Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành chăn nuôi tại Việt Nam, lợn là đối tượng nuôi chủ lực, cung cấp trên 70% tổng sản lượng thịt tiêu thụ trên thị trường. Sự thành công của quy trình chăn nuôi lợn thịt thương phẩm phụ thuộc phần lớn vào chất lượng con giống ở giai đoạn khởi đầu. Giai đoạn lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi là thời kỳ sinh trưởng then chốt nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro dịch bệnh do cơ thể lợn non chưa hoàn thiện về mặt chức năng sinh lý, giải phẫu đường tiêu hóa và hệ thống miễn dịch tự nhiên. Trong giai đoạn này, bệnh tiêu chảy diễn ra rất phổ biến và có nguy cơ bùng phát thành dịch, với tỷ lệ tử vong có thể lên tới 70 - 100%; những cá thể vượt qua bệnh thường rơi vào trạng thái còi cọc, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn và làm suy giảm phẩm cấp giống ở giai đoạn vỗ béo tiếp theo.

Bên cạnh yếu tố mầm bệnh vi sinh vật, nguyên nhân sinh lý học dẫn đến suy giảm sức đề kháng ở lợn con bú mẹ xuất phát từ sự thiếu hụt nguyên tố vi lượng sắt (Fe). Nhu cầu sinh lý của lợn con cần từ 7 - 10 mg Fe/ngày để duy trì hoạt động tạo máu và tăng trưởng, song lượng sắt cung cấp qua sữa mẹ chỉ đạt khoảng 1 mg Fe/ngày. Hiện tượng thiếu máu do thiếu sắt (bần huyết) thường bộc lộ rõ nét sau 3 tuần tuổi khi sản lượng và chất lượng sữa của lợn mẹ suy giảm theo quy luật sinh học. Việc lạm dụng các loại kháng sinh tổng hợp để kiểm soát tiêu chảy trong thời gian dài đã bộc lộ nhiều hạn chế như làm mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột có ích và làm gia tăng nguy cơ kháng thuốc. Do đó, việc ứng dụng các chế phẩm bổ sung sắt hữu cơ kết hợp vitamin nhằm kích thích tạo máu, nâng cao sức đề kháng tự nhiên là hướng tiếp cận kỹ thuật cần thiết.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Văn Đậm tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên (chuyên ngành Chăn nuôi Thú y, niên khóa 2010 - 2014, dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Inh) được triển khai nhằm thực hiện các mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định ảnh hưởng của chế phẩm Ferrum - B12 trong kích thích sinh trưởng và phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi.
  2. Xác định hiệu quả kinh tế của việc sử dụng chế phẩm Ferrum - B12 trong chăn nuôi lợn con.
  3. Khuyến cáo với người chăn nuôi về phương thức sử dụng chế phẩm Ferrum - B12 trong quy trình chăm sóc lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn con lai F2 [Yorkshire × (Móng Cái × Yorkshire)] từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi, sinh ra từ đàn lợn mẹ Yorkshire thuần chủng lứa 3 - 5 có thể trọng 130 - 160 kg.
  • Không gian nghiên cứu: Trại chăn nuôi lợn Điền Mừng, xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 16/12/2013 đến ngày 31/5/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng trên các luận điểm sinh lý học chăn nuôi và bệnh lý thú y chuyên ngành:

  • Cơ sở sinh lý sinh trưởng và phát dục: Vận dụng các luận điểm khoa học của Chavez (1985) và Trần Đình Miên cùng cộng sự (2004) về bản chất sinh trưởng là quá trình tích lũy protein và tăng kích thước mô bào; quy luật sinh trưởng của lợn con bú mẹ với cường độ tăng khối lượng rất cao (khối lượng 60 ngày tuổi gấp 10 - 15 lần sơ sinh; tích lũy 9 - 14 g protein/kg khối lượng cơ thể lúc 3 tuần tuổi). Nghiên cứu phân tích ba thời kỳ khủng hoảng sinh học của lợn non: thời kỳ sơ sinh đến 1 tuần tuổi (thay đổi môi trường sống từ tử cung ra ngoại cảnh); thời kỳ 3 tuần tuổi (mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng tăng cao và sự suy giảm sản lượng sữa mẹ); thời kỳ ngay sau cai sữa (stress môi trường, thức ăn và tách mẹ).
  • Đặc điểm cơ quan tiêu hóa và miễn dịch: Tham chiếu dữ liệu của Nguyễn Vĩnh Phước (1980) và Nguyễn Thị Liên (2000) về sự biến động của hệ vi sinh vật đường ruột (vi khuẩn bắt buộc như Streptococcus lactic, Lactobacillus đối kháng với vi sinh vật cơ hội gây bệnh như Escherichia coli, Clostridium perfringens); đặc tính miễn dịch thụ động hấp thu qua globulin miễn dịch ($\gamma$-globulin đạt 20,3 mg/100 ml máu sau 24 giờ bú sữa đầu nhờ tính thấm của thành ruột non sơ sinh).
  • Cơ chế bệnh sinh tiêu chảy: Khảo sát cơ chế độc tố Enterotoxin của vi khuẩn đường ruột gây viêm niêm mạc, tổn thương nhung mao ruột non, dẫn tới tăng tiết dịch ruột gấp nhiều lần và cản trở hấp thu dưỡng chất (Lê Văn Năm và cộng sự, 1999).
  • Đặc tính chế phẩm thử nghiệm: Chế phẩm Ferrum - B12 (do Công ty Marphavet sản xuất) có thành phần chính là phức hợp sắt nguyên tố kết hợp phân tử Dextran và Cyanocobalamin (Vitamin B12 hàm lượng 55 mcg), dùng tiêm bắp nhằm giải quyết triệt để hội chứng thiếu máu thiếu sắt, thúc đẩy quá trình tạo máu và kích thích hoạt động chuyển hóa.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

  • Bố trí thí nghiệm: Sử dụng phương pháp chia lô so sánh trên 60 lợn con F2 phân bổ đồng đều vào 2 lô (mỗi lô 30 con thuộc 3 ổ nái, có khối lượng sơ sinh tương đương nhau):
    • Lô Đối chứng (ĐC): Nuôi dưỡng theo khẩu phần thông thường, không tiêm bổ sung chế phẩm Ferrum - B12.
    • Lô Thí nghiệm (TN): Áp dụng tiêm bắp sâu chế phẩm Ferrum - B12 liều 2 ml/con vào thời điểm 5 ngày tuổi.
  • Điều kiện chăm sóc và thức ăn: Đồng nhất điều kiện chuồng trại, chế độ quản lý; lợn con cả 2 lô đều tập ăn sớm từ 7 - 21 ngày tuổi bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh CP 550 dạng viên, giai đoạn 21 - 60 ngày tuổi ăn thức ăn CP 551. Khi lợn con ở hai lô xuất hiện triệu chứng tiêu chảy, áp dụng cùng một phác đồ điều trị: Colistin (1 ml/10 kg thể trọng/ngày), Vitamin C (1 ml/10 kg thể trọng/ngày) và dung dịch Oresol bù nước điện giải (10 g/10 kg thể trọng/ngày).
  • Các chỉ tiêu và công thức theo dõi:
    • Sinh trưởng tích lũy (kg/con): Cân cá thể định kỳ 15 ngày/lần vào buổi sáng trước khi cho ăn, sử dụng cùng một loại cân.
    • Sinh trưởng tuyệt đối ($A$, g/con/ngày): $A = (W_2 - W_1) / (t_2 - t_1)$.
    • Sinh trưởng tương đối ($R$, %): $R = [(W_2 - W_1) / ((W_2 + W_1) / 2)] \times 100$.
    • Tỷ lệ nhiễm bệnh tiêu chảy (%) và tỷ lệ nuôi sống (%).
    • Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (FCR) và chi phí thuốc thú y/kg tăng khối lượng tại thời điểm 60 ngày tuổi.
  • Nguồn dữ liệu và xử lý thống kê: Dữ liệu thu thập trực tiếp tại trại thí nghiệm, xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi của Nguyễn Văn Thiện (2002) bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất

Phần này phản ánh toàn diện các hoạt động khảo sát cơ sở và thực hành kỹ thuật chăn nuôi - thú y của tác giả tại Trại lợn Điền Mừng, xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình:

  • Khảo sát điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Xã Yên Mỹ có diện tích đất tự nhiên 473,89 ha (đất nông nghiệp chiếm 329,95 ha), dân số 4646 nhân khẩu phân bố ở 15 xóm, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,86%. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa bình quân 1920 mm/năm (tập trung 80% vào các tháng 7, 8, 9), nhiệt độ trung bình 23 - 26°C, độ ẩm không khí 85 - 86%.
  • Thực trạng Trại lợn Điền Mừng: Thành lập năm 2009, diện tích mặt bằng 1,5 ha (chuồng trại 0,8 ha, trồng hoa màu 0,3 ha, cây cảnh 0,3 ha, ao hồ thủy sản 0,1 ha). Quy mô chăn nuôi duy trì thường xuyên gồm 30 lợn nái Yorkshire ngoại thuần, 1 lợn đực giống ngoại lai PiDu (khai thác tinh dịch phục vụ thụ tinh nhân tạo với liều phối 80 - 100 ml chứa 1,5 - 2,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng, phối lặp 2 lần cách nhau 10 - 12 giờ) và 300 lợn thịt thương phẩm. Năng suất nái đạt 2,1 - 2,25 lứa/năm; số con sơ sinh bình quân 11,23 con/đàn; cai sữa đạt 9,46 con/đàn tại 21 - 28 ngày tuổi.
  • Thực hành quy trình chăn nuôi và thú y:
    • Về dinh dưỡng: Nái chửa từ tuần 1 đến tuần 15 ăn cám CP 566 (2 - 3 kg/ngày, 2 bữa/ngày); từ tuần 15 trở đi ăn cám CP 567 (3,5 - 4 kg/ngày). Nái chờ đẻ được đưa lên chuồng trước 7 - 10 ngày, giảm ăn trước ngày đẻ 3 ngày xuống 0,5 kg/bữa. Lợn con sinh ra được cắt rốn, bấm nanh, bấm đuôi, tập ăn sớm bằng cám CP 550 từ 5 - 6 ngày tuổi.
    • Vệ sinh sát trùng: Tấm đan chuồng đẻ sau cai sữa được tháo ngâm dung dịch NaOH 10% trong 1 ngày, rửa sạch, phơi khô; khung và gầm chuồng tiêu độc bằng dung dịch vôi xút và vôi bột.
    • Lịch tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn: Thực hiện tiêm Fe (2 - 3 ngày tuổi), Nova-Ampisur (phòng tiêu chảy lúc 2 - 3 ngày), Nova-Coc 5% (cầu trùng lúc 3 - 6 ngày), Respi-sure (suyễn lúc 7 ngày), Coglapest (dịch tả lúc 16 - 18 ngày), phó thương hàn (28 ngày), Aftopor (lở mồm long móng lúc 42 ngày); đàn lợn nái và hậu bị được tiêm định kỳ vắc xin Parvo (khô thai), Begonia (giả dại), Coglapest và Aftopor.
    • Kết quả điều trị và thủ thuật lâm sàng: Trực tiếp điều trị khỏi 2/2 nái mắc viêm tử cung (đạt 100% bằng phác đồ kết hợp Oxytocin, Analgin và Vetrimoxin); điều trị khỏi 13/15 lợn con mắc bệnh phân trắng bằng Norfacoli (đạt 86,67%); điều trị khỏi 53/65 ca tiêu chảy lợn con (đạt 81,54%); điều trị khỏi 76/82 ca viêm phổi bằng phác đồ phối hợp Tylogenta, Vetrimoxin và Tiamuline (đạt 92,68%); thực hiện bấm răng nanh và cắt đuôi cho 82 lợn con an toàn 81 con (đạt 98,7%); tiêm phòng vắc xin phó thương hàn cho 144 lợn con và vắc xin lở mồm long móng cho 30 lợn nái đạt tỷ lệ bảo hộ an toàn 100%.

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học

Chuyên đề tập trung đánh giá tác động của việc bổ sung chế phẩm Ferrum - B12 lên sinh trưởng tích lũy và sinh trưởng tuyệt đối của đàn lợn con F2 qua các mốc thời gian theo dõi:

  • Tốc độ sinh trưởng tích lũy: Khối lượng sơ sinh của hai lô tương đồng nhau (lô ĐC đạt 1,20 kg/con; lô TN đạt 1,19 kg/con; sai khác không có ý nghĩa thống kê với $P > 0,05$). Sau khi tiêm Ferrum - B12 tại thời điểm 5 ngày tuổi, khối lượng lợn con lô TN vượt lên rõ rệt ở tất cả các thời điểm cân định kỳ (15, 30, 45 và 60 ngày tuổi).
  • Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối: Tăng trọng bình quân ngày của lợn con ở lô TN liên tục cao hơn lô ĐC ở tất cả các giai đoạn kế tiếp (Ss - 15 ngày, 16 - 30 ngày, 31 - 45 ngày và 46 - 60 ngày tuổi). Chênh lệch tăng trọng ngày mở rộng mạnh nhất ở giai đoạn cai sữa và sau cai sữa (từ 31 đến 60 ngày tuổi).
  • Cơ chế tác động: Tác giả lý giải kết quả trên dựa trên vai trò sinh học của sắt kết hợp vitamin B12 trong chế phẩm. Việc bổ sung sắt ngoại sinh kịp thời ở ngày tuổi thứ 5 đã chủ động bù đắp khoảng trống thiếu hụt sắt sinh lý do sữa mẹ cung cấp không đủ, duy trì nồng độ hemoglobin ổn định trong hồng cầu. Lợn con không bị hội chứng bần huyết, chuyển hóa dinh dưỡng tốt hơn, nâng cao sức đề kháng, từ đó giảm tỷ lệ rối loạn tiêu hóa và hạn chế sự tổn hại nhung mao ruột do tiêu chảy gây ra.

Kết quả và đóng góp

Các số liệu thực nghiệm được tổng hợp chi tiết qua các bảng so sánh giữa Lô Đối chứng (ĐC) và Lô Thí nghiệm (TN) như sau:

STT Chỉ tiêu thời điểm cân Khối lượng Lô ĐC (kg/con) Hệ số biến động Cv Lô ĐC (%) Khối lượng Lô TN (kg/con) Hệ số biến động Cv Lô TN (%) Mức chênh lệch khối lượng (kg/con) Tỷ lệ tăng so với ĐC (%) Mức ý nghĩa thống kê ($P$)
1 Sơ sinh $1,20 \pm 0,01$ 3,33 $1,19 \pm 0,01$ 3,36 -0,01 -0,83 $P > 0,05$
2 15 ngày tuổi $3,91 \pm 0,07$ 9,72 $4,01 \pm 0,06$ 7,48 +0,10 +2,56 -
3 30 ngày tuổi $7,64 \pm 0,08$ 5,52 $7,96 \pm 0,05$ 3,64 +0,32 +5,85 -
4 45 ngày tuổi $12,84 \pm 0,09$ 4,05 $13,50 \pm 0,07$ 2,74 +0,66 +5,14 -
5 60 ngày tuổi $18,02 \pm 0,10$ 2,76 $19,07 \pm 0,09$ 2,78 +1,05 +5,83 $P < 0,001$

Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối qua các thời kỳ:

STT Giai đoạn theo dõi (ngày tuổi) Sinh trưởng tuyệt đối Lô ĐC (g/con/ngày) Sinh trưởng tuyệt đối Lô TN (g/con/ngày) Mức chênh lệch tăng trọng tuyệt đối (g/con/ngày) Tỷ lệ tăng so với Lô ĐC (%)
1 Sơ sinh - 15 ngày 181 188 +7 +3,87
2 16 - 30 ngày 249 263 +14 +5,62
3 31 - 45 ngày 347 369 +22 +6,34
4 46 - 60 ngày 345 371 +26 +7,53

Những phát hiện và đóng góp chính của nghiên cứu:

  • Tăng cường khả năng tích lũy thể trọng: Việc sử dụng Ferrum - B12 giúp lợn con đạt thể trọng bình quân 19,07 kg/con lúc 60 ngày tuổi, cao hơn 1,05 kg/con (+5,83%) so với lô không sử dụng chế phẩm ($18,02$ kg/con), sự khác biệt đạt độ tin cậy thống kê rất cao ($P < 0,001$).
  • Cải thiện độ đồng đều đàn lợn: Hệ số biến dị khối lượng ($Cv$) của lô thí nghiệm duy trì ở mức thấp hơn lô đối chứng ở các giai đoạn tăng trưởng chính (tại 15 ngày tuổi đạt 7,48% so với 9,72%; tại 30 ngày tuổi đạt 3,64% so với 5,52%; tại 45 ngày tuổi đạt 2,74% so với 4,05%), chứng minh việc bổ sung sắt giúp đàn lợn con phát triển đồng đều, giảm số cá thể còi cọc.
  • Giải pháp và kiến nghị ứng dụng: Tác giả kiến nghị đưa quy trình tiêm bắp chế phẩm Ferrum - B12 với liều lượng 2 ml/con vào ngày tuổi thứ 5 thành quy trình thú y bắt buộc cho lợn con theo mẹ; đồng thời kiến nghị cơ sở chăn nuôi cần giải quyết dứt điểm vấn đề cung cấp nước uống trong mùa nắng nóng, cải tạo hệ thống xử lý nước thải và thay thế trang thiết bị hư hỏng nhằm đảm bảo an toàn sinh học.
  • Đóng góp khoa học tự nêu: Khóa luận cung cấp số liệu thực nghiệm chứng minh hiệu quả kích thích sinh trưởng rõ rệt của phức hợp sắt - vitamin B12 trên con lai thương phẩm F2 [Yorkshire × (Móng Cái × Yorkshire)], khẳng định đây là giải pháp kỹ thuật phòng ngừa suy nhược và tăng trọng lượng cai sữa cho lợn con trong điều kiện chăn nuôi trang trại tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số điểm hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực nghiệm được ghi nhận:

  • Quy mô và đối tượng khảo nghiệm: Đề tài giới hạn khảo nghiệm trên một công thức lai đơn nhất là lợn lai F2 [Yorkshire × (Móng Cái × Yorkshire)] với tổng số mẫu 60 cá thể (30 con/lô thuộc 3 ổ nái) tại một trang trại duy nhất (Trại lợn Điền Mừng, Ninh Bình), chưa thực hiện lặp lại trên các giống lợn ngoại thuần hoặc tổ hợp lai ba, bốn giống khác.
  • Thời gian theo dõi: Chỉ tiêu thực nghiệm mới dừng lại ở mốc 60 ngày tuổi (kết thúc giai đoạn lợn con giống), chưa theo dõi liên tục ảnh hưởng tồn dư của chế phẩm đến tốc độ sinh trưởng, chất lượng thịt và tiêu tốn thức ăn trong giai đoạn lợn thịt nuôi vỗ béo đến khi xuất chuồng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả đề xuất mở rộng thử nghiệm trên các tổ hợp giống lợn khác nhau và các điều kiện phương thức chăn nuôi công nghiệp; tiến hành nghiên cứu so sánh đối chứng giữa các mức liều lượng và thời điểm tiêm khác nhau để xác lập phác đồ tối ưu; đồng thời theo dõi toàn diện chỉ số FCR và hiệu quả kinh tế đến giai đoạn kết thúc nuôi thịt.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y; kỹ thuật viên thú y cơ sở; chủ trang trại và hộ chăn nuôi lợn sinh sản, lợn thịt thương phẩm.
  • Các nội dung đáng tham khảo chuyên sâu:
    • Quy trình kỹ thuật can thiệp sơ sinh cho lợn con: Cắt rốn, bấm nanh, cắt đuôi, làm ổ úm và quy trình tập ăn sớm từ ngày tuổi thứ 5 - 6 bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh.
    • Lịch tiêm phòng vắc xin chi tiết cho từng đối tượng lợn (lợn con, nái hậu bị, nái chửa) và quy trình khử trùng chuồng trại bằng dung dịch xút (NaOH 10%), vôi bột.
    • Phác đồ điều trị lâm sàng hiệu quả thực tế đối với bệnh viêm tử cung ở nái đẻ, bệnh phân trắng và tiêu chảy lợn con, viêm phổi do Mycoplasma.
    • Phương pháp thiết kế thí nghiệm chia lô so sánh, phương pháp cân đo và các công thức tính toán chỉ tiêu sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối trong nghiên cứu chăn nuôi thực nghiệm.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao lợn con giai đoạn bú sữa lại có nhu cầu cấp thiết phải tiêm bổ sung chế phẩm chứa sắt?

Theo số liệu trình bày trong khóa luận, lợn con cần từ 7 - 10 mg Fe mỗi ngày để đảm bảo sinh trưởng và tổng hợp hemoglobin cho máu, nhưng lượng sắt tiếp nhận qua sữa mẹ chỉ đạt khoảng 1 mg Fe/ngày. Do đó, lợn con bú mẹ nhanh chóng bị cạn kiệt lượng sắt dự trữ sau vài tuần đầu, dẫn tới hiện tượng thiếu máu sinh lý, suy giảm sức đề kháng và rất dễ cảm nhiễm bệnh tiêu chảy nếu không được can thiệp tiêm bổ sung sắt ngoại sinh.

Chế phẩm Ferrum - B12 được sử dụng có quy cách và liều dùng như thế nào trong thí nghiệm?

Chế phẩm do Công ty Marphavet sản xuất, chứa phức hợp Ferrum kết hợp Dextran và Cyanocobalamin (Vitamin B12 hàm lượng 55 mcg), được đóng chai 20 ml và 100 ml. Trong thí nghiệm trên đàn lợn con F2, chế phẩm được tiêm sâu vào bắp thịt với liều lượng 2 ml/con tại thời điểm 5 ngày tuổi.

Mức độ chênh lệch về khối lượng giữa lô tiêm Ferrum - B12 và lô đối chứng lúc 60 ngày tuổi đạt bao nhiêu?

Lúc 60 ngày tuổi, lợn con ở Lô Thí nghiệm đạt khối lượng trung bình $19,07 \pm 0,09$ kg/con, cao hơn Lô Đối chứng ($18,02 \pm 0,10$ kg/con) là 1,05 kg/con, tương ứng tỷ lệ vượt 5,83%. Sai khác này có ý nghĩa thống kê rất cao với $P < 0,001$.

Phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên lợn nái được tác giả áp dụng thực tế tại trang trại gồm những loại thuốc nào?

Phác đồ điều trị gồm: Tiêm bắp Oxytocin (3 - 5 ml/con), tiêm Analgin (1 ml/10 kg thể trọng/ngày) và tiêm Vetrimoxin (1 ml/10 kg thể trọng/lần, cách 2 ngày tiêm một lần), duy trì liệu trình điều trị liên tục từ 3 - 6 ngày. Phác đồ này đã điều trị khỏi hoàn toàn 2/2 lợn nái mắc bệnh tại trại (tỷ lệ khỏi 100%).

Cơ sở hạ tầng và quy mô đàn giống tại Trại chăn nuôi Điền Mừng được ghi nhận như thế nào?

Trại có quy mô diện tích 1,5 ha, bao gồm khu chuồng nuôi thiết kế hở diện tích 0,8 ha với 10 sàn đẻ và 30 ô chuồng chờ phối và chửa. Đàn giống thường xuyên gồm 30 lợn nái ngoại Yorkshire, 1 đực giống lai PiDu dùng khai thác tinh nhân tạo và 300 lợn thịt thương phẩm; đàn nái đạt năng suất 2,1 - 2,25 lứa/năm với số con sơ sinh bình quân 11,23 con/đàn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Văn Đậm đã kết hợp chặt chẽ giữa việc thực hiện công tác kỹ thuật chăn nuôi - thú y thực tế tại Trại lợn Điền Mừng với nghiên cứu chuyên đề thực nghiệm chia lô so sánh có độ tin cậy khoa học. Kết quả nghiên cứu xác nhận việc tiêm bắp 2 ml chế phẩm Ferrum - B12 cho lợn con lai F2 lúc 5 ngày tuổi đã kích thích sinh trưởng vượt trội, giúp lợn con lúc 60 ngày tuổi đạt khối lượng $19,07$ kg/con (cao hơn đối chứng 5,83% với $P < 0,001$) và nâng cao độ đồng đều của toàn đàn. Đây là tài liệu thực nghiệm có giá trị tham khảo thiết thực cho sinh viên ngành Chăn nuôi Thú y cũng như các cơ sở sản xuất lợn giống thương phẩm trong việc chuẩn hóa quy trình chăm sóc lợn con theo mẹ.