Đặt vấn đề Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi ở Việt Nam. Tổng đàn gia cầm cả nước năm 2001 là 218 triệu con, năm 2003 là 254 triệu con và năm 2005 chỉ còn 220 triệu con, năm 2006 là 214 triệu con. Tốc độ tăng dần năm 2001 – 2003 là 9,0%. Hàng năm chăn nuôi gà cung cấp khoảng 350 – 450 nghìn tấn thịt, chiếm khoảng 14 – 16% trong tổng sản phẩm các loại thịt và hơn 2,5 – 3,5 tỷ quả trứng.
Nhiều giống gia cầm cố năng suất cao được lai tạo, du nhập và sản xuất đã đem lại nhiều lợi nhuận cho người chăn nuôi (Đoàn Xuân Trúc, 20080) [20]. Năm 2006 cả nước có tren 7,9 triệu hộ chăn nuôi gia cầm, mỗi hộ trung bình nuôi 32 con. Hình thức chăn nuôi nhỏ hộ gia đình chiếm khoảng 68,5%. Chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp chiếm khoảng 31,5%.
Khi nghề chăn nuôi gà theo phương thức công nghiệp có xu hướng phát triển mạnh thì dịch bệnh cũng ngày càng tăng và mức độ lây lan rộng. Qua thực tiễn, bệnh mắc phổ biến và gây thiệt hại kinh tế lớn nhất trong chăn nuôi gà là bệnh hô hấp mãn tính, còn gọi là CRD (Chu Minh Khôi, 2001) [29]. Bệnh CRD là một trong những bệnh thường gặp về đường hô hấp ở gà, bệnh dẽ xảy ra trong điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều hay thời tiết thay đổi đột ngột do sức đề kháng của gia cầm giảm và sự mẫn cảm với bệnh tăng. CRD là tên viết tắt của bệnh Chronic Respiratory Disease còn gọi là hen gà do một loại Mycoplasma gây ra.
Bệnh không gây chết nhiều nhưng làm cho gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn cao, thuốc điều trị tốn kém, gà mái giảm đẻ, trứng gà bệnh chết phôi. Khi gà con khỏi bệnh chúng mang trùng suốt đời nên còn gọi là bệnh hô hấp mãn tính. Bệnh gây viêm xoang mắt, mũi, n 16 phế quản và túi khí… làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng chi phí chăn nuôi, làm giảm hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm. Đây là một bệnh mắc phổ biến và gây thiệt hại kinh tế lớn nhất trong chăn nuôi gà.
Để chăn nuôi gia cầm có hiệu quả thì vấn đề cần thiết là phải chú ý đến công tác phòng và trị bệnh cho gà nhất là bệnh CRD. Xuất phát từ thực tiến trên tôi tiến hành nghiên cứu đè tài: “Nghiên cứu sử dụng Tylosin trong phòng bệnh Chronic Respiratory Disease (CRD) ở đàn gà thả vườn tại thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên”. * Mục đích nghiên cứu - Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên đàn gà thả vườn theo lứa tuổi. - Xác định hiệu lực của thuốc Tylosin và Tetracyclin trong phòng và trị bệnh CRD ở gà thí nghiệm.
Kết quả thu được là cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp kỹ thuật thích hợp nhằm nâng cao khả năng sản xuất của đàn gà cơ sở. - Đánh giá ảnh hưởng của thuốc Tylosin và Tetracyclin tới tỷ lệ nuôi sống và khả năng sinh trưởng tích lũy cảu gà thí nghiệm. - Làm quen với việc tiến hành đề tài nghiên cứu khoa học. - Tìm hiểu một số kỹ năng ở người cán bộ chuyên môn thú y sau khi ra trường.
Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một vài nét về giống gà thí nghiệm * Nguồn gốc, đặc điểm gà Lương Phượng - Nguồn gốc: Gà Lương Phượng là giống gà kiêm dụng mông mafucos xuất xứ từ ven song Lương Phượng, do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) lại tạo thành công sau hơn chục năm nghiên cứu, sử dụng dòng giống địa phương và dòng mái nhập ngoại từ nước ngoài như gà Kakir, Discan… Gà Lương Phượng được nhập vào nước ta trong những năm gần đây. Gà Lương Phượng dễ nuôi, tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm và nhất là thịt thơm ngon nên được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng.
- Đặc điểm: Con mái lông màu vàng nhạt, điểm các đốm đen ở cổ, cánh. Con trống lông sặc sỡ nhiều mà: Sắc tía ở cổ, nâu cánh dán ở lung, nâu n 17 xanh đen ở đuôi. Da, mỏ, chân đều mùa vàng. Mào, tích, tai phát triển; mào đơn, đỏ tươi; ức sâu nhiều thịt, thịt thơm ngon.
Gà thích nghi cao với nuôi chăn thả và bán chăn thả. - Chỉ tiêu năng suất gà Lương Phượng Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2007) [26] cho biết: Khối lượng gà Lương Phượng nuôi thịt đến 12 tuần tuổi là 2,0 – 2,5kg; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 3,0 – 3,2kg. Khối lượng gà vào lúc đẻ: 1,9 – 2,1kg (gà mái); 2,8 – 3,2 (gà trống). Sản lượng trứng/ 10 tháng đẻ là 150 – 170 quả/mái.
Tỷ lệ ấp nở 80 – 85%. * Nguồn gốc, đặc điểm gà Mía Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu (1999) [22] cho biết: Gà Mía có nguồn gốc từ Trùng Thiên, Sơn Tây. Gà trống có màu lông đỏ sẫm xen kẽ lông đen ở đuôi, đùi, lườn, hai hàng lông cánh chính xanh biếc. Con mái có màu lông vàng nhạ xen kẽ lông đen ở cánh và đuôi, lông cổ có màu nâu.
Gà Mía là giống gà hướng thịt, có tầm vóc to, ngoại hình thô, đi lại chậm. - Trọng lượng trưởng thành: Gà mái 2,5 – 3kg; gà trống 4,4kg. - Thời gian đạt trọng lượng thịt: 5 tháng. - Sản lượng trứng ấp: 55-60 quả/năm.
-Thời gian gà mái bắt đầu đẻ: 7 tháng. * Đặc điểm gà lai F1 (trống mía x mái Lương Phượng): Gà lai F1 giữa trống và mái Lương Phượng là gà lông màu có chất lượng cao, có khả năng thích nghi cao với điều iện khí hậu nước ta, tốc độ sinh trưởng và trao đỏi chất nhanh , sức đề kháng cao, chất lượng thịt thơm ngon, hiệu quả kinh tế lớn, thích hợp với phương thức nuộ nhốt, bán chăn thả, chăn thả. Đặc điểm sinh lý, giải phẫu cơ quan hô hấp của gia cầm Theo Nguyễn Sinh Hoan và cs (1998) [5] cho biết: hệ hô hấp của gia cầm gồm: lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, hai phế quản, hai phổi + 9 túi khí. - Hai lỗ mũi nằm ở gốc mũi và có đường kính rất nhỏ.
Ở gà, phía ngoài 2 lỗ mũi có “van mũi hóa sừng bất động” và xung quanh lỗ mũi có lông cứng nhằm ngăn ngừa bụi và nước. n 18 - Xoang mũi được phát triển từ xoang miệng sơ xấp ở ngày ấp thứ 7. Xoang mũi ngắn, chia ra 2 phần: Phần xương và phần sụn. Xoang mũi nằm ở mỏ trên.
Xoang mũi là cơ quan thu nhận và lọc khí rồi chuyển vào khí quản, ở gà thanh quản dưới có 2 nếp gấp liên kết, 2 nếp gấp đó bị giao động bởi không khí và tạo nên âm thanh. - Khí quản là ống tương đối dài bao gồm nhiều vòng sụn và nhiều vòng hóa xương. Số vòng khí quản ở gà là 110 -120 và hầu hết là sụn, còn ở thủy cầm hầu hết đã hóa xương. Khí quản tương đối cong queo, thành khí quản được tạo bởi màng nhầy, màng xơ đàn hồi và mang thanh dịch ngoài.
- Khí quản chia ra làm hai phế quản ở xoang ngực phía sau xương ngực. Mỗi phế quản dài 6 -7cm và có đường kính 5 – 6mm. Một ống phế quản nối với lá phổi bên trái, còn một ống nối với lá phổi bên phải. Thành phế quản cấu tạo bởi màng nhầy ( ở đó có nhiều tuyến nhỏ tạo ra các dịch nhầy, màng xơ đàn hồi), có các bán khuyên sụn trong suốt và thanh dịch ngoài.
- Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ở cuối khí quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phổi có màu dạng phế quản. Ở ngày ấp thứ 9 phổi đang phát triển và chia ra mạng lưới phế quản, ở phần cuối của nó hình thành các ống hô hấp. Phổi của gia cầm màu đỏ tươi, cấu trúc xốp có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi. Phổi nằm ở xoang ngực phía trục xương sống từ trục xương sườn thứ nhất đến mép trước của thận.
Trọng lượng của phổi vào khoảng 1/180 thể trọng gia cầm, phụ thuộc vào tuổi của loài, phổi gà 9g. Chức nang chính cảu phổi làm nhiệm vụ trao đổi khí. - Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí. Các túi khí là sự mở rộng và tiếp dài của phế quản.
Cơ thể gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó có 4 đôi xếp đối xứng còn 1 túi khí đơn. Các đôi túi khí xếp đối xưng là đôi túi khí xương đòn, đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng. Túi khí đơn là túi khí cổ. Các túi khí thực ra không phải là xoang tận cùng của phế quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ.
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [16] cho biết: Tần số hô hấp giao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành n 19 phần không khí. Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định. Gia cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ. Ban đêm tần số hô hấp giảm chậm xuống 30 – 40%.
Nhiệt độ tăng thì tần số hô hấp cũng tăng. Nếu nhiệt độ tăng tới 370C thì nhịp thở của gà lên tới 150 lần/phút. Tần số hô hấp ở gà trưởng thành là 25 – 45 lần/phút. Gà từ 4- 20 ngày tuổi là 30 – 40 lần/ phút.
Cơ chế hô hấp của gia cầm gồm động tác hít vào và động tác thở ra với sự hoạt động của phổi và hệ thống 9 túi khí chính. Vận động của xương sườn đóng vai trò quan trọng trong cử động hô hấp. Lúc giãn, không khí xoang ngực giãn và mở rộng làm cho áp lực xoang ngực thấp hơn áp lực xoang bên ngoài, do đó không khí từ ngoài đi vào trong phổi. Lúc hít vào, không khí qua phổi vào các nhánh nhỏ và vào các túi khí.
Lúc thở ra thì ngược lại, không khí đi từ các túi khí đi ra ngoài qua phổi lần thứ 2, vì vậy người ta gọi là cơ chế hô hấp kép. Vì phổi gia cầm nhỏ nhưng do không khí tuần hoàn hai lần nên trọng lượng oxygen cung cấp vẫn đảm bảo. Trong thời gian ngủ quá trình trao đổi chất nói chung giảm xuống 50%.