Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp tại Việt Nam, chăn nuôi gia cầm giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn thực phẩm giàu đạm cho xã hội. Tuy nhiên, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm cao là môi trường thuận lợi cho sự phát sinh và lây lan của nhiều loại dịch bệnh ký sinh trùng, trong đó bệnh cầu trùng (Coccidiosis) ở gà là một trong những trở ngại lớn. Bệnh do các loài nguyên sinh động vật đơn bào thuộc giống Eimeria gây ra, ký sinh và tàn phá biểu mô đường tiêu hóa. Mặc dù tỷ lệ chết trực tiếp có thể biến động tùy theo độc lực mầm bệnh và điều kiện chăm sóc, bệnh cầu trùng gây tổn thất kinh tế nghiêm trọng do làm suy giảm tốc độ tăng trưởng, khiến gia cầm còi cọc, giảm hiệu quả chuyển hóa thức ăn, suy giảm miễn dịch và dễ kế phát các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác.

Trước thực tiễn phát triển các mô hình chăn nuôi gà lai thả vườn và bán chăn thả tại các nông hộ và trang trại, việc sử dụng các chế phẩm hóa trị liệu để chủ động phòng và trị bệnh cầu trùng là biện pháp phổ biến. Trên thị trường xuất hiện nhiều biệt dược với các thành phần hoạt chất khác nhau như Coxymax (hoạt chất Sulphachlozine) và Anticoccidae – Diarrhoea (hoạt chất Sulfachloropyridazine). Tuy nhiên, hiện tượng cầu trùng kháng thuốc sau thời gian dài sử dụng cục bộ đòi hỏi phải có những nghiên cứu thực nghiệm đánh giá khách quan về hiệu lực phòng trị và tác động của thuốc tới sức sản xuất của con giống. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Văn Hậu tập trung giải quyết bài toán kiểm chứng thực nghiệm này trên tổ hợp gà Ri lai F1 (Ri x Lương Phượng) nuôi theo phương thức bán chăn thả.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể qua 3 nhiệm vụ:

  1. Xác định tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cầu trùng ở đàn gà Ri lai F1 (Ri x Lương Phượng) qua các tuần tuổi khi sử dụng hai loại thuốc thí nghiệm.
  2. Xác định ảnh hưởng của việc sử dụng hai loại thuốc đến khả năng sinh trưởng, tăng khối lượng và hiệu quả chuyển hóa thức ăn của gà thí nghiệm.
  3. Xác định hiệu quả kinh tế thông qua chi phí thuốc thú y phòng, trị bệnh cầu trùng tính trên một đơn vị khối lượng gà thịt thương phẩm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn gà Ri lai F1 (gà trống Ri x gà mái Lương Phượng) từ 1 đến 10 tuần tuổi; hai loại thuốc phòng trị cầu trùng là Coxymax (sản xuất bởi Công ty Cổ phần Greenlab Việt Nam) và Anticoccidae – Diarrhoea (sản xuất bởi Công ty TNHH Dược thú y Thăng Long).
  • Địa điểm nghiên cứu: Trại chăn nuôi tại xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 25 tháng 5 năm 2015 đến ngày 18 tháng 11 năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và tổng quan mầm bệnh

Khóa luận hệ thống hóa cơ sở phân loại học và sinh học của mầm bệnh cầu trùng gia cầm:

  • Phân loại học và vòng đời: Cầu trùng gà thuộc ngành Protozoa, lớp Sporozoa, bộ Coccidiasina, họ Eimeriidae, giống Eimeria. Chu kỳ sinh học hoàn thành trong khoảng 5 đến 7 ngày, không cần vật chủ trung gian, bao gồm 3 giai đoạn: sinh sản vô tính (trực phân/Schizogony trong tế bào biểu mô ruột), sinh sản hữu tính (Gametogony tạo đại phối tử và tiểu phối tử hình thành hợp tử trong cơ thể ký chủ) và sinh sản bào tử (Sporogony ở môi trường ngoại cảnh tạo noãn nang mang 4 bào tử nang, mỗi bào tử nang chứa 2 bào tử con).
  • Các loài cầu trùng phổ biến: Văn bản tổng hợp đặc điểm hình thái và bệnh lý của các loài Eimeria ký sinh trên gà: E. tenella (ký sinh manh tràng, gây xuất huyết nặng), E. necatrix (ký sinh ruột non và manh tràng, độc lực cao), E. acervulina (ký sinh tá tràng, tạo vệt trắng xám), E. maxima (ký sinh đoạn giữa ruột non, kích thước noãn nang lớn), E. brunetti (gây viêm ruột hóa sợi ở phần sau đường tiêu hóa), E. mitis, E. praecox và E. hagani.
  • Cơ chế hóa trị liệu: Bệnh được kiểm soát chủ yếu qua các nhóm hoạt chất như Sulfanilamide (Sulfaguanidine, Sulfachlozine, Sulfachloropyrazine...), Nitrofuran, Pyrimidine (Amprolium, Trimethoprim, Diaveridine), kháng sinh Ionophore, Pyridine và Toltrazuril. Khóa luận tập trung kiểm chứng hai chế phẩm chứa hoạt chất nhóm Sulfonamide chuyên biệt.

Phương pháp bố trí thí nghiệm

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chia lô so sánh với quy mô 300 cá thể gà Ri lai F1 (150 con/lô, mỗi lô gồm 3 lần lặp lại, mỗi lần 50 con):

Tiêu chí Lô I Lô II
Giống gà Gà Ri lai F1 ($\frac{1}{2}$ Ri $\times$ $\frac{1}{2}$ Lương Phượng) Gà Ri lai F1 ($\frac{1}{2}$ Ri $\times$ $\frac{1}{2}$ Lương Phượng)
Số lượng 150 con ($50 \times 3$) 150 con ($50 \times 3$)
Thời gian nuôi 1 – 10 tuần tuổi 1 – 10 tuần tuổi
Phương thức nuôi 1 – 3 tuần: nuôi nhốt quây úm; 4 – 10 tuần: bán chăn thả 1 – 3 tuần: nuôi nhốt quây úm; 4 – 10 tuần: bán chăn thả
Khẩu phần thức ăn 1 – 4 tuần tuổi: thức ăn D1; 4 – 10 tuần tuổi: D56, D57 1 – 4 tuần tuổi: thức ăn D1; 4 – 10 tuần tuổi: D56, D57
Thuốc thí nghiệm Coxymax (Sulphachlozine) Anticoccidae – Diarrhoea (Sulfachloropyridazine)
Liều và phác đồ phòng 1 g/1 lít nước uống, liệu trình 2.3 (hoặc 3.3) 1 g/1 lít nước uống, liệu trình 2.3 (hoặc 3.3)
Liều và phác đồ trị 2 g/1 lít nước uống, dùng liên tục 3 – 5 ngày 2 g/1 lít nước uống, dùng liên tục 3 – 5 ngày

Phương pháp theo dõi và xử lý số liệu

  • Phương pháp xét nghiệm phân: Phương pháp phù nổi Fülleborn sử dụng dung dịch nước muối bão hòa (NaCl $\sim 380$ g/lít nước sôi, tỷ trọng cao hơn noãn nang). Lấy mẫu phân tươi vào sáng sớm định kỳ từ tuần 1 đến tuần 10 (12 mẫu/lô/tuần, tổng 240 mẫu). Soi kính hiển vi quang học độ phóng đại 100 lần để xác định sự hiện diện và đếm số lượng noãn nang trên vi trường.
  • Phân cấp cường độ nhiễm: (-) Âm tính (0 noãn nang/vi trường); (+) Nhiễm nhẹ (1 – 2 noãn nang/vi trường); (++) Nhiễm trung bình (3 – 4 noãn nang/vi trường); (+++) Nhiễm nặng (5 – 6 noãn nang/vi trường); (++++) Nhiễm rất nặng ($\ge 7$ noãn nang/vi trường).
  • Chỉ tiêu sinh trưởng và chuyển hóa: Cân khối lượng từng cá thể định kỳ vào buổi sáng trước khi cho ăn bằng cân đồng hồ chính xác $\pm 2$ g; tính toán sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối ($A = \frac{P_2 - P_1}{t}$), sinh trưởng tương đối ($R$), lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày/tuần, tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng (FCR), tỷ lệ nuôi sống.
  • Chỉ số kinh tế - kỹ thuật: Chỉ số sản xuất (PI), chỉ số kinh tế (EN) và hạch toán chi phí thuốc trên 1 kg gà hơi xuất chuồng.
  • Xử lý thống kê: Sử dụng phương pháp thống kê sinh vật học theo tài liệu của Nguyễn Văn Thiện (2002), tính toán các tham số trung bình ($\bar{X}$), sai số ($m_{\bar{X}}$), hệ số biến thiên ($C_v%$) trên phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của công tác phòng trị bệnh ký sinh trùng đường ruột trong bối cảnh phát triển chăn nuôi gà thả vườn; xác định rõ mục đích, 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp dẫn liệu so sánh hai nhóm thuốc Sulfonamide, cùng ý nghĩa thực tiễn đối với kỹ năng thực hành nghề thú y của sinh viên.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tổng hợp toàn diện hệ thống lý thuyết về nguyên nhân, phân loại 9 loài cầu trùng gà, chu kỳ phát triển sinh học, cơ chế sinh bệnh học, bệnh tích đại thể và vi thể, đáp ứng miễn dịch có trùng. Tổng quan các nhóm thuốc phòng trị nội ngoại nhập (Baycox, ESB3, Avicox, Coccistop, Rigecoccin, Vinacoc-ABC, Marcoc...) và ứng dụng vắc-xin nhược độc (LIVACOX). Đồng thời, tổng thuật các công trình nghiên cứu dịch tễ trong nước (Hoàng Thạch, Phan Lục, Nguyễn Thị Kim Lan, Trần Huê Viên) và quốc tế (Hunter Archie, Orlov) về tỷ lệ nhiễm theo lứa tuổi và phương thức chăn nuôi.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định cụ thể tiêu chuẩn đàn gà thí nghiệm F1 (Ri x Lương Phượng), nguồn gốc hai chế phẩm thuốc thú y, địa điểm trại thực nghiệm tại xã Quyết Thắng. Mô tả chi tiết sơ đồ bố trí lô thí nghiệm, chế độ nuôi dưỡng qua từng giai đoạn tuổi, quy trình kỹ thuật xét nghiệm mẫu phân bằng phương pháp phù nổi Fülleborn, các công thức toán học tính toán chỉ tiêu năng suất và phương pháp thống kê mô tả.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Nội dung chương 4 chia làm hai phần chính:

  • Công tác phục vụ sản xuất tại cơ sở: Ghi nhận kết quả nuôi sống đàn gà thịt 700 con đạt 96,42% (675 con); thực hiện tiêm phòng 100% vắc-xin Newcastle, Gumboro và IB-ND; điều trị thành công 23/25 ca mắc bệnh bạch lỵ (đạt tỷ lệ khỏi 92% bằng phác đồ Ampi-Coli kết hợp Colistin) và 654/700 ca mắc bệnh hô hấp mãn tính CRD (đạt 93,42% bằng Tilmicox).
  • Kết quả chuyên đề khoa học: Phân tích dữ liệu thực nghiệm so sánh hai lô về tỷ lệ nuôi sống (cả hai lô đạt 100%), động thái nhiễm cầu trùng theo tuần tuổi, chỉ số sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, khả năng thu nhận thức ăn, chỉ số tiêu tốn thức ăn và hạch toán chi phí thuốc thú y.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Khái quát các kết luận khoa học rút ra từ thực nghiệm so sánh hai loại thuốc và đưa ra khuyến cáo thực tiễn cho người chăn nuôi về việc lựa chọn, luân phiên thuốc phòng trị bệnh cầu trùng nhằm hạn chế hiện tượng kháng thuốc.

Kết quả và đóng góp thực tiễn

Kết quả kiểm soát tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng

Kết quả xét nghiệm 240 mẫu phân qua 10 tuần tuổi cho thấy sự khác biệt rõ rệt về hiệu lực phòng bệnh giữa hai chế phẩm:

Chỉ tiêu theo dõi Lô I (Coxymax) Lô II (Anticoccidae – Diarrhoea)
Tổng số mẫu kiểm tra (mẫu) 120 120
Số mẫu nhiễm noãn nang (mẫu) 52 43
Tỷ lệ nhiễm chung (%) 43,33 35,83
- Tỷ lệ nhiễm nhẹ (+) (%) 57,69 (30 mẫu) 72,09 (31 mẫu)
- Tỷ lệ nhiễm trung bình (++) (%) 26,92 (14 mẫu) 14,60 (8 mẫu)
- Tỷ lệ nhiễm nặng (+++) (%) 11,54 (6 mẫu) 6,98 (3 mẫu)
- Tỷ lệ nhiễm rất nặng (++++) (%) 3,85 (2 mẫu) 2,33 (1 mẫu)
  • Diễn biến theo lứa tuổi: Ở tuần 1, cả hai lô đều không phát hiện noãn nang (0%). Tỷ lệ và cường độ nhiễm tăng cao và đạt đỉnh ở giai đoạn 3 – 6 tuần tuổi (ở tuần 3, tỷ lệ nhiễm lô I là 66,67%, lô II là 58,33%; tuần 4 cả hai lô đạt 66,67%; tuần 6 lô I là 66,67%, lô II là 50,00%). Từ tuần thứ 7 đến tuần thứ 10, tỷ lệ nhiễm giảm dần (đến tuần 10, lô I còn 25,00%, lô II giảm xuống 8,33% và 100% mẫu nhiễm chỉ ở mức độ nhẹ +).
  • Nguyên nhân sai khác: Lô II sử dụng Anticoccidae – Diarrhoea cho tỷ lệ và cường độ nhiễm thấp hơn Lô I do đây là hoạt chất mới đưa vào sử dụng tại trại, ký sinh trùng chưa hình thành tính kháng thuốc cao như đối với Coxymax (đã sử dụng liên tục trong thời gian dài trước đó).

Đánh giá khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn

Dữ liệu theo dõi sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của gà F1 (Ri x Lương Phượng) từ 1 đến 10 tuần tuổi được tổng hợp trong bảng sau:

Giai đoạn tuần tuổi Khối lượng tích lũy Lô I ($\bar{X} \pm m_{\bar{X}}$, g) Khối lượng tích lũy Lô II ($\bar{X} \pm m_{\bar{X}}$, g) FCR cộng dồn Lô I (kg TA/kg tăng KL) FCR cộng dồn Lô II (kg TA/kg tăng KL)
Sơ sinh $34,95 \pm 0,41$ $36,18 \pm 0,58$ - -
Tuần 2 $179,72 \pm 3,67$ $178,02 \pm 3,69$ 1,61 1,62
Tuần 4 $450,83 \pm 9,74$ $449,77 \pm 8,68$ 1,75 1,75
Tuần 6 $753,23 \pm 17,58$ $718,07 \pm 17,68$ 2,05 2,14
Tuần 8 $1062,32 \pm 26,00$ $1046,67 \pm 28,51$ 2,37 2,39
Tuần 10 $1455,43 \pm 35,61$ $1433,07 \pm 36,54$ 2,68 2,72
  • Khối lượng cơ thể: Kết thúc 10 tuần tuổi, khối lượng bình quân của gà ở lô I đạt 1455,43 g/con, lô II đạt 1433,07 g/con (chênh lệch 20,36 g/con). Sự sai khác giữa hai lô không có ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$), chứng minh cả hai loại thuốc đều đảm bảo an toàn sinh học và không gây ức chế sinh trưởng của gà.
  • Sinh trưởng tuyệt đối: Bình quân toàn kỳ (sơ sinh – 10 tuần tuổi), lô I đạt 20,29 g/con/ngày, lô II đạt 19,96 g/con/ngày. Sinh trưởng tuyệt đối đạt cực đại ở tuần thứ 9 đối với lô I (31,51 g/con/ngày) và tuần thứ 8 đối với lô II (30,31 g/con/ngày).
  • Tiêu thụ và chuyển hóa thức ăn: Tổng lượng thức ăn tiêu thụ bình quân trên một cá thể sau 10 tuần ở lô I là 3807,40 g và lô II là 3798,88 g (chênh lệch không đáng kể, 8,52 g/con). Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) cộng dồn ở tuần 10 của lô I là 2,68 kg và lô II là 2,72 kg.

Hạch toán chi phí thuốc thú y

Chi phí thuốc phòng và trị bệnh cầu trùng cho đàn gà thí nghiệm được thống kê cụ thể:

STT Chỉ tiêu hạch toán Đơn vị tính Lô I (Coxymax) Lô II (Anticoccidae – Diarrhoea)
1 Quy cách đóng gói g/gói 100 100
2 Đơn giá thuốc Đồng 35.000 35.000
3 Lượng thuốc sử dụng Gói 2 2
4 Tổng chi phí thuốc cả lô Đồng 70.000 70.000
5 Tổng khối lượng gà tăng kg 213,07 209,53
6 Chi phí thuốc trên 1 kg gà hơi Đồng 328,53 334,08
7 Tỷ lệ so sánh chi phí % 100,00 101,69

Mặc dù chi phí thuốc trên 1 kg gà hơi ở lô II cao hơn lô I là 5,55 đồng/kg (tương đương 101,69% so với lô I), nhưng lô II mang lại hiệu quả bảo hộ lâm sàng vượt trội hơn về mặt dịch tễ học (giảm tỷ lệ mắc và giảm mức độ nhiễm nặng).

Đóng góp thực tiễn của đề tài

  1. Cung cấp dữ liệu thực nghiệm khẳng định thuốc Anticoccidae – Diarrhoea có hiệu lực khống chế tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng tốt hơn Coxymax trên đàn gà Ri lai nuôi bán chăn thả tại địa bàn khảo sát.
  2. Xác nhận quy luật mẫn cảm cầu trùng tập trung cao nhất ở giai đoạn 3 – 6 tuần tuổi, làm căn cứ khoa học cho người chăn nuôi chủ động lịch phòng thuốc đón đầu.
  3. Đề xuất nguyên tắc quản lý sử dụng thuốc thú y: Định kỳ thay đổi luân phiên các nhóm thuốc hóa trị liệu cầu trùng (từ 3 – 4 năm/lần hoặc sau 10 – 12 chu kỳ nuôi) nhằm ngăn ngừa sự hình thành các chủng đơn bào kháng thuốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Khóa luận tiến hành thử nghiệm so sánh giới hạn trên 2 biệt dược thương mại (Coxymax và Anticoccidae – Diarrhoea) tại một cơ sở chăn nuôi thuộc xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, chưa mở rộng so sánh đa trung tâm hoặc đối chứng với các hoạt chất mới như Toltrazuril hay vắc-xin phòng cầu trùng.
  • Phương pháp xác định noãn nang cầu trùng dừng lại ở kỹ thuật phù nổi Fülleborn soi kính hiển vi định tính và bán định lượng vi trường, chưa kết hợp phương pháp buồng đếm McMaster để xác định chính xác số lượng noãn nang trên một gam phân (OPG).
  • Nghiên cứu chưa tiến hành mổ khám định kỳ để chấm điểm tổn thương bệnh lý đường ruột (Lesion score) theo thang điểm chuẩn của Johnson và Reid.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng khảo nghiệm so sánh hiệu lực của các hoạt chất kháng cầu trùng thế hệ mới, hoạt chất thảo mộc tự nhiên và giải pháp phòng bệnh bằng vắc-xin nhược độc đa giá trên các quy mô đàn lớn hơn.
  • Ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử (PCR, giải trình tự gen) để định danh chính xác cơ cấu các loài Eimeria gây bệnh ưu thế tại các vùng chăn nuôi tập trung của tỉnh Thái Nguyên.
  • Nghiên cứu cơ chế và mức độ kháng thuốc của các chủng cầu trùng thực địa đối với các nhóm Sulfonamide phổ biến.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Văn Hậu là tài liệu tham khảo chuyên môn phù hợp cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y: Cung cấp quy trình mẫu về thiết kế thí nghiệm chia lô so sánh đánh giá hiệu lực thuốc, kỹ thuật thu thập mẫu phân và xét nghiệm ký sinh trùng đường tiêu hóa bằng phương pháp phù nổi Fülleborn, cũng như phương pháp tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn.
  • Kỹ thuật viên thú y và người chăn nuôi gia cầm: Cung cấp thông tin thực tế về quy trình úm gà con, lịch chủng ngừa vắc-xin (Newcastle, Gumboro, IB-ND), phác đồ điều trị bệnh bạch lỵ, bệnh hô hấp mãn tính (CRD) và nguyên tắc luân chuyển thuốc phòng trị cầu trùng hiệu quả theo lứa tuổi.

Câu hỏi thường gặp

1. Giai đoạn nào gà Ri lai F1 mẫn cảm và nhiễm cầu trùng nặng nhất trong nghiên cứu?

Theo kết quả xét nghiệm định kỳ qua 10 tuần tuổi, đàn gà ở cả hai lô thí nghiệm có tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng cao nhất ở giai đoạn từ 3 đến 6 tuần tuổi. Cụ thể, tỷ lệ nhiễm ở tuần thứ 3 đạt từ 58,33% đến 66,67%, tuần thứ 4 đạt 66,67% ở cả hai lô, tuần thứ 6 dao động từ 50,00% đến 66,67%. Đây cũng là giai đoạn ghi nhận nhiều mẫu phân nhiễm ở mức độ nặng (+++) và rất nặng (++++).

2. Sự khác biệt về hiệu quả kiểm soát cầu trùng giữa hai loại thuốc Coxymax và Anticoccidae – Diarrhoea là gì?

Thuốc Anticoccidae – Diarrhoea (Lô II) cho hiệu quả phòng bệnh cao hơn với tỷ lệ nhiễm chung là 35,83% (43/120 mẫu), trong đó đa số là nhiễm nhẹ mức độ (+) chiếm 72,09%, mức rất nặng (++++) chỉ chiếm 2,33%. Trong khi đó, Lô I dùng Coxymax có tỷ lệ nhiễm chung là 43,33% (52/120 mẫu), tỷ lệ nhiễm nhẹ (+) chiếm 57,69%, tỷ lệ nhiễm nặng (+++) và rất nặng (++++) cao hơn (lần lượt là 11,54% và 3,85%).

3. Việc sử dụng hai loại thuốc có làm thay đổi khả năng tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn của gà không?

Sự sai khác về sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn giữa hai lô là không có ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$). Ở 10 tuần tuổi, khối lượng tích lũy của gà ở lô dùng Coxymax đạt $1455,43 \pm 35,61$ g/con và lô dùng Anticoccidae – Diarrhoea đạt $1433,07 \pm 36,54$ g/con. Tiêu tốn thức ăn cộng dồn trên 1 kg tăng khối lượng tương đương nhau, lần lượt là 2,68 kg (Lô I) và 2,72 kg (Lô II).

4. Chi phí thuốc thú y phòng trị cầu trùng trên 1 kg gà hơi xuất chuồng là bao nhiêu?

Hạch toán thực tế trên toàn bộ chu kỳ nuôi 10 tuần cho thấy chi phí thuốc ở Lô I (Coxymax) là 328,53 đồng/kg gà hơi, còn ở Lô II (Anticoccidae – Diarrhoea) là 334,08 đồng/kg gà hơi. Mức chênh lệch là 5,55 đồng/kg (Lô II bằng 101,69% so với Lô I), nhưng đổi lại Lô II đạt hiệu quả kiểm soát mầm bệnh ký sinh trùng tốt hơn.

5. Khóa luận đã sử dụng phác đồ nào để điều trị các bệnh phát sinh ngoài cầu trùng trong quá trình chăn nuôi?

Trong quá trình nuôi dưỡng, tác giả đã chẩn đoán và điều trị hai bệnh phát sinh:

  • Bệnh bạch lỵ ở gà con: Sử dụng phác đồ Ampi-Coli (1 g/1 lít nước) kết hợp B-complex (1 g/3 lít nước) cho uống 5 ngày, kết hợp Colistin (1 g/2 lít nước) uống 3 – 5 ngày, đạt tỷ lệ khỏi 92% (23/25 con).
  • Bệnh hô hấp mãn tính (CRD): Sử dụng Tilmicox (4 ml pha 10 lít nước) cho uống liên tục 5 ngày, đạt tỷ lệ khỏi 93,42% (654/700 con).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Văn Hậu đã thực hiện đánh giá thực nghiệm so sánh tác động của hai chế phẩm Coxymax và Anticoccidae – Diarrhoea trên đàn gà Ri lai F1 từ 1 đến 10 tuần tuổi nuôi bán chăn thả tại Thái Nguyên. Kết quả khẳng định thuốc Anticoccidae – Diarrhoea có hiệu lực khống chế tỷ lệ nhiễm (35,83%) và cường độ nhiễm cầu trùng tốt hơn Coxymax (43,33%), trong khi cả hai chế phẩm đều đảm bảo tỷ lệ nuôi sống 100% và không gây ảnh hưởng bất lợi đến khả năng sinh trưởng tích lũy hay hệ số chuyển hóa thức ăn. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn có giá trị trong việc xây dựng quy trình phòng trị bệnh cầu trùng và luân chuyển hóa dược hợp lý cho các mô hình chăn nuôi gà thả vườn quy mô nông hộ và trang trại.