Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Sán dây ký sinh ở gà 1. Vị trí của sán dây ký sinh ở gà trong hệ thống phân loại động vật Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về các loại sán dây ký sinh ở gà.
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [36], trong giới động vật, lớp sán dây thuộc ngành giun dẹt - Plathelminthes Schnerder, 1873. Sán dây là 1 trong 4 lớp (Mononenea, Trematoda, Cestoda, Mesozoa) của ngành này, chỉ có các đại diện có đời sống ký sinh, không có các đại diện sống tự do. Chúng ký sinh ở tất cả các lớp của động vật có xương sống: chim, thú, bò sát, ếch nhái. Cho đến nay, các nghiên cứu trên thế giới đã phát hiện được trên ba nghìn loài sán dây, ở Việt Nam đã phát hiện được 148 loài sán dây ký sinh ở người và động vật (Nguyễn Thị Kỳ, 2003) [9].
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [36], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê (1996) [16], Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [25], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev 1970 để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam, trong đó sán dây ký sinh ở gà có vị trí như sau: Ngành giun dẹp (Plathelminthes) Lớp Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930 Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Davaineata Skrjabin, 1940 Họ Davaineidae Fuhrmann, 1907 Phân họ Davaineidae Braun, 1900 Giống Cotugnia Diamare, 1893 Loài Cotugnia digonopora Pasquale, 1890 n 4 Giống Davainea Blanchard, 1891 Loài Davainea proglottina (Davaine, 1860) Giống Raillietina Fuhrmann, 1920 Phân giống Raillietina Stiles et Orleman, 1926 Loài R. echinobothrida Megnin, 1881 Loài R. penetrans Baczyncka, 1914 Loài R. penetrans novo Johri, 1934 Loài R.
peradenica Sawada, 1957 Loài R. tetragona Dolin, 1858 Loài R. volzi Fuhrmann, 1905 Phân giống Raillietina (Paroniella) Fuhrmann, 1920 Loài R.) macassariensis Yamaguti, 1956 Loài R.) tinguiana Tubangui et Masilungan, 1937 Phân giống Raillietina (Skrjabinia) Fuhrmann, 1920 Loài R. Thành phần loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam Năm 1977, Nguyễn Thị Kỳ đưa ra danh sách 12 loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam (Phan Thế Việt và cs 1977) [36].
Đến năm 1996, Nguyễn Thị Kỳ đã phát hiện và bổ sung thêm 6 loài sán dây ký sinh ở gà nước ta, đưa tổng số loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam lên 18 loài (Nguyễn Thị Lê và cs 1996) [16]. Tuy nhiên, sau một thời gian dài nghiên cứu tu chỉnh phần sán dây trong chương trình động vật chí Việt Nam (1998 - 2003), Nguyễn Thị Kỳ đã bỏ loài Microsomacanthus pavula do không có mẫu chuẩn và tài liệu thiếu chính xác. Như vậy, cho tới nay, có 17 loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam, thuộc 1 bộ, 2 phân bộ, 3 họ và 8 giống (Nguyễn Thị Kỳ, 2003) [9]. Nguyễn Thị Lê (1996) [16] cho biết, gà ở nước ta nhiễm các loài sán dây là: Cotugnia digonopora, Davainea proglottina, R.
Nguyễn Thị Ngân (2012) [22] cho biết: gà nuôi ở tỉnh Thái Nguyên nhiễm 6 loài sán dây thuộc họ Davaineidae, lớp Cestoda, gồm: R. macassariensis, Cotugnia digonopora. cesticillus thuộc giống Raillietina; loài Cotugnia digonopora thuộc giống Cotugnia. Đây là 6 loài sán dây phổ biến và gây tác hại lớn cho gà của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Đặc điểm hình thái, cấu tạo một số loài sán dây ký sinh ở gà 1. Đặc điểm chung Cơ thể sán dây dẹp theo hướng lưng bụng, kéo dài gồm nhiều đốt riêng biệt, sán dây ký sinh ở cá, cơ thể không phân đốt. Phần trước cơ thể có đầu (Scolex), có cơ quan bám, giúp vật ký sinh bám chặt vào thành ruột của vật chủ. Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng.
Giác bám là đặc trưng của sán dây bậc cao. Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng. Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ số đơn vị đến vài trăm móc. Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài.
Cổ không phân đốt là vùng sinh trưởng, từ đó hình thành các đốt mới, số lượng các đốt dao động rất lớn tuỳ loài, từ ba đốt đến vài trăm đốt. Các đốt ở phía trước là các đốt non và bé, càng về sau các đốt càng lớn và già. Chiều dài của sán dây dao động từ 0,5 mm - 250 mm. Chiều dài của sán dây ký sinh ở gia cầm từ 1,5 mm - 500 mm.
Cơ thể màu trắng hoặc màu vàng. Cơ thể sán dây phủ lớp tiểu bì, đến lớp hạ bì rồi đến lớp cơ vòng, cơ dọc. Phần bên trong chứa đầy nhu mô. Nội quan gồm có hệ thần kinh, hệ bài tiết và hệ sinh dục, không có hệ tiêu hoá.
Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó có các dây chạy dọc cơ thể. Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang. Hệ bài tiết của sán dây theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 4 ống chính chạy dọc cơ thể: 2 ống mặt lưng và 2 ống mặt bụng và nối với nhau ở phần đầu. Ngoài ra ở mỗi đốt các ống trái và phải nối với nhau bằng cầu nối ngang.
n 6 Hầu hết các loài sán dây có hệ sinh dục lưỡng tính. Mỗi đốt có một, hai cơ quan sinh dục đực và cái. Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái. Sau khi thụ tinh, hệ sinh dục đực teo dần còn lại bộ phận sinh dục cái.
Ở các đốt già trứng chứa đầy trong tử cung. Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh. Số lượng tinh hoàn có thể rất khác nhau từ một đến vài trăm. Mỗi tinh hoàn có ống dẫn đổ vào ống dẫn tinh chung hoặc thẳng hoặc cong và cuối cùng mở ra ở huyệt sinh dục (bên cạnh lỗ sinh dục cái).
Phần cuối ống dẫn tinh là cơ quan giao phối (nang lông gai) chứa gai giao phối phủ các gai nhỏ hoặc vảy. Trước gai giao phối, ống dẫn tinh phình rộng tạo thành túi chứa tinh. Có thể có túi chứa tinh ngoài (ở ngoài túi giao phối) và túi chứa tinh trong (nằm trong túi giao phối). Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Melis) và tử cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước.
Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng). Từ buồng trứng có ống gắn nối với âm đạo mở ra ở huyệt sinh dục. Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh. Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp.
Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng. Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ootyp giúp cho việc hình thành trứng. Tuyến vỏ tiết ra các sản phẩm cần thiết để hình thành trứng. Trong ootyp trứng thụ tinh được hình thành, sau đó trứng rơi vào tử cung.
Cấu tạo tử cung của sán dây rất khác nhau. Ở sán dây bậc thấp (Pseudophyllidea), tử cung là những ống cong dẫn từ ootyp đến lỗ ngoài nằm ở mặt bụng của mỗi đốt. Ở những đốt sán dây này trứng được thải ra ngoài tuỳ theo mức độ hình thành của trứng. Ở sán dây bậc cao (Cyclophyllidae), tử cung kín, không có lỗ ngoài.
Ở những sán dây này tử cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗt đốt thực chất biến thành một cái túi chứa trứng. Trứng được rơi ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt. Quá trình này thường thực hiện ở môi trường ngoài, ở nơi mà các đốt sán dây già được thải ra cùng với phân vật chủ (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [16]. Về đặc điểm hình thái, kích thước của một số loài sán dây ký sinh ở gà - Các loài thuộc giống Raillietina Fuhrmann, 1920: Chuỗi đốt có nhiều đốt, vòi có hai hàng móc dạng búa, bờ của giác bám có vài hàng gai nhỏ.
Tinh hoàn thường nhiều, nang lông gai nhỏ, thường không đạt tới ống bài tiết bên, rất ít khi cắt ngang ống bài tiết. Lỗ sinh dục ở một phía hoặc xen kẽ không đều. Buồng trứng hai thuỳ ở giữa đốt hoặc phần có lỗ. Noãn hoàng hình khối, nằm dưới buồng trứng, có túi tinh.
Mỗi nang trứng chứa từ một đến vài trứng. Sán trưởng thành ký sinh ở thú và chim, ấu trùng ký sinh ở côn trùng (Đặng Ngọc Thanh và cs, 2008) [25]. Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [16], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10], Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [15], Mohammad H. và cs (2011) [56] đã mô tả như sau: + Loài R.
echinobothrida: Ký sinh ở ruột non của gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà. Dài 250 mm, rộng 1,2 - 4 mm, trứng: 93 × 74 µm. Đường kính đầu 0,322 - 0,483 mm, vòi dài 0,108 - 0,159 mm. Đầu có 4 giác bám bao gồm từ 8 - 10 dãy móc; vòi của đầu có hai dãy móc khoảng 200 chiếc, dài 0,010 - 0,012 mm.
Giác bám tròn có đường kính 0,113 - 0,159 mm. Bờ giác có nhiều gai nhỏ, có hình dạng và kích thước khác nhau. Ở hàng trong cùng gai dài 0,006 mm, hàng gai ngoài cùng dài 0,016 mm. Chiều dài của nang lông gai 0,190 - 0,250 mm, đường kính tối đa 0,075 - 0,100 mm.
Lông gai có gai nhỏ. Lỗ sinh dục đực đơn tính, nằm ở giữa cạnh sườn đốt sán. Có từ 28 - 38 tinh hoàn nằm ở giữa đốt. Buồng trứng nhiều thuỳ, noãn hoàng phân thuỳ.
Trong những đốt già tử cung phân thành 100 - 130 nang trứng, mỗi nang chứa 1 - 12 trứng. tetragona: Ký sinh ở ruột non của gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà. Cơ thể dài 250 mm, rộng 1 - 4 mm. Đường kính đầu 0,284 - 0,358 mm, vòi dài 0,051 - 0,058 mm, có 100 móc vòi xếp thành một vòng, móc dài 0,06 - 0,08 mm.
Giác bám hình trứng, kích thước 0,169 - 0,175 x 0,073 - 0,076 mm. Giác có gai xếp thành 10 hàng trên bờ giác, chiều dài gai từ hàng ngoài vào giữa n 8 giảm dần từ 0,08 - 0,09 mm.