Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, song song với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, nhu cầu của con người ngày một nâng cao, điều đó đòi hỏi nhu cầu về nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao mà còn phải an toàn về vệ sinh thực phẩm. Chính vì vậy chúng ta phải đa dạng hoá nguồn con giống có chất lượng thịt, trứng và khả năng sinh trưởng tốt để đáp ứng đầy đủ những nhu cầu đó. Chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi và luôn được quan tâm hàng đầu vì nó có khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu về thịt và trứng. Đây là loại thực phẩm rất thơm ngon và giàu dinh dưỡng hợp thị hiếu của nhiều người.
Ngoài ra, ngành còn cung cấp các sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến và ngành trồng trọt. Chính vì lẽ đó mà trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm đã có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Đứng trước nhu cầu thực tiễn sản xuất trên, nước ta đã nhập một số giống gà lông màu có khả năng sinh trưởng tốt, thích nghi với khí hậu của Việt Nam, trong đó có giống gà Lương Phượng. Gà Lương Phượng có đặc điểm dễ nuôi nhanh lớn, ít bệnh tật, thịt thơm ngon, thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới, song ít được ưa chuộng bởi lượng mỡ dưới da cũng như mỡ bụng nhiều, khối lượng không cao.
Để tạo tận dụng những tính trạng tốt, con gà Lương Phượng đã được chọn lai tạo với nhiều giống gà có khối lượng cao. Trong đó gà Ri, gà Chọi được chọn làm dòng bố lai với mái Lương Phượng đã tạo ra con lai “siêu trọng” là một hướng lai kinh tế có nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm thì dịch bệnh cũng xảy ra rất nhiều (đặc biệt là ở các trại chăn nuôi theo phương thức tập trung công nghiệp) đã gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế, ảnh hưởng đến sản lượng cũng như chất lượng ngành chăn nuôi, trong đó có bệnh Cầu trùng. Nó làm cho khả năng sinh trưởng của gà kém, giảm chất lượng thịt, trứng và nếu không được phòng trị kịp thời sẽ dẫn đến thiệt hại rất lớn về kinh tế.
Vì vậy để góp phần hạn chế tác hại của bệnh Cầu trùng gây ra trên đàn gia cầm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả phòng trị của thuốc Coxymax đến tỷ lệ, cƣờng độ nhiễm bệnh Cầu trùng trên gà lai F1 (Ri x Lƣơng Phƣợng) và F1 (Chọi x Lƣơng Phƣợng)”. Mục đích nghiên cứu Từ kết quả nghiên cứu lấy đó làm cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp phòng trị bệnh Cầu trùng cho gà, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân. Bản thân em tập làm quen với công tác nghiên cứu khoa học. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Xác định cường độ nhiễm và tỷ lệ nhiễm bệnh Cầu trùng ở hai loại gà F1 (Ri x Lương Phượng) và F1 (Chọi x Lương Phượng).
- Xác định ảnh hưởng của việc dùng thuốc tới khả năng tăng khối lượng ở hai loại gà F1 (Ri x Lương Phượng) và F1 (Chọi x Lương Phượng). - Xác định được sự ảnh hưởng của việc dùng thuốc trong phòng và điều trị bệnh Cầu trùng. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị bổ sung đến hiệu quả phòng trị bệnh và những hiểu biết về một số đặc điểm dịch tễ về bệnh Cầu trùng gà.
- Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để phục vụ giảng dạy và các nghiên cứu tiếp theo. Ý nghĩa trong thực tiễn - Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học. - Nâng cao kiến thức thực tiễn , tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi từ đó nâng cao và củng cố kiến thức của bản thân. e 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 2. Những hiểu biết về bệnh Cầu trùng 2. Đặc tính chung của bệnh Cầu trùng * Mầm bệnh: Bệnh Cầu trùng là một loại bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm rất nguy hiểm ở động vật nuôi thuần chủng, thú hoang và con người do một nhóm nguyên sinh động vật đơn bào ngành Protozoa, lớp Sporozoa, bộ Coccidae, chủng Eimeria, 2 giống Eimeria và Isospora. Bệnh có thể gây chết nhiều súc vật, tỷ lệ chết cao, đặc biệt là ở súc vật non.
Ở gà và thỏ, bệnh gây thiệt hại lớn nhất (tỷ lệ chết cao ở gà con, thỏ con có thể lên tới 80-100 %). Khi Cầu trùng mới theo phân ra ngoài là một kén hay là một noãn nang (Oocyst), là những bào tử trùng hình bầu dục, hình trứng hay hình cầu. Có 3 lớp vỏ: lớp ngoài cùng rất mỏng, bên trong có chứa nguyên sinh chất lổn nhổn thành hạt, giữa nguyên sinh chất có chứa một nhân tương đối to. Có một số loài Cầu trùng ở đầu có chỗ lõm vào gọi là lỗ noãn nang, có một số loài không có lỗ noãn nang hoặc không rõ.
Khi gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp thì nhân và nguyên sinh chất bắt đầu phân chia. Cầu trùng thuộc giống Eimeria thì nhân và nguyên sinh chất sẽ hình thành 4 bào tử, mỗi bào tử hình thành 2 bào tử con. Bào tử con có hình lê, chính bào tử con này sẽ xâm nhập vào niêm mạc ruột, tổ chức gan và gây ra những tổn thương bệnh lý. Cầu trùng giống Isospora thì nhân và nguyên sinh chất phân chia thành hai bào tử, mỗi bào tử phân chia thành 4 bào tử con và cũng xâm nhập vào niêm mạc ruột.
Cũng là gia cầm nhưng mỗi loài lại có một số loài Cầu trùng ký sinh riêng. Cầu trùng gà không ký sinh lên ngan, ngỗng… Trên cùng cơ thể nhưng mỗi loài Cầu trùng lại ký sinh trên một vị trí nhất định: Cầu trùng ký sinh ở manh tràng không ký sinh ở ruột non và ngược lại. Ở gà mọi lứa tuổi đều bị nhiễm Cầu trùng, nhưng ở mỗi lứa tuổi mức độ nhiễm khác nhau. Gà con bị nhiễm nặng và chết nhiều hơn ở gà lớn, gà trưởng thành chủ yếu là vật mang trùng.
e 4 * Vòng đời của Cầu trùng (chu kỳ sinh học) Sự lưu truyền rộng khắp của Cầu trùng là nhờ vào cấu trúc và vòng đời phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp tục phát triển, tồn tại lâu trong thiên nhiên. Vòng đời và sinh sản được tính từ khi gà ăn phải nang bào tử của Cầu trùng có trong thức ăn, nước uống bị nhiễm từ nền chuồng vào. - Vòng đời của Cầu trùng gà gồm 2 giai đoạn: + Giai đoạn ở ngoài tự nhiên: Noãn nang được thải theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm, noãn nang phát triển thành bào tử (Cầu trùng Eimeria phát triển thành 4 bào tử). Lúc đó trở thành noãn nang gây nhiễm (Oocyst gây nhiễm).
+ Giai đoạn ở trong cơ thể ký chủ: gà nuốt noãn nang gây nhiễm vào tới ruột, noãn nang vỡ ra thuộc phóng ra 4 bào tử gọi là Trophotozoit bám vào tế bào biểu mô ruột giải triển thành Schiphotozoit, Schiphotozoit phát triển thành Merozoit rồi thành tế bào phát đực và tế bào cái. Chúng kết hợp với nhau tạo thành hợp tử, rồi hợp tử lại sinh ra noãn nang (Oocyst), thời gian hoàn thành vòng đời từ 5 - 7 ngày. T0, A0 Noãn Noãn nang gây nhiễm Bào tử nang (Oocyst gây nhiễm) (Trophotozoit) (Oocyst) Schizontes Schizogone Tế bào đực (Tiểu phối tử) Hợp Merozoit Schizogoit tử Tế bào cái (Đại phối tử) Hình 2. Tóm tắt vòng đời của Cầu trùng gà - Trong vòng đời của Cầu trùng cả hai phương thức sinh sản đó là sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính.
Vì vậy có thể phân ra Cầu trùng sinh sản theo 3 giai đoạn sau: e 5 + Giai đoạn sinh sản vô tính: Cầu trùng ký sinh ở tế bào biểu mô đường tiêu hóa của súc vật, lớn dần lên và sinh sản theo hình thức trực phân. + Giai đoạn sinh sản hữu tính: sau giai đoạn sinh sản trực phân sẽ hình thành các tế bào cái (đại phối tử), các tế bào đực (tiểu phối tử). Hai tế bào đó kết hợp với nhau tạo thành hợp tử, giai đoạn này cũng thực hiện trong tế bào biểu mô. Cả hai giai đoạn trên đều tiến hành trong cơ thể ký chủ nên gọi là nội sinh.
+ Giai đoạn sinh sản bào tử: Sau khi hợp tử hình thành thì biến thành noãn nang (Oocyst), nguyên sinh chất và nhân lại phân chia thành bào tử và hình thành nên bào tử con. Giai đoạn này diễn ra ở môi trường bên ngoài gọi là sinh sản ngoại sinh. Khi ký chủ nuốt phải noãn nang đã phân chia thành 8 bào tử con vào đường tiêu hóa, noãn nang sẽ giải phóng các bào tử con ra, các bào tử con lại tiếp tục xâm nhập vào biểu mô ruột, lớn dần lên và tiếp tục sinh sản vô tính, hữu tính, vòng đời lại tiếp tục như trên. Bệnh Cầu trùng gà * Đặc điểm của bệnh Cầu trùng gà: Bệnh Cầu trùng gà nói riêng và bệnh Cầu trùng gia súc, gia cầm nói chung là một bệnh phổ biến trên khắp thế giới.
Luvenhuch phát hiện từ năm 1632 tức là cách đây khoảng 379 năm và cùng thời gian các nghiên cứu về dịch tễ, lâm sàng, bệnh lý, miễn dịch và thuốc điều trị đã được các nhà khoa học mọi thời đại dày công nghiên cứu và khám phá (Lê Văn Năm, 2003) [13]. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, (1999) [9], thì bệnh Cầu trùng gà được coi là vấn đề lớn thứ hai sau bệnh do vi trùng gây nên. Bệnh Cầu trùng gà có vòng đời ngắn (5-7 ngày) và không cần ký chủ trung gian. Bệnh Cầu trùng gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi gà nhất là chăn nuôi công nghiệp mật độ cao (tỷ lệ chết từ 50-70 % số gà nhiễm bệnh).
Bệnh thường gây hậu quả nghiêm trọng ở gà từ 5-90 ngày tuổi. Gà con sau khi bị mắc bệnh rất khó hồi phục, chậm lớn, còi cọc, ở gà trưởng thành chủ yếu là vật mang trùng và giảm tỷ lệ đẻ. Nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2010) [8], thì bệnh Cầu trùng gà do Cầu trùng ký sinh gây ra thấy ở khắp các nước trên thế giới. Đây là một bệnh khó kiểm soát, ngay cả những nước có trình độ khoa học kỹ thuật thú y e 6 phát triển cũng chịu nhiều tổn thất do Cầu trùng gây ra.
Cầu trùng ký sinh gây tổn thương nghiêm trọng đường tiêu hóa, làm cho gà dễ chết.