Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chăn nuôi giữ vị trí trọng yếu trong cơ cấu ngành nông nghiệp, cung cấp nguồn thực phẩm thiết yếu phục vụ đời sống xã hội. Nhằm thực hiện phương châm đào tạo "học đi đôi với hành", "lý thuyết gắn liền với thực tiễn", khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Thú y của tác giả Dương Văn Hiếu (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) được triển khai nhằm giúp sinh viên củng cố, hệ thống hóa kiến thức chuyên môn, nâng cao kỹ năng thực hành nghề nghiệp và tiếp cận trực tiếp với phương thức quản lý dịch bệnh trong mô hình chăn nuôi trang trại công nghiệp gia công cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam.

Mục đích và yêu cầu nghiên cứu của chuyên đề được xác định cụ thể trong văn bản như sau:

  • Mục đích:
    1. Đánh giá tình hình chăn nuôi tại cơ sở thực tập.
    2. Thực hiện quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn thịt thương phẩm tại cơ sở.
    3. Thực hiện quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn gà thịt tại cơ sở.
  • Yêu cầu:
    1. Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở.
    2. Thực hiện được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn thịt thương phẩm tại cơ sở đạt hiệu quả tốt.
    3. Thực hiện được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn gà thịt tại cơ sở đạt hiệu quả tốt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn gà thịt thương phẩm (giống gà Ai Cập, quy mô nuôi 18.000 con) và đàn lợn thịt thương phẩm (quy mô nuôi 1.150 con).
  • Phạm vi không gian: Hai cơ sở chăn nuôi gia công của trại tư nhân Nguyễn Hồng Phong tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên:
    • Trại gà thịt: Đặt tại xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, diện tích chuồng trại khoảng 1.000 m², gồm 2 dãy chuồng 2 tầng tách biệt.
    • Trại lợn thịt: Đặt tại xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, diện tích gần 2 ha. Cả hai địa điểm đều nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa trung du miền núi phía Bắc, nhiệt độ trung bình năm 23,4°C, biên độ nhiệt ngày đêm lớn, độ ẩm trung bình 86,1%, lượng mưa tập trung vào tháng 7 và tháng 8.
  • Phạm vi thời gian: Chuyên đề được thực hiện qua hai giai đoạn liên tiếp trong năm 2016 – 2017:
    • Giai đoạn thực hiện tại trại gà thịt: Từ ngày 17/12/2016 đến ngày 07/01/2017.
    • Giai đoạn thực hiện tại trại lợn thịt: Từ ngày 08/01/2017 đến ngày 18/05/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu ứng dụng thực hành nghề nghiệp và theo dõi lâm sàng thú y tại cơ sở sản xuất. Khung cơ sở lý luận và kỹ thuật được xây dựng từ các quy luật sinh học và bệnh học thú y chuyên sâu:

  • Cơ sở sinh trưởng và phát triển của lợn: Tiếp cận quan điểm sinh học của Johansson L. (1972) và Trần Đình Miên, Vũ Kính Trực (1975) về sự sinh trưởng (quá trình tổng hợp protein, gia tăng kích thước mô cơ, thay đổi 4 chiều đo: dài thân, vòng ngực, cao vây, vòng ống); quy luật ưu tiên tích lũy mô theo giai đoạn (hệ thần kinh, tiêu hóa, nội tiết phát triển trước, tiếp đến bộ xương, cơ bắp và cuối cùng là mô mỡ); các yếu tố dinh dưỡng (mức năng lượng, tỷ lệ protein, chất xơ thô từ 2,4 - 11%), điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi (nhiệt độ tối ưu nuôi béo 15 - 18°C, độ ẩm khoảng 70%, mật độ nuôi nhốt) và ảnh hưởng của giống (lợn Móng Cái tăng trọng 300 - 350 g/ngày, con lai F1 đạt 550 - 600 g/ngày, lợn ngoại nuôi tốt đạt 700 - 800 g/ngày).
  • Cơ sở bệnh lý thú y:
    • Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) ở gia cầm do vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum gây ra.
    • Bệnh suyễn lợn (viêm phổi địa phương) do Mycoplasma hyopneumoniae (MH) kết hợp các vi khuẩn kế phát như Actinobacillus pleuropneumoniae, Streptococcus suis, Pasteurella multocida.
    • Hội chứng tiêu chảy ở lợn do sự mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột (Escherichia coli, Salmonella, Clostridium perfringens), virus gây viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE), Rotavirus, giun sán và các yếu tố gây stress môi trường, thức ăn.

Phương pháp nghiên cứu và thao tác chuyên môn bao gồm:

  • Phương pháp thu thập và điều tra số liệu: Tìm hiểu sổ sách theo dõi, biểu mẫu chăn nuôi của trang trại trong 2 năm 2016 và 2017, kết hợp phỏng vấn cán bộ quản lý và kỹ sư phụ trách kỹ thuật của Công ty C.P. Việt Nam tại trại.
  • Phương pháp thực hành quy trình kỹ thuật tại trại gà: Vệ sinh phòng dịch hàng ngày (đi qua buồng sát trùng, tắm thay bảo hộ lao động, quét dọn sân chuồng); đảo trấu nền chuồng; sát trùng chuồng trại định kỳ bằng hóa chất Virkon pha tỷ lệ 10 g/4 lít nước (chu kỳ 10 - 15 ngày/lần); chăm sóc úm gà, cung cấp nước uống chống stress, cho ăn thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, bổ sung vitamin K, vitamin D; tiêm phòng vaccine Cúm gia cầm H5N1 vào thời điểm 3 ngày tuổi.
  • Phương pháp thực hành quy trình kỹ thuật tại trại lợn: Vệ sinh chuồng trại (gạt phân nền chuồng, quét dọn, dũi máng ăn, rắc vôi bột lối đi); sát trùng định kỳ bằng dung dịch Omnicide (tỷ lệ pha 320 ml/1.000 lít nước, phun 2 lần/ngày theo lịch tuần); tiêm phòng bắt buộc vaccine Dịch tả lợn (1 tuần tuổi), Tụ huyết trùng (2 tuần tuổi), Lở mồm long móng và Mycoplasma (3 tuần tuổi); theo dõi biểu hiện lâm sàng đàn lợn hàng ngày để phát hiện lợn ốm, thực hiện phác đồ điều trị thử nghiệm.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được tính toán tỷ lệ phần trăm và tổng hợp trên phần mềm Microsoft Excel 2007.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của ngành chăn nuôi trong nền kinh tế, tầm quan trọng của giai đoạn thực tập chuyên môn tại cơ sở đối với sinh viên thú y. Xác lập 3 mục đích cụ thể về việc đánh giá tình hình chăn nuôi, thực hiện quy trình phòng trị bệnh, nuôi dưỡng chăm sóc trên cả hai đối tượng gia cầm (gà thịt) và gia súc (lợn thịt) tại trại Nguyễn Hồng Phong; đồng thời xác định các chỉ tiêu yêu cầu cần hoàn thành.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Phần này tập trung phân tích đặc điểm địa lý, khí hậu, cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của hai trang trại:

  • Trại gà thịt xây dựng năm 2014 tại xã Sơn Cẩm, quy mô chuồng 2 tầng với hệ thống làm mát bằng quạt thông gió, dàn mát mùa hè và đèn sưởi hồng ngoại mùa đông, máng uống tự động, máy phát điện dự phòng; nhân sự gồm 1 quản lý và 3 công nhân.
  • Trại lợn thịt xây dựng năm 2012 tại xã Cổ Lũng, diện tích gần 2 ha, quy mô 1.150 lợn thịt; nhân sự gồm 1 quản lý, 1 kỹ sư chính của công ty và 2 công nhân.

Chương này cũng tổng hợp sâu sắc hệ thống tài liệu lý thuyết về sinh trưởng, phẩm chất thịt của lợn, sinh lý dinh dưỡng, cơ chế tác động của môi trường tiểu khí hậu; phân tích nguyên nhân, cơ chế sinh bệnh, triệu chứng, bệnh tích và phương pháp phòng trị bệnh CRD ở gà, bệnh viêm phổi và hội chứng tiêu chảy ở lợn; tổng thuật các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước của các tác giả Đặng Xuân Bình, Đoàn Thị Kim Dung, Nguyễn Bá Hiên, Tajima, Sokol, Smith...

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng đàn gà thịt và lợn thịt thương phẩm, mốc thời gian thực hiện đề tài tại 2 địa điểm thuộc huyện Phú Lương. Liệt kê 7 nhóm chỉ tiêu theo dõi: cơ cấu đàn gà, cơ cấu đàn lợn, khối lượng công việc vệ sinh sát trùng, số lượng tiêm phòng vaccine, số lượng vật nuôi được chẩn đoán và điều trị bệnh, khối lượng công việc nuôi dưỡng chăm sóc đàn gà và đàn lợn. Trình bày chi tiết các thao tác thực hiện kỹ thuật chăm sóc, vệ sinh chuồng trại, lịch phun sát trùng tuần của trại lợn và phương pháp xử lý số liệu bằng Excel 2007.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Đây là phần trọng tâm trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm:

  • Đánh giá tình hình chăn nuôi: Trại gà nuôi trung bình 5,5 - 6 lứa/năm, duy trì quy mô 18.000 con gà Ai Cập/lứa trong cả hai năm 2016 và 2017. Trại lợn duy trì quy mô ổn định 1.150 lợn thịt thương phẩm/lứa và đang phấn đấu mục tiêu nâng quy mô lên 2.000 con.
  • Kết quả thực hiện tại trại gà: Hoàn thành 44 lần cho ăn (100%), 22 lần đảo trấu (100%), 22 lần vệ sinh máng ăn và máng nước (100%), 44 lần quét dọn sân chuồng (100%), tham gia 1 đợt xuất bán gà (100%). Gà sinh trưởng tốt: khối lượng tuần thứ 3 đạt trung bình 1,2 kg/con, khi xuất bán ở 45 ngày tuổi đạt bình quân 2,8 kg/con; tỷ lệ sống đạt 98,2%. Ghi nhận 2.017 con gà mắc bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD), chiếm 11,2% tổng đàn; sử dụng phác đồ Doxycycline 150 kết hợp phun sát trùng Ioguard-300 hoặc Bestaquam-S, bổ sung men vi sinh, điện giải và vitamin K giải độc gan thận, điều trị khỏi 1.705 con, đạt tỷ lệ 84,5%.
  • Kết quả thực hiện tại trại lợn: Thực hiện 159 lần quét chuồng (100%), 194 lần cho ăn và gạt phân nền chuồng/máng nước (100%), 97 lần dũi máng ăn (100%), tham gia 1 đợt xuất bán lợn sau chu kỳ nuôi 5 tháng (100%). Công tác rắc vôi đường đi thực hiện được 20/150 lần (13,3%), phun sát trùng xung quanh chuồng đạt 12/65 lần (18,46%).
  • Kết quả tiêm phòng vaccine trên đàn lợn: Tiêm vaccine Dịch tả lợn cho 1.050 con (91,30%), vaccine Tụ huyết trùng cho 1.050 con (91,30%), vaccine Lở mồm long móng cho 1.125 con (97,83%), vaccine Mycoplasma cho 1.145 con (99,57%).
  • Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn: Ghi nhận 402 con mắc hội chứng tiêu chảy (chiếm 34,9% tổng đàn), sử dụng thuốc Nor 100 tiêm bắp liều 1 ml/10-15 kg thể trọng trong 3 ngày liên tục, chữa khỏi 390 con (đạt 97,01%). Ghi nhận 91 con mắc bệnh viêm phổi (chiếm 7,9% tổng đàn), sử dụng thuốc Dynamutilin 10% tiêm bắp liều 2 ml/10-15 kg thể trọng trong 3 ngày liên tục, chữa khỏi 83 con (đạt 91,21%).

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp về tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi: tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợn là 34,9%, bệnh viêm phổi ở lợn là 7,9%, bệnh viêm đường hô hấp ở gà là 11,2%. Đồng thời nêu 2 kiến nghị thực tiễn: trang trại cần nâng cao công tác vệ sinh phòng bệnh và chăm sóc đàn lợn nái để hạn chế mầm bệnh lây truyền; Nhà trường cùng Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y tiếp tục duy trì cho sinh viên các khóa sau thực tập trực tiếp tại các trang trại sản xuất.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận ghi nhận hệ thống dữ liệu thực tế tại hai cơ sở chăn nuôi gia công theo tiêu chuẩn công nghiệp của Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam, tổng hợp cụ thể qua các bảng số liệu sau:

Bảng 1: Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn gia súc, gia cầm tại trại

Loại vật nuôi Bệnh mắc Thuốc điều trị chính Số con mắc (con) Tỷ lệ mắc trên tổng đàn (%) Số con chữa khỏi (con) Tỷ lệ chữa khỏi (%)
Đàn gà thịt (18.000 con) Viêm đường hô hấp (CRD) Doxycycline 150 2.017 11,20% 1.705 84,50%
Đàn lợn thịt (1.150 con) Hội chứng tiêu chảy Nor 100 402 34,90% 390 97,01%
Đàn lợn thịt (1.150 con) Viêm phổi Dynamutilin 10% 91 7,90% 83 91,21%

Bảng 2: Kết quả thực hiện tiêm phòng vaccine cho đàn lợn thịt thương phẩm

STT Loại vaccine tiêm phòng Thời điểm tiêm theo quy trình Số lượng thực hiện (con) Tỷ lệ hoàn thành so với đàn (%)
1 Vaccine Dịch tả lợn Lợn nhập chuồng được 1 tuần 1.050 91,30%
2 Vaccine Tụ huyết trùng Lợn nhập chuồng được 2 tuần 1.050 91,30%
3 Vaccine Lở mồm long móng Lợn nhập chuồng được 3 tuần 1.125 97,83%
4 Vaccine Mycoplasma Lợn nhập chuồng được 3 tuần 1.145 99,57%

Về mặt giải pháp kỹ thuật, tác giả đã hệ thống hóa và đề xuất áp dụng các phác đồ phối hợp:

  • Phác đồ kiểm soát CRD ở gà: Kết hợp kháng sinh Doxycycline 150 (liều 10 mg/kg thể trọng trong 5 ngày) với phun sương khử trùng trực tiếp khu vực chăn nuôi bằng Ioguard-300 hoặc Bestaquam-S (2 - 4 ml/lít nước); bổ sung chế phẩm tăng lực, điện giải chống xuất huyết Amilyte/Unisol 500/Vitrolyte chứa vitamin K, giải độc gan thận bằng Soramin/Livercin (1 - 2 ml/lít nước) và men vi sinh sống Zymepro/Perfectzyme.
  • Phác đồ kiểm soát bệnh ở lợn: Sử dụng Nor 100 đặc trị tiêu chảy và Dynamutilin 10% đặc trị viêm phổi theo liệu trình 3 ngày liên tục, kết hợp giữ ấm, cho uống nước ấm và ổn định nhiệt độ chuồng nuôi ở 27 - 32°C.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cung cấp bức tranh thực tế về tỷ lệ nhiễm bệnh thường gặp và đánh giá hiệu lực của các dòng kháng sinh, vaccine thương mại khi áp dụng trực tiếp tại trang trại quy mô lớn ở khu vực trung du miền núi, làm tài liệu đối chiếu cho mô hình chăn nuôi gia công công nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số giới hạn thực tế do điều kiện thực tập tại cơ sở sản xuất:

  • Hạn chế về thời gian và phạm vi theo dõi: Thời gian thực tập tại trại gà thịt diễn ra tương đối ngắn (khoảng 3 tuần, từ 17/12/2016 đến 07/01/2017), tác giả chỉ tham gia theo dõi trực tiếp được 1 chu kỳ xuất bán gà (45 ngày tuổi) và không đủ thời gian theo dõi trọn vẹn nhiều lứa nuôi liên tiếp trong các mùa khác nhau.
  • Hạn chế về mức độ hoàn thành chỉ tiêu vệ sinh phụ trợ: Tại trại lợn thịt, trong khi các công việc chăm sóc chuồng nuôi trực tiếp đạt 100% thì việc phun sát trùng xung quanh chuồng chỉ đạt 18,46% (12/65 lần) và quét rắc vôi đường đi chỉ đạt 13,30% (20/150 lần) so với kế hoạch đề ra, do điều kiện nhân lực và phân công lao động tại trại.
  • Hạn chế về kỹ thuật xét nghiệm: Việc chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào quan sát triệu chứng lâm sàng và kinh nghiệm của kỹ sư trang trại, chưa thực hiện được các xét nghiệm phân lập vi khuẩn chuyên sâu, giám sát hiệu giá kháng thể sau tiêm vaccine hoặc làm kháng sinh đồ tại phòng thí nghiệm.

Hướng mở: Tác giả đề nghị trang trại cần hoàn thiện và kiểm soát nghiêm ngặt hơn nữa quy trình vệ sinh phòng dịch và chăm sóc nuôi dưỡng ngay từ khâu đàn lợn nái sinh sản nhằm triệt tiêu nguồn lây truyền mầm bệnh sang đàn lợn con nuôi thịt.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên ngành Chăn nuôi, Thú y chuẩn bị đi thực tập tốt nghiệp: Cung cấp góc nhìn thực tế về quy trình làm việc, phương pháp xây dựng đề cương, cách ghi chép chỉ tiêu lâm sàng và xử lý số liệu tại trang trại.
  • Kỹ thuật viên trang trại và người chăn nuôi gia công: Tham khảo chi tiết các thông số kỹ thuật nuôi úm gà, nhiệt độ thích hợp cho lợn (27 - 32°C), nồng độ pha chế hóa chất tiêu độc chuồng trại (Virkon 10 g/4 lít; Omnicide 320 ml/1.000 lít) và lịch trình tiêm vaccine cho lợn thịt thương phẩm theo từng tuần tuổi.
  • Phần đáng chú ý nhất của tài liệu là các phác đồ điều trị thực nghiệm kèm theo tên thương mại của thuốc, liều lượng sử dụng và tỷ lệ hồi phục thực tế trên quy mô hàng nghìn cá thể gà và lợn.

Câu hỏi thường gặp

1. Trại Nguyễn Hồng Phong tổ chức chăn nuôi theo mô hình nào và quy mô đàn là bao nhiêu?

Trang trại hoạt động theo hình thức gia công cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Quy mô sản xuất gồm trại gà thịt nuôi 18.000 con gà Ai Cập/lứa (khoảng 5,5 - 6 lứa/năm) tại xã Sơn Cẩm và trại lợn thịt nuôi 1.150 con lợn thương phẩm/lứa tại xã Cổ Lũng.

2. Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) ở đàn gà được điều trị bằng phác đồ nào và đạt kết quả ra sao?

Bệnh CRD trên gà xuất hiện với tỷ lệ 11,2% (2.017 con). Tác giả áp dụng phác đồ dùng kháng sinh Doxycycline 150 liều 10 mg/kg thể trọng trong 5 ngày liên tục, phối hợp phun sát trùng chuồng bằng Ioguard-300 hoặc Bestaquam-S, bổ sung men vi sinh Zymepro, giải độc gan thận Soramin/Livercin và điện giải vitamin K. Kết quả chữa khỏi 1.705 con, đạt tỷ lệ khỏi 84,5%.

3. Lịch tiêm phòng vaccine cho đàn lợn thịt tại trại được quy định như thế nào?

Theo quy trình của C.P. áp dụng tại trại: lợn con nhập chuồng được 1 tuần tuổi tiêm vaccine Dịch tả lợn; nhập chuồng được 2 tuần tuổi tiêm vaccine Tụ huyết trùng; nhập chuồng được 3 tuần tuổi tiêm kết hợp vaccine Lở mồm long móng và vaccine Mycoplasma phòng bệnh suyễn lợn.

4. Tỷ lệ mắc và hiệu quả điều trị hội chứng tiêu chảy và bệnh viêm phổi trên đàn lợn thịt thương phẩm đạt bao nhiêu?

Hội chứng tiêu chảy có tỷ lệ mắc cao nhất tại trại là 34,9% (402 con), dùng thuốc Nor 100 tiêm bắp trong 3 ngày đã chữa khỏi 390 con, đạt tỷ lệ 97,01%. Bệnh viêm phổi có tỷ lệ mắc là 7,9% (91 con), dùng Dynamutilin 10% tiêm bắp trong 3 ngày đã chữa khỏi 83 con, đạt tỷ lệ 91,21%.

5. Vì sao tỷ lệ thực hiện phun sát trùng và rắc vôi bột ngoài chuồng lợn chỉ đạt dưới 20%?

Theo số liệu bảng 4.5, việc vệ sinh nền chuồng hàng ngày đạt 100% (159 lần), nhưng phun sát trùng ngoài chuồng chỉ đạt 18,46% (12/65 lần) và rắc vôi đường đi đạt 13,30% (20/150 lần). Nguyên nhân do quy định định kỳ của trại có tần suất cao (rắc vôi hàng ngày, phun sát trùng 3 lần/tuần), nhưng trong quá trình sản xuất thực tế, công việc này chỉ được tăng cường đẩy mạnh khi trại có nguy cơ dịch bệnh bùng phát, thời gian còn lại tập trung nhân lực vào các khâu chăm sóc trực tiếp trong chuồng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Văn Hiếu đã tổng hợp đầy đủ quá trình thực hiện các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn gà thịt (18.000 con) và đàn lợn thịt thương phẩm (1.150 con) tại trại gia công Nguyễn Hồng Phong thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Đề tài phản ánh trung thực các chỉ tiêu sản xuất, từ tỷ lệ sống của gà đạt 98,2%, khối lượng xuất bán đạt 2,8 kg/con đến tỷ lệ khỏi bệnh khi điều trị tiêu chảy (97,01%), viêm phổi ở lợn (91,21%) và CRD ở gà (84,5%). Các kết quả và số liệu thực nghiệm trong văn bản đóng vai trò là tư liệu thực tế có giá trị phục vụ học tập, nghiên cứu và quản lý thú y tại các cơ sở chăn nuôi trang trại tập trung.