Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh thương hàn ở gà Thương hàn là bệnh truyền nhiễm ở gà do vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum gây ra. Bệnh ở thể cấp tính ở gà con và mãn tính ở gà lớn. Đặc điểm của bệnh là gây viêm, hoại tử niêm mạc đường tiêu hóa và các cơ quan phủ tạng.
Trước đây người ta cho rằng đây là 2 loại vi khuẩn gây ra 2 bệnh khác nhau trên gà. Salmonella pullorum: gây bệnh bạch lỵ gà con và Salmonella gallinarum gây bệnh thương hàn gà lớn. Hiện nay người ta thấy khi phân lập căn bệnh từ gà con hoặc gà lớn ốm đều thấy cả 2 loại vi khuẩn, kiểm tra đặc tính sinh học chúng chỉ khác nhau ở một vài đặc tính về chuyển hóa đường. Vì thế bệnh được gọi chung là Salmonellosis do trực khuẩn Salmonella gallinarum pullorum gây ra cho gà ở mọi lứa tuổi (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2012)[14].
Căn bệnh Vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum phân bố rộng rãi trong tự nhiên, sống lâu trong phân (3 tháng) và đất nền chuồng (2 năm). Nhưng đề kháng kém với nhiệt độ và hóa chất: ở 550 C bị tiêu diệt sau 20 phút, các chất khử trùng thông thường như xút, phenic, formon tiêu diệt vi khuẩn nhanh chóng. Theo Shivaprasad và cs (1997)[62] cũng giống như các vi khuẩn khác, S. pullorum lây truyền qua nhiều đường.
Gia cầm nhiễm bệnh đóng vai trò quan trọng lớn nhất như là vật mang trùng lây lan mầm bệnh. Vai trò đầu tiên đã được xác nhận chính là trứng ấp bị nhiễm khuẩn lây truyền hai mầm bệnh kể trên, do sự có mặt của S. pullorum trong các noãn hoàng trước khi trứng được đẻ ra. Phương thức lây truyền này được xác nhận là phương thức lây truyền chính.
Sự lây truyền mầm bệnh có thể xẩy ra trong đàn gà bị mổ cắn, ăn trứng và qua các vết thương ở da và ở bàn chân. Phân gà nhiễm bệnh, thức ăn, nước uống và chất độn chuồng bị ô nhiễm cũng là nguồn lây truyền mầm bệnh. n 4 Các động vật nhiễm Salmonella có thể trở thành vật mang trùng dưới dạng mãn tính không thể hiện triệu chứng lâm sàng. Khả năng đề kháng của gia cầm trưởng thành với S.
pullorum rất cao, nên ít khi nổ ra thành dịch bệnh lớn. Vi khuẩn Salmonella thường thấy ở đường ruột, túi mật của gia súc khỏe, phổ biến nhất là S. Vi khuẩn gallinarum – pullorum có thể lây bệnh cho gà, gà tây, gà sao và các loại chim bồ câu, chim trĩ, chim sẻ, vẹt, đối với vịt, ngan, ngỗng cũng bị nhiễm và mắc do vi khuẩn này. Bệnh thương hàn do vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum gây nên.
Vi khuẩn này không có lông và không di động được (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)[34]. * Đặc tính nuôi cấy Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001)[34] Salmonella gallinarum pullorum là loại vi khuẩn hiếu khí dễ nuôi cấy trên các môi trường thông thường. - Môi trường thạch thường: trên mặt thạch, sau 24 giờ vi khuẩn mọc thành khuẩn lạc nhỏ như hạt sương màu tro trắng, đôi khi dính liền với nhau thành một lớp màng mỏng màu xanh nhạt. - Môi trường nước thịt: gây đục nhẹ, có cặn trắng ở đáy ống.
- Gelatin: hình thành màng mỏng hơi mờ trên mặt, khuẩn lạc nhỏ, không trong suốt, chạy dài theo đường cấy sâu, gelatin không tan chảy. * Cấu trúc kháng nguyên Vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum thuộc nhóm D có cấu trúc kháng nguyên: S, I, IX, XII. Kháng nguyên XII lại bao gồm 3 yếu tố: XII1, XII2, XII3 tùy từng chủng, song chỉ có yếu tố XII2 là biến đổi nên trong chẩn đoán huyết thanh học cần chú ý đến yếu tố kháng nguyên này (Nguyễn Như Thanh, 2001)[34]. * Sức đề kháng của Salmonella gallinarum pullorum Trong nước ở nhiệt độ thường vi khuẩn gây bệnh sống hơn 200 ngày, trong phân gà ở nhiệt độ ẩm nhất định có thể tồn tại hơn 100 ngày, trong đất 14 tháng.
Đun 600C vi khuẩn chết sau 30 phút, đun sôi chết sau 1 phút. n 5 Các chất sát trùng tiêu độc tác động nhanh tới vi khuẩn: axit phenic 5% và HgCl2 1/1000 giết chết vi khuẩn sau 30 giây, focmol 1% sau 5 phút, thuốc tím 1‰ và clorua vôi giết chết vi khuẩn sau 20 phút (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)[34]. Triệu chứng Thời gian nung bệnh phụ thuộc vào độ tuổi và sức đề kháng của con vật khi bị nhiễm bệnh, thường kéo dài từ 2-14 ngày. Triệu chứng, bệnh tích của gà con nở ra từ trứng bị nhiễm Salmonella thể hiện ngay trong máy ấp nở hay ngay sau khi gà nở ra.
Thường thì trứng gà mang trùng đến ngày nở gà con không làm vỡ vỏ trứng để chui ra nên bị chết ngạt. Số còn lại sau nở thường ốm yếu và phát bệnh ngay sau đó. Những gà bị nhiễm trùng sau nở có triệu chứng muộn hơn, khoảng từ 3-10 ngày. Gà bệnh ốm yếu có trọng lượng nhỏ hơn nhiều so với các con khác.
Bụng gà trễ xuống do lòng đỏ không tiêu. Gà thường kêu xao xác, đứng tụm lại ở góc sân, góc chuồng, mệt mỏi, xù lông, xã cánh. Nền có những bãi phân trắng, hậu môn gà bết đầy phân, gà nọ mổ vào hậu môn gà kia có thể làm chảy máu. Phần lớn gà bệnh chết sau 2-3 ngày và có thể kéo dài 1-2 tuần.
Tỷ lệ chết cao ở giữa tuần thứ nhất đến tuần thứ 3. Sang tuần thứ 4 bệnh dừng lại. Gà đẻ bị bệnh thường ở thể mãn tính, gà bệnh ủ rũ, gầy yếu, xù lông. Bệnh lý ở buồng trứng dẫn đến viêm phúc mạc làm xoang này tích nước trương to, do vậy gà đứng như chim cánh cụt.
Gà mái giảm đẻ, vỏ trứng xù xì, lòng đỏ có máu. Gà trống ỉa chảy triền miên và có thể chết đột ngột do viêm hoại tử các cơ quan phủ tạng. Gà bệnh thường ỉa chảy, phân trắng bết quanh hậu môn và kéo dài liên tục, nhiều ngày, gà gầy yếu dần, mào tái do thiếu máu và dẫn tới chết sau vài tuần mắc bệnh. Tỷ lệ gà ốm và chết thường phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ tuổi lây nhiễm, dinh dưỡng và quy trình chăm sóc.
Tỉ lệ chết cao nhất ở giai đoạn 2 tuần sau khi gà nở, sau đó giảm dần vào tuần thứ 3 và tuần thứ 4 (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2012)[14]. Bệnh tích Bệnh tích ở gà con thấy xuất hiện lòng đỏ không tiêu. Thông thường sau nở 8- 10 ngày lòng đỏ đã tiêu hết nhưng trong trường hợp này gà chết ở tuần thứ 2-4 mà lòng đỏ vẫn tồn tại, có màu vàng xám, mùi thối. n 6 Lách sưng to gấp 2-3 lần.
Ruột tụ máu hoặc xuất huyết. Bệnh nặng thì niêm mạc ruột loét, trực tràng hoại tử. Ở gà đẻ thường thấy buồng trứng bị thoái hóa, đa phần buồng trứng bị viêm, teo, có nhiều đám nhăn màu vàng đục, nhiều noãn hoàng méo mó dị hình, nhiều vùng viêm tấy, xuất huyết. Đa phần trứng vỡ trong ổ bụng gây viêm phúc mạc, ruột dính do fibrin kéo thành màng, bao bọc.
Tinh hoàn gà trống bị viêm, sưng tấy hoặc có nốt hoại tử, nhiều con khớp gối bị viêm, đi lại khó khăn và không đạp mái được (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1978)[25]. Đặc điểm của vi khuẩn salmonella 1. Đặc điểm hình thái Theo Lê Văn Tạo (1994)[33] thời gian gần đây nhờ kính hiển vi điện tử, bằng phương pháp nhuộm của Haschem (1972) người ta phát hiện trên bề mặt vi khuẩn Salmonella ngoài lông còn có các cấu trúc fimbriae. Đây là một cấu trúc ngắn hơn lông vi khuẩn, thường có kết cấu hình xoắn, được mọc lên từ một hạt gốc nằm trên thành tế bào, có thể quan sát được dưới kính hiển vi điện tử có độ phóng đại từ 6.500 lần trở lên.
Trên mỗi tế bào vi khuẩn có từ 2- 400 fimbriae, với hai chức năng là giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột non để gây bệnh và liên kết với nhau để trao đổi thông tin di truyền bằng hình thức tiếp hợp, di truyền ngang. Vi khuẩn Salmonella nào có fimbriae để thực hiện tiếp hợp gọi là Salmonella F+ hay vi khuẩn cho. Vi khuẩn không có fimbriae gọi là Salmonella F- hay vi khuẩn nhận. Do fimbriae tạo ra bởi gen di truyền nằm trong ADN plasmid nên khả năng hình thành phụ thuộc vào môi trường nuôi cấy.
Môi trường tốt nhất để hình thành fimbriae là môi trường MINCA và BHI. Hiện nay có khoảng 2600 type Salmonella được phát hiện, tuy nhiên không phải tất cả đều gây bệnh cho người. Vi khuẩn Salmonella có hình gậy ngắn, 2 đầu tròn, kích thước 0,4-0,6 x 1-3, không hình thành giáp mô và nha bào. Đa số các loài Salmonella đều có khả năng di động mạnh do có từ 7-12 lông xung quanh thân.
Salmonella gallinarum và Salmonella pullorum gây bệnh cho gia cầm, không có lông, không có khả năng di động và thường có kích thước nhỏ hơn các Salmonella khác. Lông giúp vi khuẩn di động, có hình tròn, dài, xuất phát từ màng cytoplasma. Do có cấu trúc từ các sợi n 7 protein hình xoắn nên có thể co giãn, vì di động nên lông của chúng rất khó nhuộm, nếu nhuộm bằng phương pháp đặc biệt có thể nhận thấy bằng kính hiển vi thông thường. Lông có tính kháng nguyên và do các gen mã hóa tổng hợp protein riêng quy định.
Các gen mã hóa này dễ bị biến đổi dẫn tới mất khả năng tạo lông. pullorum đều không có lông nên chúng không di động và không có kháng nguyên lông. Vi khuẩn Salmonella dễ nhuộm với thuốc nhuộm, bắt màu Gram âm đều toàn thân hoặc ở 2 đầu (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)[34]. Đặc điểm nuôi cấy Salmonella vừa hiếu khí vừa kị khí không bắt buộc, dễ nuôi cấy, nhiệt độ thích hợp 370C nhưng có thể phát triển được ở nhiệt độ 6 - 420C, pH thích hợp là 7,2- 7,6; phát triển được ở pH 6-9.
Tuy nhiên, vi khuẩn có thể mọc ở 420C. Đặc tính này được ứng dụng trong phân lập Salmonella, nhằm ức chế sự phát triển của các vi khuẩn khác, trong trường hợp bệnh phẩm bị tạp nhiễm (Timoney và cs, 1988)[68]. Trong quá trình nuôi cấy, phân lập vi khuẩn Salmonella, người ta cần phải sử dụng một số môi trường. Có rất nhiều loại môi trường dinh dưỡng chọn lọc được dùng trong phân lập Salmonella, hiện nay thường dùng các loại như môi trường bồi dưỡng (tăng sinh) Buffered Pepton Water (BPW), môi trường tăng sinh chọn lọc đặc hiệu là Tetrathionate hay còn gọi là môi trường Muller-Kauffmann và Rappaport vassiliadis (RV).
Các loại môi trường thạch dùng để nhận dạng các khuẩn lạc Salmonella cũng như kiểm tra một số đặc tính sinh hoá bao gồm Brilliant Green Agar (BGA), Bismuth Sulfite Agar (BSA), Triple Sugar Ion (TSI), Xylose Lysine Deroxycholate (XLD), Xylose Lysine Tetrathionate 4 (XLT4), Modified Semisolid Rappaport vassiliadis (MSRV), Rambach, Kligler.