việc thực hiện các giải pháp này. Việc áp dụng các công nghệ mới trong quản lý tài nguyên cũng sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên tại huyện Kỳ Anh.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Tổng quan nghiên cứu về cơ sở địa lí cho sử dụng hợp lý TN và BVMT 1. Trên thế giới Trong những năm gần đây, CQ học với tư cách là khoa học địa lí TN tổng hợp liên ngành đã đóng vai trò quan trọng trong công tác tổ chức không gian và định hướng sử dụng hợp lý TNMT.

Kể từ khi lý luận khoa học về CQ học được phát triển vào giữa thế kỷ XVIII, nhiều trường phái nghiên cứu khác nhau về lĩnh vực này đã được hình thành trên nền tảng các nghiên cứu ở nhiều quy mô lãnh thổ khác nhau. Là một hướng nghiên cứu quan trọng trong hệ thống các khoa học địa lí, CQ học đã trải qua lịch sử phát triển lâu đời, gắn liền với sự phát triển của nhiều khoa học liên quan cũng như phát triển tư duy TCLT. Điều này đưa tới sự phân dị về các quan điểm khoa học, sự hình thành các định hướng khác nhau trên thế giới. Các nhà khoa học Liên Xô cũ, Đông Âu và Việt Nam nghiên cứu cảnh quan theo hướng tiếp cận địa lí tự nhiên, tổ chức lãnh thổ chủ yếu dựa trên cơ sở ĐKTN.

Các học giả Bắc Mỹ và châu Âu, với phương pháp tiếp cận liên ngành gắn nghiên cứu CQ với KT - XH và địa lí nhân văn với việc ứng dụng trong QH phục vụ PTBV. Một hướng tiếp cận phổ biến hiện nay là “tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu CQ học” [7,38,56,79,85,87,100,118,119,121,133,145,151]. Sự phát triển của CQ học được chia theo nhiều giai đoạn khác nhau gắn liền với các mục đích khai thác sử dụng TN. Giai đoạn đầu tiên được đặc trưng bởi quá trình điều tra và khai thác lãnh thổ, phát triển mạnh ở các nước Đông Âu và Liên Xô cũ.

Các nghiên cứu CQ học giai đoạn này được phân chia riêng rẽ thành hai hướng: (i) hướng chú trọng tới cấu trúc CQ, mô tả và lập bản đồ các yếu tố thành tạo CQ, phát triển ở Liên Xô cũ và một số nước Đông Âu; (ii) hướng chú trọng nghiên cứu các quần xã sinh vật, phát triển phổ biến ở nhiều quốc gia Tây và Trung Âu [132,133,138,140,145,151]. Giai đoạn phát triển thứ hai được đánh dấu bằng quan điểm của nhà địa lí học Đức là Carl Troll (1939) về sinh thái cảnh quan. Ban đầu, khoa học này được phát triển chủ yếu tại các nước nói tiếng Đức và tiếng Hà Lan, sau đó được phát triển mở rộng ở các nước nói tiếng Anh và trên phạm vi toàn thế giới. Từ những -6- z năm 1980, CQ học đạt được nhiều mốc quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, trong đó hướng sinh thái hóa CQ học được nhấn mạnh.

Giai đoạn này gắn liền với những vấn đề cấp bách về những thay đổi MT, sự PTKT nhanh chóng cũng như các tiến bộ khoa học công nghệ. Có thể kể tên các sự kiện nổi bật nhất trong tiến trình phát triển của sinh thái CQ hiện nay: sự ra đời của Hiệp hội Sinh thái Cảnh quan Quốc tế (IALE) vào năm 1982; sự thành lập của nhiều chi hội Sinh thái Cảnh quan Quốc tế tại nhiều quốc gia ở châu Âu, Bắc Mỹ, Mỹ La tinh, châu Á, châu Phi và châu Đại dương; sự ra đời của hai tạp chí quốc tế của uy tín nhất về sinh thái CQ là “Tạp chí Sinh thái Cảnh quan” (Journal of Landscape Ecology) và “Tạp chí Cảnh quan và QH Đô thị” (Journal of Landscape and Urban Planning). Sinh thái CQ Bắc Mỹ tập trung vào nghiên cứu các đặc trưng sinh thái của CQ. Trong khi đó, sinh thái CQ châu Âu tập trung vào hướng nghiên cứu ứng dụng trong phân vùng lãnh thổ, đánh giá và QH SDĐ đai trong đó coi nhân tố con người là yếu tố thống nhất trong CQ.

Sự phát triển về phương pháp nghiên cứu gắn liền với công nghệ vũ trụ và công nghệ máy tính đã thúc đẩy sự chuyển biến từ các nghiên cứu thuần túy mô tả định tính chuyển sang phân tích định lượng và mô hình hóa. Đóng góp lớn vào sự phát triển về phương pháp đó là khả năng tiếp cận các dữ liệu và thông tin không gian nhờ công nghệ viễn thám. GIS cũng là tác nhân quan trọng trong trắc lượng cấu trúc, chức năng CQ dựa trên xây dựng các mô hình thống kê và mô hình hóa không gian. Trong những năm gần đây, từ quan điểm ứng dụng, nghiên cứu CQ theo hướng sinh thái đã đóng vai trò rất quan trọng với tư cách là cơ sở khoa học cho quản lý TN và PTBV [87,105,138,144].

Tại bán đảo Scandinavia và các nước Baltic, các nhà địa lí là những người tiên phong trong phát triển sinh thái CQ (Brandt 1997). Riêng tại Đan Mạch, hiệp hội CQ quốc gia đã quy tụ được rất nhiều nhà địa lí, sinh thái và QH khác nhau. Có hai xu thế phát triển chung về nghiên cứu CQ trên thế giới: - Xu hướng liên ngành: Trong xu hướng nghiên cứu hiện đại, hầu hết CQ được coi như một hệ thống sinh thái - xã hội phức tạp (Anderies và nnk., 2004), đòi hỏi có hướng tiếp cận liên ngành và đa tỷ lệ (hoặc đa quy mô) [129]. Sự kết hợp giữa khoa học CQ và sinh thái đã làm xuất hiện thuật ngữ liên ngành (interdisciplinarity) và xuyên ngành (transdisciplinarity), được Tress và cộng sự sử dụng khi mô tả phương pháp Wageningen nhằm kết nối khoa học nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và các tổ chức, cá nhân có cùng chung lợi ích [150].

-7- z - Xu hướng địa lí tự nhiên: Có thể thấy rõ xu hướng nghiên cứu liên ngành không diễn ra đồng thời ở hai trường phái nghiên cứu CQ. Trong giai đoạn phát triển ban đầu của CQ học, các nhà khoa học Đông và Trung Âu chiếm ưu thế. Khoa học CQ ở Liên Xô cũ và Đông Âu được xem như một phần của địa lí tự nhiên, nhánh địa lí chiếm ưu thế thời kỳ đó, do mục tiêu khai thác TN và công nghiệp hóa của chính quyền Xô Viết (Ixatsenko, 1976) [59]. Ở Việt Nam Trong những thập kỷ vừa qua, khoa học CQ ở Việt Nam chủ yếu được dựa trên các nền tảng lý luận của các nhà CQ học Liên Xô cũ, tùy từng giai đoạn phát triển mà nghiên cứu CQ phục vụ cho các mục đích khác nhau.

Các công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể tới là “Về sự cần thiết nghiên cứu tổng hợp đất nước bằng phương pháp cảnh quan” (Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập, 1970), “Địa lí tự nhiên Việt Nam” (Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập, 1970); “Thiên nhiên Việt Nam” (Lê Bá Thảo, 1977), “Việt Nam - lãnh thổ các vùng kinh tế” (Lê Bá Thảo, 2000); “Phân vùng cảnh quan miền Nam Việt Nam” (Trương Quang Hải, 1991);“Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan các t lệ trên lãnh thổ Việt Nam” (Nguyễn Thành Long và cộng sự, 1993); “Cơ sở cảnh quan học của sử dụng hợp lý TN thiên nhiên và bảo vệ MT lãnh thổ Việt Nam” (Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng và Nguyễn Ngọc Khánh, 1997); “Đánh giá cảnh quan theo tiếp cận kinh tế sinh thái” “Nghiên cứu hoạch định tổ chức không gian PTKT và sử dụng hợp lý TN, bảo vệ MT cấp tỉnh, huyện (Nghiên cứu mẫu tỉnh Lào Cai)” (Nguyễn Cao Huần, 2004); “Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam” (Phạm Quang Anh, 1996); “Nghiên cứu đa dạng cảnh quan Việt Nam, phương pháp luận và một số kết quả thực tiễn nghiên cứu” (Phạm Hoàng Hải, 2006); Đặc biệt, Vũ Tự Lập (1976) với công trình “Cảnh quan địa lí miền Bắc Việt Nam”đã nghiên cứu CQ theo quan niệm CQ là đơn vị cá thể trong hệ thống các đơn vị phân vùng địa lí. Trương Quang Hải (1991) với công trình “Landscape typology in Southeast Vietnam”đã xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan và thành lập bản đồ cảnh quan miền Nam Việt Nam t lệ 1:1000. Gần đây có một số tác giả đi sâu nghiên cứu đặc điểm CQ cho một vùng lãnh thổ cụ thể như Lê Văn Thăng (1995), Nguyễn Trọng Tiến (1996), Nguyễn Văn Vinh (1996), Hà Văn Hành (2002), Phạm Quang Tuấn (2003), Nguyễn An Thịnh (2008). Hướng nghiên cứu "sinh thái hoá cảnh quan" cũng được thể hiện ở một số công -8- z trình của Phạm Quang Anh (1996).

Những công trình ứng dụng viễn thám và GIS để nghiên cứu các hợp phần của CQ có thể kể đến như nghiên cứu về rừng (Lại Huy Phương 1995, 1997), địa mạo (Phạm Văn Cự, 1996), SDĐ (Nguyễn Thị Cẩm Vân, 2001), xói mòn (Vũ Anh Tuân, 2004),. Bên cạnh đó, các hệ thống phân loại CQ khác nhau cũng được xây dựng cho phù hợp với quy mô lãnh thổ và tỷ lệ bản đồ. Một số hệ thống phân loại được kể đến như: Vũ Tự Lập (1976) với hệ thống phân loại CQ địa lí miền Bắc Việt Nam gồm 8 cấp; hệ thống phân loại CQ Việt Nam của tập thể tác giả phòng Địa lí tự nhiên thuộc trung tâm Địa lí và TNTN gồm 10 cấp. Hệ thống phân loại này được ứng dụng để nghiên cứu và thành lập bản đồ CQ một số vùng như dải ven biển Việt Nam (1 : 250.000) và các vùng khác.

Nghiên cứu CQ học ứng dụng là hướng mới được khai thác trong nghiên cứu CQ học truyền thống. Việc nghiên cứu CQ học ứng dụng đều phải bắt đầu từ nghiên cứu CQ cơ bản và coi CQ là một tổng hợp thể địa lí, nói cách khác nghiên cứu CQ học ứng dụng trước tiên phải thông qua nghiên cứu CQ cơ bản. Cảnh quan học đóng vai trò quan trọng trong các nghiên cứu QH lãnh thổ. Cống hiến lớn lao về phát triển lý luận và ứng dụng các tri thức địa lí trong lĩnh vực tổ chức lãnh thổ của GS.

Lê Bá Thảo thể hiện trong báo cáo tổng kết các đề tài cấp Nhà nước do GS làm chủ nhiệm: "Tổ chức lãnh thổ đồng bằng sông Hồng và các tuyến trọng điểm" (1992 - 1994), "Cơ sở khoa học của tổ chức lãnh thổ Việt Nam" (1994 - 1996). Nghiên cứu CQ trong QH lãnh thổ của Vũ Tự Lập (1982) với công trình “Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu, đánh giá tổng hợp ĐKTN và QH lãnh thổ”. Đề tài cấp Nhà nước “TCLT vùng kinh tế trọng điểm miền Trung" do Lưu Đức Hồng làm chủ nhiệm; Công trình "Xác định cơ cấu kinh tế lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm ở Việt Nam" của Ngô Doãn Vịnh và Nguyễn Văn Phú (1998).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Quang Tuấn về việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, tập trung vào việc phân tích các yếu tố địa lý tự nhiên ảnh hưởng đến việc khai thác và bảo vệ tài nguyên. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình tài nguyên thiên nhiên tại khu vực này mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo vệ môi trường. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách thức quản lý tài nguyên bền vững, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn tại các địa phương khác.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án Moka tại KCN Đông Mai, Quảng Ninh, nơi phân tích tác động môi trường trong các khu công nghiệp, và Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường từ trang trại chăn nuôi lợn tại xã Yên Giang, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, cung cấp cái nhìn về ô nhiễm môi trường từ hoạt động chăn nuôi. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các vấn đề môi trường hiện nay.