ĐẶT VẤN ĐỀ Nền nông nghiệp nước ta gắn liền với cây lúa nước trên diện tích khoảng 4,3 triệu hecta. Nước ta cũng là quốc gia sản xuất lúa gạo lớn thứ hai trên thế giới (chỉ sau Thái Lan). Đây là một tiềm năng rất lớn cần được khai thác cho thị trường thức ăn chăn nuôi. Trong những năm gần đây, ngành sản xuất thức ăn công nghiệp Việt Nam đã phát triển nhanh, với sản lượng năm 2012 đạt 12,7 triệu tấn và đến năm 2013 với 234 nhà máy sản xuất thức ăn công nghiệp (công suất thiết kế 22,3 triệu tấn/năm) đã sản xuất 17 triệu tấn thức ăn/năm, vượt Thái Lan (Cục Chăn nuôi, 2014).
Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu 7 triệu tấn gạo thu về 3 tỷ đô la nhưng hàng năm Việt Nam lại phải nhập khẩu đến 80% nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi. Năm 2011, Việt Nam đã sử dụng gần 3,7 tỷ đô la để nhập khẩu gần 8 triệu tấn thức ăn, trong đó đáng chú ý 1,3 tỷ đô la để nhập 3,86 triệu tấn ngô, cám gạo và lúa mỳ (Cục Chăn nuôi, 2012). Để đáp ứng chiến lược phát triển chăn nuôi, đến năm 2020 nhu cầu sử dụng thức ăn của Việt Nam ước tính là 27,4 triệu tấn (tăng 1,3 lần so với năm 2012). Như vậy với năng lực của ngành nông nghiệp hiện nay chúng ta sẽ phải nhập nhiều hơn nữa nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, đặc biệt các loại giàu năng lượng như ngô, lúa mỳ, khô dầu đỗ tương.
Tuy nhiên Hội đồng ngũ cốc quốc tế (IGC) dự báo sản lượng ngô thế giới trong một số năm tới sẽ giảm nhiều do thời tiết khô hạn ở một số quốc gia sản xuất lớn như Mỹ, Ấn Độ. Dự báo sản lượng lúa mỳ thế giới ước tính giảm xuống còn 662 triệu tấn so với dự kiến 665 triệu tấn. Trong một tương lai không xa, chúng ta hướng đến chăn nuôi để xuất khẩu. Vì vậy nếu chăn nuôi luôn phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi từ các nước như hiện nay thì sẽ là một rào cản khó vượt qua để hướng đến mục tiêu.
Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới nhưng vẫn phải nhập quá nhiều nguyên liệu như ngô, đậu tương, cám gạo thì không thể đảm bảo cho một ngành chăn nuôi bền vững. Bên cạnh đó, hàng năm Việt Nam còn tồn dư một lượng lớn thóc trong dân, giá lúa nhiều lúc giảm thấp, nhà nước đã phải chi nguồn ngân sách không nhỏ cho việc mua tạm trữ lúa gạo để bình ổn giá. Như vậy trong khi nguồn lúa gạo trong nước tồn đọng khá lớn (khoảng 2 triệu tấn mỗi năm), thì ngành chăn nuôi lại chi ra một khoản ngoại tệ 1 c không nhỏ để nhập 4 triệu tấn nguyên liệu cung cấp năng lương như ngô lúa mì để sản xuất thức ăn chăn nuôi. Để đáp ứng được chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 nhu cầu sử dụng TĂCN của cả nước ước tính là 27,4 triệu tấn, như vậy với năng lực của ngành nông nghiệp hiện nay chúng ta sẽ phải nhập nhiều hơn nữa trong khi sản lượng ngô, lúa mì trên thế giới đang trên đà sụt giảm mạnh, giá liên tục tăng.
Vì vậy, Việt Nam phải tìm cách thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu của các nước như hiện nay. Để giúp ngành chăn nuôi giải quyết khó khăn trong việc tìm nguyên liệu và chủ động được nguồn nguyên liệu trong nước chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Sử dụng gạo xay thay thế ngô trong thức ăn cho lợn con lai PiDu x (LxY) từ 4 đến 28 ngày tuổi”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Xác định tỷ lệ sử dụng gạo xay thay thế ngô trong thức ăn con lai PiDu x (LxY) từ 4 - 28 ngày tuổi. Xác định hiệu quả của việc sử dụng gạo xay thay thế ngô trong khẩu phần của lợn con lai giống ngoại giai đoạn từ 4 đến 28 ngày tuổi.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TIỀM NĂNG SỬ DỤNG LÚA GẠO TRONG CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM Sản xuất lúa gạo đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Khoảng 80% trong tổng số 11 triệu hộ nông dân tham gia sản xuất lúa gạo, chủ yếu dựa vào phương thức canh tác thủ công truyền thống. Do sản xuất lúa gạo là nguồn thu nhập và cung cấp lương thực chính của các hộ nông dân, nên chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn gắn liền với phát triển ngành hàng lúa gạo.
Nước ta có hai vùng trọng điểm sản xuất lúa là đồng bằng sông Cửu Long (khoảng 4 triệu ha gieo trồng/năm) và đồng bằng sông Hồng (khoảng 1,1 ha gieo trồng/ năm). Năm 2011, diện tích gieo cấy lúa cả nước là 7,652 triệu ha, năng suất trung bình đạt 55,3 tạ/ha, sản lượng thóc cả nước khoảng 42,3 triệu tấn (Niên giám thống kê, 2011). Theo Cục Trồng Trọt - Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, qui hoạch quĩ đất trồng lúa năm 2015 là 3,899 triệu ha, trong đó lúa nước hai vụ trở lên là 3,258 triệu ha, diện tích gieo trồng là 7,3 triệu ha.; Năm 2020 bảo vệ quỹ đất lúa ổn định là 3,812 ha, trong đó lúa hai vụ trở lên là 3,222 triệu ha, diện tích gieo trồng 7 triệu ha. Áp dụng đồng bộ các biện pháp thâm canh tiên tiến để đạt sản lượng 42 – 43 triệu tấn vào năm 2015 – 2020, đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu gạo.
Như vậy, sản lượng thóc của nước ta từ nay đến năm 2020 dao động trong khoảng từ 42 - 43 triệu tấn/năm. Nhu cầu thóc giống trong nước từ 0,8 - 1 triệu tấn/năm. Nhu cầu thóc để ăn và dự trữ trong cả nước mỗi năm khoảng 22 - 24 triệu tấn. Nhu cầu thóc để chế biến khoảng 0,6 - 1,0 triệu tấn.
Nhu cầu cho chăn nuôi và hao hụt từ 7,5 - 8,5 triệu tấn/năm. Như vậy, lượng thóc hàng hóa dự kiến trong năm 2015 là 11,1 triệu tấn và năm 2020 là 8,7 triệu tấn. Đây là nguồn thóc gạo rất lớn đối với thị trường trong nước. Việt Nam là quốc gia sản xuất lúa gạo lớn thứ hai trên thế giới (chỉ sau Thái Lan).
Trong năm 2011, nước ta đã xuất khẩu khoảng 7,1 triệu tấn gạo. Theo Tổng Công ty Lương thực Miền Nam, những năm gần đây xuất khẩu gạo của Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tuy có tăng về lượng nhưng giảm dần về giá trị. Năm 2012, sản lượng gạo xuất khẩu đạt 7,72 triệu tấn (tăng 8,3% so năm 2011), 3 c trị giá FOB 3,45 tỉ USD (giảm 1,98%); năm 2013 đạt gần 6,7 triệu tấn, trị giá FOB hơn 2,89 tỉ USD. Có nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản là gạo Việt Nam vừa không có thương hiệu, chất lượng lại thấp (khoảng 70% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam là gạo có phẩm cấp thấp - 25% tấm) nên khó tiếp cận vào các phân khúc thị trường cấp cao.
Trong khi đó phân khúc cấp trung, cấp thấp lại có nhiều quốc gia cùng cạnh tranh, đưa đến giá bán và lợi nhuận giảm. Để giảm thiểu rủi ro và nâng cao lợi nhuận, các chuyên gia nghiên cứu đưa ra báo cáo này khuyến nghị, cần chọn phân khúc thị trường gạo chất lượng cao và đặc sản cho xuất khẩu trong thời gian tới, đồng thời cần chú trọng vào việc chế biến đa dạng hóa các sản phẩm từ lúa gạo. Một vấn đề được nhiều người quan tâm, nó như một nghịch lý, khi Việt Nam là một nước nông nghiệp, kim ngạch xuất khẩu gạo hàng năm đạt khoảng 3,7 tỷ USD thì kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi cũng gần 3 tỷ USD. Vìệc sản xuất thức ăn chăn nuôi phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nguyên liệu thức ăn nhập khẩu mà giá các nguyên liệu này lại không ngừng tăng lên.
Giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tăng lên do rất nhiều nguyên nhân, trong đó thiên tai cũng là những cảnh báo đáng lo ngại. Vụ thiên tai cuối năm 2011 và đầu năm 2012, một vụ khô hạn chưa từng có trong 25 năm qua ở Mỹ đã làm cho 61% diện tích đất trồng trọt bị ảnh hưởng và làm giảm đáng kể sản lượng ngô và đỗ tương. World Bank cảnh báo rằng khô hạn sẽ còn tiếp tục diễn ra ở Mỹ, Nga và Ấn Độ, điều này làm cho giá ngô và đỗ tương tăng lên tới hai lần so với năm 2010. Báo cáo tổng hợp tình hình thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi của phòng Thông tin thương mại và hội nhập quốc tế tháng 9/2013 cho biết, giá thức ăn và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên thế giới đang có xu thế giảm dần.
Giá ngô đã giảm xuống mức thấp nhất (180,9 USD/tấn) trong phiên giao dịch ngày 20/9/2013 do dự báo sản lượng ngô, lúa mỳ và đỗ tương trên thế giới sẽ tăng lên vào niên vụ 2013/2014. Tuy vậy, sự bất ổn về giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên thị trường thế giới vẫn là những khó khăn dẫn đến sự phát triển không bền vững của ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi nước ta. Ngành chăn nuôi của Việt Nam sẽ phải đương đầu với những khó khăn, gần như một thảm họa nếu sản xuất thức ăn chăn nuôi bị chi phối bởi nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Như vậy, việc khai thác nguồn nguyên liệu trong nước để chủ động sản xuất thức ăn chăn nuôi đang là một yêu cầu bức thiết.
4 c Thêm vào đó, để tránh nguy cơ mất thị trường do không cạnh tranh được với các quốc gia xuất khẩu gạo khác, ngành sản xuất lúa gạo Việt nam cần áp dụng nhiều giải pháp nhằm nâng cao giá trị hạt gạo và tìm những thị trường cao cấp cho gạo thơm của Việt Nam. Đồng thời chúng ta cũng phải tìm thị trường tiêu thụ cho số lượng gạo chất lượng trung bình và thấp khi không xuất khẩu được hoặc xuất khẩu với giá thấp. Có thể nói thị trường sản xuất thức ăn gia súc trong nước đang là một tiềm năng cần được khai thác. Việc sử dụng lúa gạo để sản xuất thức ăn chăn nuôi có thể góp phần giải quyết tình hình xuất khẩu gạo gặp khó khăn.
Tuy nhiên, để khai thác thị trường này, chúng ta cần giải được bài toán về giá thành và hiệu quả của việc sử dụng thóc gạo thay thế ngô và lúa mì nhập khẩu. Giải quyết được vấn đề này, chúng ta còn giải quyết được nhiều khó khăn khác đang tồn tại trong thực tế sản xuất của nghành nông nghiệp trong nước. Một trong giải pháp để giải bài toán giá thành trong việc sử dụng thóc gạo thay thế ngô và lúa mì nhập khẩu là sử dụng thóc của các giống lúa cao sản.