Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã và đang phát triển mạnh, góp phần rất lớn vào việc cung cấp thực phẩm, nâng cao chất lượng bữa ăn hằng ngày cho con người. Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn đối với công tác chăn nuôi là dịch bệnh thường xuyên xảy ra gây nhiều thiệt hại, làm hạn chế sự phát triển của ngành. Vì thế hiện nay việc phòng trị bệnh cho vật nuôi được đặc biệt trú trọng, không chỉ các bệnh truyền nhiễm được phòng bệnh bằng tiêm phòng vắc-xin, mà các bệnh kí sinh trùng cũng được người chăn nuôi hết sức quan tâm phòng trị, do bệnh kí sinh trùng là một trong những loại bệnh quan trọng ở vùng khí hậu nhiệt đới ẩm như nước ta, vì nóng và ẩm là hai điều kiện thuận lợi cho kí sinh trùng phát triển. Bệnh Cầu trùng gà là một loại bệnh do một loại đơn bào ký sinh gây ra và cũng là một bệnh chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh kí sinh trùng.
Ở nước ta, bệnh Cầu trùng trở nên phổ biến từ khi phát triển gà công nghiệp và nhập nội một số gà cao sản giống trứng và giống thịt từ nước ngoài. Bệnh Cầu trùng gà không gây tỷ lệ chết cao cho đàn gà nhưng gây thiệt hại về mặt kinh tế: gà giảm sinh trưởng, còi cọc, sức đề kháng yếu và dễ bị các bệnh truyền nhiễm khác tấn công. Ở Việt Nam, bệnh Cầu trùng làm tăng số lượng gà còi cọc, giảm tốc độ tăng khối lượng, giảm sản lượng trứng ở gà đẻ. Mặt khác, nước ta có khí hậu nóng ẩm mưa nhiều rất thuận lợi cho bệnh Cầu trùng phát triển.
Với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, trên thị trường xuất hiện nhiều loại thuốc đặc trị bệnh Cầu trùng như: Baycoc 2,5 %, Coxcilin, RTD – Coccistop, Coxymax, Novacoc 2,5 %. Nhưng để đưa ra giải pháp tốt nhất để chống lại bệnh Cầu trùng có hiệu quả thì việc thử hiệu lực của các loại thuốc là rất quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn cao. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn về kiểm soát và điều trị bệnh Cầu trùng ở gà, em tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc Coxymax và Anticoccidae – Diarrhoea đến hiệu quả phòng trị bệnh Cầu trùng trên gà Ri lai nuôi bán chăn thả”. Mục đích của đề tài - Từ kết quả nghiên cứu lấy đó làm cơ cở khoa học để đề xuất biện pháp phòng trị bệnh Cầu trùng cho gà, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân.
- Bản thân em tập làm quen với công tác nghiên cứu khoa học. Mục tiêu của đề tài - Xác định tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm Cầu trùng ở gà Ri lai F1 (Ri x Lương Phượng). - Xác định ảnh hưởng của việc dùng thuốc tới khả năng tăng khối lượng của gà Ri lai F1 (Ri x Lương Phượng). - Xác định được sự ảnh hưởng của việc dùng thuốc trong phòng và điều trị bệnh Cầu trùng.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về mức độ ảnh hưởng của 2 loại thuốc Coxymax và Anticoccidae – Diarrhoea đến hiệu quả phòng trị bệnh Cầu trùng trên đàn gà Ri lai nuôi bán chăn thả. Ý nghĩa trong thực tiễn - Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học. - Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi từ đó nâng cao và củng cố kiến thức của bản thân.
e 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Những hiểu biết về bệnh Cầu trùng 2.Đặc tính chung của bệnh Cầu trùng * Mầm bệnh: Bệnh Cầu trùng là một loại ký sinh trùng truyền nhiễm rất nguy hiểm ở động vật nuôi thuần chủng, thú hoang và con người do một nhóm nguyên sinh động vật đơn bào ngành Protoza, lớp Sporozoa, bộ Coccidae, chủng Eimeria, 2 giống Eimeria và Isosproza. Bệnh có thể gây chết nhiều súc vật, tỷ lệ chết cao, đặc biệt là súc vật non.
Ở gà và thỏ, bệnh gây thiệt hại lớn nhất (tỷ lệ chết cao ở gà con, thỏ con có thể lên tới 80 – 100 %). Khi Cầu trùng mới theo phân ra ngoài là một kén hay là một noãn nang (Oocyts), là những bào tử trùng hình bầu dục, hình trứng hay hình cầu. Có 3 lớp vỏ: lớp ngoài cùng rất mỏng, bên trong chứa nguyên sinh chất lổn nhổn thành hạt, giữa nguyên sinh chất có chứa một nhân tương đối to. Có một số loại Cầu trùng ở đầu có chỗ lõm vào gọi là lỗ noãn nang, có một số loài không có lỗ noãn nang hoặc không rõ.
Khi gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp thì nhân và nguyên sinh chất bắt đầu phân chia. Cầu trùng thuộc giống Eimeria thì nhân và nguyên sinh chất sẽ hình thành 4 bào tử, mỗi bào tử hình thành 2 bào tử con. Bào tử con có hình lê, chính bào tử con này sẽ xâm nhập vào niêm mạc ruột, tổ chức gan và gây ra những tổn thương bệnh lý. Cầu trùng giống Isospora thì nhân và nguyên sinh chất phân chia thành 2 bào tử, mỗi bào tử phân chia thành 4 bào tử con và cũng xâm nhập vào niêm mạc ruột.
Cũng là gia cầm nhưng mỗi loại lại có một số loại Cầu trùng ký sinh riêng. Cầu trùng gà không ký sinh trên ngan, ngỗng… Trên cùng cơ thể nhưng mỗi loài Cầu trùng lại ký sinh trên một vị trí nhất định: Cầu trùng ký sinh ở manh tràng không ký sinh ở ruột non và ngược lại. Ở gà mọi lứa tuổi đều bị nhiễm Cầu trùng, nhưng ở mỗi lứa tuổi mức độ nhiễm khác nhau. Gà con bị nhiễm nặng và chết nhiều hơn ở gà trưởng thành, gà trưởng thành chủ yếu là vật mang trùng.
* Vòng đời của Cầu trùng (chu kỳ sinh học): e 4 Tóm tắt vòng đời của Cầu trùng gà Noãn nang T o. Ao Noãn nang gây nhiễm Bào tử (Oocyst) (Oocyst gây nhiễm) (Trophotoit) Schizontes Schizogone Tế bào đực (Tiểu phối tử) Hợp tử Merozoit Schizogoit Tế bào cái (Đại phối tử) Sự lưu truyền rộng khắp của Cầu trùng là nhờ vào cấu trúc và vòng đời phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp tục phát triển, tồn tại lâu trong thiên nhiên. Vòng đời và sinh sản được tính từ khi gà ăn phải nang bào tử của Cầu trùng có trong thức ăn, nước uống bị nhiễm từ nền chuồng vào. Vòng đời của Cầu trùng gà gồm 2 giai đoạn : + Giai đoạn ở ngoài tự nhiên: Noãn nang được thải theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm, noãn nang phát triển thành bảo tử (Cầu trùng Eimeria phát triển thành 4 bào tử).
Lúc đó trở thành noãn nang gây nhiễm (Oocyst gây nhiễm). + Giai đoạn trong cơ thể ký chủ: Gà nuốt noãn nang gây bệnh vào ruột, noãn nang vỡ ra, phóng ra 4 bào tử gọi là Trophotozoit bám vào tế bào biểu mô ruột phát triển thành Schiphotozoit, Schiphotozoit phát triển thành Merozoit rồi thành tế bào đực và tế bào cái. Chúng kết hợp với nhau tạo thành hợp tử, rồi hợp tử lại sinh ra noãn nang (Oocyst), thời gian hoàn thành vòng đời từ 5 – 7 ngày. Trong vòng đời của Cầu trùng ở cả hai phương thức sinh sản đó là sinh sản vô tính và hữu tính.
Vì vậy có thể phân ra Cầu trùng sinh sản theo 3 giai đoạn sau: e 5 + Giai đoạn sinh sản vô tính: Cầu trùng ký sinh ở tế bào biểu mô đường tiêu hóa của súc vật, lớn dần lên và sinh sản theo hình thức trực phân. + Giai đoạn sinh sản hữu tính: Sau giai đoạn sinh sản trực phân sẽ hình thành các tế bào cái (đại phối tử), các tế bào đực (tiểu phối tử). Hai tế bào đó kết hợp với nhau tạo thành hợp tử, giai đoạn này cũng xảy ra trong tế bào biểu mô. Cả hai giai đoạn trên đều xảy ra trong cơ thể ký chủ nên gọi là sinh sản nội sinh.
+ Giai đoạn sinh bào tử: Sau khi hợp tử hình thành thì phát triển thành noãn nang (Oocyst), nguyên sinh chất và nhân lại phân chia thành bào tử hình thành nên bào tử con. Giai đoạn này diễn ra ở môi trường bên ngoài gọi là sinh sản ngoại sinh. Khi ký chủ nuốt phải noãn nang đã phân chia thành 8 bào tử con vào đường tiêu hóa, noãn nang sẽ giải phóng các bào tử con ra, các bào tử con lại tiếp tục xâm nhập vào các tế bào biểu mô ruột, lớn dần lên và tiếp tục sinh sản vô tính, hữu tính, vòng đời lại tiếp tục như trên. Bệnh Cầu trùng gà * Đặc điểm của bệnh Cầu trùng gà: Bệnh Cầu trùng gà nói riêng và bệnh Cầu trùng gia súc, gia cầm nói chung là một bệnh phổ biến trên khắp thế giới.
Luvenhuch phát hiện từ năm 1632 tức là cách đây khoảng 383 năm và cùng thời gian các nhà nghiên cứu về dịch tễ, lâm sàng, bệnh lý, miễn dịch và thuốc điều trị đã được các nhà khoa học mọi thời đại dày công nghiên cứu và khám phá (Lê Văn Năm, 2003 [14]). Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2010) [9], thì bệnh Cầu trùng gà do Cầu trùng ký sinh gây ra thấy ở khắp các nước trên thế giới. Đây là một bệnh khó kiểm soát, ngay cả những nước có trình độ khoa học kỹ thuật thú y phát triển cũng chịu nhiều tổn thất do Cầu trùng gây ra. Cầu trùng ký sinh gây tổn thương nghiêm trọng đường tiêu hóa, làm cho gà dễ chết.
Bệnh lây lan nhanh trong các đàn gà, đặc biệt là trong điều kiện chăn nuôi tập chung, điều kiện vệ sinh thú y kém, công tác quản lý và chăn nuôi không đảm bảo. Ở nước ta bệnh phổ biến ở khắp các tỉnh thành. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8], thì bệnh Cầu trùng gà được coi là vấn đề lớn thứ hai sau bệnh do vi trùng gây nên. Bệnh Cầu trùng gà có vòng đời ngắn (5 – 7 ngày) và không cần ký chủ trung gian.
Bệnh Cầu trùng gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi gà nhất là chăn nuôi công nghiệp mật độ cao (tỷ lệ chết từ 50 – 70 %). Gà con sau khi bị mắc bệnh rất khó hồi phục, chậm lớn, còi cọc, ở gà trưởng thành chủ yếu là vật mang trùng và giảm tỷ lệ đẻ. e 6 * Tác nhân gây bệnh Cầu trùng gà: Trải qua quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã chỉ ra tác nhân gây bệnh Cầu trùng gia cầm với những đặc điểm sinh học của chúng. Một số đặc điểm phân loại Cầu trùng gà Diễn giải Hình Kích thƣớc (µm) Lỗ noãn Sinh sản bào Loài dạng tử (giờ) E.