Đặt vấn đề Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta đang ngày càng phát triển. Chăn nuôi đã và đang làm thay đổi chất lượng cuộc sống, nâng cao mức thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Trong đó ngành chăn nuôi gia cầm được quan tâm hàng đầu vì nó có khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu về thịt và trứng, tỷ lệ protein cao có đủ axit amin thiết yếu, giàu nguyên tố khoáng vi lượng làm tăng giá trị vi sinh vật học của sản phẩm. Có thể nói ngành chăn nuôi gia cầm đã đóng góp lớn lao vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội và thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của nước nhà.
Tuy nhiên, những năm gần đây tình hình dịch bệnh vẫn xảy ra nhiều và diễn biến phức tạp. Dù chăn nuôi theo phương thức nào thì dịch bệnh cũng là một trong những yếu tố gây thiệt hại nặng nề nhất, ảnh hưởng không nhỏ cho ngành chăn nuôi. Trong đó bệnh cầu trùng ở gà là một trong những bệnh thường xuyên xảy ra và gây thiệt hại lớn đến chăn nuôi gà. Đây là bệnh do ký sinh trùng ở đường tiêu hóa gây ra, làm cho gà mắc bệnh trở nên còi cọc chậm lớn, ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sản xuất của gà.
Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng gây chết cao ở gà con. Do đó để hạn chế tác hại của bệnh và để giúp cho nhà chăn nuôi có những hiểu biết về bệnh, cách phòng và trị bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tình hình gà mắc bệnh cầu trùng và biện pháp phòng trị tại huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài - Xác định tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng ở gà tại một số xã ở huyện Văn Lãng.
- Tìm hiểu một số biện pháp phòng bệnh cho gà. - Điều tra về lứa tuổi gà mẫn cảm với bệnh cầu trùng nhất - Tìm hiểu một số thuốc điều trị đặc hiệu 1. Mục đích nghiên cứu - Từ kết quả nghiên cứu lấy đó làm cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng cho gà, mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi. - Bản thân tập làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị bổ sung thêm những hiểu biết về một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cầu trùng gà và một số loại thuốc trị cầu trùng hiệu quả. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đánh giá khả năng điều trị bệnh của loại thuốc và đưa ra những liệu trình điều trị hiệu quả, kinh tế để áp dụng rộng rãi trên thực tiễn chăn nuôi. - Làm quen với phương pháp nghiện cứu khoa học - Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi từ đó củng cố và nâng cao kiến thức của bản thân e 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa và trao đổi chất ở gia cầm Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dại, có bộ xương xốp, nhẹ và thân phủ lông vũ, chi trước biến thành cánh để bay, con cái đẻ trứng sau khi ấp thì nở thành gia cầm non. Gia cầm khác với các động vật khác ở chỗ cường độ của quá trình trao đổi chất lớn, thân nhiệt cao (40 - 42˚C) nhờ đó mà gia cầm sinh trưởng nhanh. Các cơ quan tiêu hóa của gia cầm bao gồm: khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng và lỗ huyệt, đồng thời có sự tham gia của gan và tuyến tụy. Sự hình thành các cơ quan tiêu hóa ở dạng nếp gấp của phôi gà bắt đầu từ ngày ấp thứ 2 (tức sau 24 giờ).
Cấu tạo và chức năng của bộ máy tiêu hóa gia cầm cũng có những đặc điểm sau: + Khoang miệng: Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ có vai trò lấy thức ăn chứ không có tác dụng nghiền nhỏ. Mặt trên lưỡi có những răng rất nhỏ hóa sừng hướng về phía trong để đưa thức ăn về phía thực quản, nuốt nguyên vẹn cả thức ăn sau khi thấm một lượng nhỏ nước bọt giúp làm dính và bôi trơn thức ăn dễ chuyển vào thực quản. Các tuyến ở khoang miệng gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu là nước bọt và dịch nhầy. Trong nước bọt có chứa một số ít men amilaza nên có ít tác dụng đối với men tiêu hóa.
+ Hầu: Hầu ở giữa khoang miệng và thực quản trên. Khoang mũi và miệng thông về phía hầu, còn phía trước hầu có khe hô hấp ở thanh quản. + Thực quản: Thực quản phình to thành diều. Diều gà hình túi, trong diều có thể chứa được 100-120g thức ăn.
Ở diều thức ăn được thấm ướt chịu tác động của nhiệt trương lên làm mềm và một phần hydrat cacbon được phân hủy e 4 dưới tác dụng của men amylase (quá trình đường hóa) tạo ra quá trình vi sinh vật diều. Thức ăn từ thực quản xuống dạ dày rất nhanh. + Dạ dày: Từ diều thức ăn được đưa vào dạ dày tuyến. Dạ dày tuyến được cấu tạo từ cơ trơn và có dạng ống ngắn, có vách dày nối với dạ dày cơ bằng eo nhỏ, khối lượng 3,5 - 6g.
Thức ăn chịu tác động của dịch vị có chứa men pepsin, axit chlohydric và chất nhầy musin (pH = 3,6 - 4,7). Thức ăn sau khi được làm ướt sẽ được chuyển đến dạ dày cơ. Đây là một túi có dạng hình đĩa cấu tạo từ lớp cơ rất dày và khỏe. Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hóa mà chỉ có chức năng nghiền nhỏ và trộn đều thức ăn với dịch vị của dạ dày tuyến.
Dưới tác dụng của men dịch vị dạ dày, protein được phân giải thành peptone và các axit amin. + Ruột non: Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được chuyển vào ruột non, tại đây các men của dịch ruột và tuyến tụy làm giảm nồng độ axit tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của men phân giải protein và gluxit trong thức ăn được chuyển hóa tạo thành những chất dễ hấp thu. Ở ruột, gluxit được phân giải thành các monosacarit nhờ men amilaza của dịch tụy và một phần của dịch ruột, protit được phân giải đến pepton và polipeptit, tiếp đó các men proteolyse của dịch tụy sẽ phân giải thành các axit amin, lipit thì được chuyển hóa thành glyxerin và các axit béo nhờ men lipaza. Chất xơ được tiêu hóa một lượng nhỏ ở manh tràng nhờ quá trình hoạt động của các vi khuẩn (Nguyễn Duy Hoan (1999) [4]).
Quá trình tiêu hóa trong ruột bắt đầu ở tá tràng và kết thúc ở hồi tràng. Tại đây hoạt động tiêu hóa diễn ra 85 - 95%. Ở gà, hấp thu các chất dinh dưỡng từ bộ máy tiêu hóa vào máu và lympho đều tiến hành chủ yếu ở ruột non, bao gồm các sản phẩm phân giải protit, lipit, gluxit khoáng, vitamin và nước. Chính vì vậy khi gà mắc bệnh cầu trùng sẽ gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến cơ thể gà.
Ở manh tràng quá trình phân giải các chất trên còn tiếp tục diễn ra nhờ e 5 men ở đường ruột tồn tại và do vi sinh vật tiết ra nhưng rất ít. Thức ăn được giữ lại trong đường tiêu hóa của gà trong thời gian ngắn. Ở gà con thức ăn đi qua đường tiêu hóa hết 4 – 5 giờ, gà trưởng thành là 7 – 8 giờ. Chính đặc điểm này làm cho gà sau khi nuốt phải noãn nang cầu trùng sẽ cùng thức ăn di chuyển nhanh xuống đường tiêu hóa xuống ruột non, manh tràng, trực tràng, nên quá trình xâm nhập của cầu trùng vào biểu mô ruột xảy ra rất nhanh chỉ trong vài giờ, bệnh cầu trùng xảy ra nhanh, vòng đời cầu trùng ngắn (5 - 7 ngày).2 Đặc tính chung của bệnh cầu trùng ở gia súc, gia cầm Bệnh cầu trùng đã được Luvenhuch A phát hiện từ năm 1632, cách đây trên 370 năm cùng thời gian các nghiên cứu về dịch tễ, lâm sàng, bệnh lý, miễn dịch và thuốc điều trị đã được các nhà khoa học mọi thời đại dày công nghiên cứu và khám phá (Lê Văn Năm (2003) [10]).
Bệnh cầu trùng là một trong những bệnh quan trọng nhất của gia cầm trên toàn thế giới. Đó là một loại bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm phổ biến ở đường tiêu hóa của gia cầm, và một số gia súc khác như: trâu, bò, lợn… Bệnh có thể gây chết nhiều gia cầm, tỷ lệ chết cao nhất là ở gia cầm non (tỷ lệ chết cao ở gà con, thỏ con có thể lên tới 80 – 100%). Ở gà đẻ bệnh cầu trùng là nguyên nhân giảm năng suất trứng từ 10 – 30% và gây tiêu chảy hàng loạt. Tính chuyên biệt của cầu trùng Eimeria thể hiện rất nghiêm ngặt, chúng chỉ có thể gây bệnh cho ký chủ mà chúng thích nghi trong quá trình tiến hóa và biểu hiện không chỉ đối với ký chủ của chúng mà mỗi loại cầu trùng chỉ khu trú tại một vùng, một cơ quan nào đó nhất định trong cơ thể ký chủ.
Cũng là gia cầm nhưng mỗi loài lại có một số loài cầu trùng ký sinh riêng. Cầu trùng gà không ký sinh trên ngan, ngỗng…Trên cùng cơ thể nhưng mỗi loài cầu trùng lại ký sinh trên một vị trí nhất định: Cầu trùng ký sinh ở manh tràng không ký sinh ở ruột non và ngược lại (Từ Quang Hiển, 1996) [3]. e 6 Gà ở mọi lứa tuổi đều bị nhiễm cầu trùng, nhưng ở mỗi lứa tuổi mức độ nhiễm khác nhau. Song bệnh thường thấy nhất ở gà con từ 10 – 60 ngày tuổi, nặng ở gần 15 - 45 ngày tuổi.
Trong chăn nuôi gia cầm hiện tượng cầu trùng rất đa dạng, nó luôn gắn liền với vệ sinh: Chuồng trại ẩm thấp, kém thông thoáng, vệ sinh chăn nuôi không đảm bảo, mật độ đông, khí hậu nhiệt đới có tác dụng thúc đẩy bệnh dễ bùng phát và nặng nề hơn (Lê Văn Năm (2004) [11]). Cầu trùng là động vật đơn bào có hình cầu, hình trứng, hình bầu dục, hình trụ hay hình elip (phụ thuộc vào từng loại cầu trùng). Cầu trùng ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu bì ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm và cả ở người.