Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số hiểu biết cơ bản về P. suis gây bệnh viêm phổi ở lợn 1. multocida và bệnh viêm phổi do P.
multocida gây ra ở lợn Vi khuẩn P. multocida gây bệnh cho nhiều loài động vật, mỗi một serotype lại gây ra 1 thể bệnh khác nhau, trong đó có bệnh Tụ huyết trùng (bại huyết xuất huyết) ở lợn do P. multocida serotype A và B gây ra. multocida thường gặp 5 serotype A, B, C, D, E, trong đó thường gặp ở lợn là serotype A, B, D.
Theo phân loại của Bergey (1974)[25] vi khuẩn P. multocida thuộc: Bộ: Eubacteriales Họ: Parvobateriaceae Tộc: Pasteurelliae Giống: Pasteurella Loài: Pasteurella multocida Tất cả Pasteurella gây bệnh cho gia súc, gia cầm đều thuộc một giống duy nhất có đặc tính căn bản giống nhau về mặt hình thái, nuôi cấy và chỉ khác nhau ở tính thích nghi gây bệnh ở các loài vật. Dựa vào tính thích nghi gây bệnh đối với các loài vật người ta chia vi khuẩn P. multocida thành các loại: + Pasteurella aviseptica gây bệnh tụ huyết trùng gà.
+ Pasteurella boviseptica gây bệnh tụ huyết trùng trâu bò. + Pasteurella suisseptica gây bệnh tụ huyết trùng lợn. + Pasteurella oviseptica gây bệnh tụ huyết trùng ở cừu… n 4 Theo Nguyễn Như Thanh và cs (1997) [17], P. multocida là loại cầu trực khuẩn nhỏ, hình trứng hoặc bầu dục, hai đầu tròn, kích thước 0,25-0,4 x 0,4- 1,5 µm.
Vi khuẩn không có lông, không di động, không hình thành nha bào, bắt màu gram (-), bắt màu đậm ở hai đầu (vi khuẩn lưỡng cực). multocida là loại vi khuẩn hiếu khí hoặc yếm khí tùy tiện, nhiệt độ thích hợp 370C (có thể nuôi ở 130 - 380C ), pH thích hợp từ 7,2 - 7,4. Trên các môi trường nuôi cấy thông thường vi khuẩn phát triển kém, khi môi trường được bổ sung huyết thanh hay máu, vi khuẩn phát triển tốt. multocida có khả năng lên men đường Glucose, Saccharose, Mannit, Sozbit, Xylose.
Không lên men đường Lactose, Maltose, Arabinose, Rammo, Salixin, Dunxid, Adonit. Các phản ứng Indol, Catalase, Oxidase, H2S dương tính; VP, MR , Urearse âm tính, không làm tan chảy gellatin. multocida dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt độ, ánh sáng mặt trời và các chất sát trùng thông thường. Vi khuẩn bị diệt sau khi đun ở 580C/20 phút, 800C/10 phút, 1000C trong vài giây, ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp diệt vi khuẩn trong canh trùng sau 1 ngày.
Các chất sát trùng thông thường diệt vi khuẩn nhanh chóng: Axit phenic 5% diệt vi khuẩn trong 1 phút, nước vôi 1% trong 3-5 phút. Vi khuẩn sống khá lâu và sinh sản trong đất ẩm có nhiều nitrat và thiếu ánh sáng. Trong tổ chức của cơ thể động vật bị thối nát vi khuẩn sống được 1 - 3 tháng. Trong chuồng nuôi súc vật, trên đồng cỏ, trong đất vi khuẩn có thể sống hàng tháng, có khi hàng năm.
Kháng nguyên của P. multocida rất phức tạp, cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã xác định được vi khuẩn P. multocida có 2 loại kháng nguyên: kháng nguyên vỏ nhày (K) và kháng nguyên thân (O). Kháng nguyên K bao xung quanh thân vi khuẩn che chở kháng nguyên thân O khỏi bị các phage tác dụng nhưng đồng thời cũng ngăn cản sự tiếp xúc giữa kháng nguyên O và kháng thể O.
multocida được chia thành các type giáp mô A, B, D, E, F tuỳ thuộc vào cấu trúc polysaccharide bề mặt, trong đó các serotype A, B, D đã được thông báo là gây bệnh cho lợn (Đỗ Ngọc Thuý và cs, 2007) [ 21]. Kháng nguyên K được cấu tạo từ protein và polysaccarit, ngoài ra còn một số ít các Lipopolysaccarit (LPS). Kháng nguyên K của vi khuẩn P. multocida còn có khả năng gắn với thụ thể của tế bào hồng cầu.
Một số chủng P. multocida serotype D có sinh ra một yếu tố được gọi là độc tố gây hoại tử da (Dermonecrotic Toxin - DNT). multocida serotype D có liên quan đến bệnh viêm teo mũi ở lợn. multocida có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, tiêu hoá hoặc qua da có vết thương.
Tuy nhiên, trong điều kiện bình thường một tỷ lệ lợn khoẻ mạnh nhất định có vi khuẩn P. multocida ký sinh ở niêm mạc phần phía trên của bộ máy hô hấp, giữa cơ thể và mầm bệnh ở trạng thái cân bằng động. Khi điều kiện ngoại cảnh bất lợi hay sự xuất hiện đồng thời của các bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus, vi khuẩn khác,. làm trạng thái cân bằng trên bị phá vỡ, nhân cơ hội này, do sức đề kháng của cơ thể giảm sút làm mầm bệnh trỗi dậy, tăng lên về số lượng, độc lực và gây bệnh.
* Bệnh viêm phổi do vi khuẩn P. multocida gây ra ở lợn: Bệnh viêm phổi ở lợn do P. multocida gây ra là kết quả của sự lây nhiễm vi khuẩn vào phổi. Bệnh thường thấy ở giai đoạn cuối của bệnh viêm phổi cục bộ hay ở những bệnh ghép ở đường hô hấp của lợn.
Hội chứng viêm phổi rất thường thấy ở lợn, vi khuẩn vẫn thấy trong tất cả các đàn lợn và có thể phân lập từ dịch mũi hay hạch hầu của cả những lợn khỏe mạnh bình thường. Vi khuẩn lây lan chủ yếu qua đường không khí. Tuy nhiên, vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể lợn qua đường tiêu hóa hay các vết thương. Theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1979) [14], lợn khỏe mạnh có thể bị nhiễm vi khuẩn P.
multocida do tiếp xúc với gia súc bệnh, nung bệnh, n 6 mang trùng hay tiếp xúc trực tiếp với các chất thải của động vật bị bệnh. Nguồn lây lan chủ yếu là lợn bị bệnh và lợn mang trùng. Các động vật khác như gà, chuột và các loài gặm nhấm cũng được coi là nguồn lây nhiễm vi khuẩn. Bệnh viêm phổi do vi khuẩn P.
multocida xuất hiện rộng khắp trên thế giới nhưng bệnh hay xảy ra và gây thiệt hại nặng ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới như: Ấn Độ, Thái Lan, Philippine, Lào, Campuchia, Việt Nam…,vì vi khuẩn thường cư trú ở đường hô hấp trên của lợn do vậy thường rất khó tiêu diệt. multocida thường kết hợp với các tác nhân gây bệnh khác như M. hyopneumoniae làm cho quá trình viêm phổi càng thêm phức tạp. - Triệu chứng: Triệu chứng lâm sàng của bệnh viêm phổi do P.
multocida gây ra rất khác nhau và tùy thuộc vào từng chủng vi khuẩn gây bệnh, thường xuất hiện 3 thể: + Thể cấp tính: Thể này thông thường do hầu hết các chủng P. multocida thuộc serotype B gây ra. Những con vật mắc bệnh thường có biểu hiện khó thở, hóp bụng vào để thở, gõ vào bụng có âm đục “bịch, bịch”, sốt cao nhiệt độ lên tới 41- 420C, tỷ lệ chết cao (5 - 40%). Ở những con vật chết và hấp hối có thể thấy những vết đổi màu tím ở vùng bụng có thể là do sốc nội độc tố.
+ Thể á cấp tính: Ở thể này hiện tượng ho và thở thể bụng thường thấy ở những lợn lớn. Ở những lợn ở lứa tuổi này, ho thường được coi là biểu hiện để xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh. Triệu chứng lâm sàng của bệnh ở thể này giống như viêm màng phổi do A. pleuropneumoniae gây ra, nhưng những đặc điểm phân biệt chính là bệnh viêm phổi do P.
multocida thì hiếm khi gây ra chết đột ngột, hơn nữa lợn mắc bệnh viêm phổi do P. multocida gây ra có thể tồn tại một thời gian dài. + Thể mãn tính: Đây là thể đặc trưng thường thấy của bệnh, con vật bệnh thỉnh thoảng xuất hiện ho, sốt nhẹ hoặc không. Những con vật bị ảnh hưởng thường ở giai đoạn lợn lớn (10 - 16 tuần tuổi).
n 7 - Bệnh tích: Bệnh tích của bệnh do P. multocida gây ra chủ yếu ở phần xoang ngực và thường kèm với bệnh tích của M. Đặc trưng của bệnh này xuất hiện ở thùy đỉnh và mặt trong của phổi, cùng với việc có bọt khí trong khí quản. Có sự phân chia ranh giới rõ rệt giữa vùng tổ chức phổi bị tổn thương và vùng tổ chức phổi bình thường.
Phần bị ảnh hưởng của phổi sẽ có sự biến đổi màu sắc từ đỏ sang xám xanh và phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh. Các trường hợp bệnh nghiêm trọng có thể xuất hiện viêm phế mạc và apxe ở các mức độ khác nhau. Trong các trường hợp này thường thấy phế mạc dính chặt vào thành xoang ngực và phế mạc có vùng mờ đục, khô. Đây là bệnh tích chủ yếu để phân biệt bệnh viêm phổi do Pasteurella với viêm phổi do Actinobacillus, trong đó thường thấy mủ chảy ra có màu vàng và dính cùng với rất nhiều sợi fibrin (Pijoan và Trogo, 1989) [48].
- Chẩn đoán: Việc chẩn đoán đúng bệnh do vi khuẩn P. multocida gây ra là hết sức cần thiết, do đó cần tiến hành đồng thời nhiều phương pháp như: dịch tễ học, chẩn đoán lâm sàng, giải phẫu bệnh lý và đặc biệt là dựa trên kết quả xét nghiệm vi khuẩn học trong phòng thí nghiệm. Bên cạnh đó còn có thể sử dụng các phương pháp khác như: phản ứng kết tủa khuếch tán miễn dịch trên gel thạch AGID (Agargel Immuno Diffuse) để xác định kháng nguyên thân (O) từ vi khuẩn phân lập được với kháng huyết thanh chuẩn, phương pháp ngưng kết nhanh trên phiến kính để định loại kháng nguyên vỏ (K), phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp để xác định kháng nguyên vỏ, phản ứng ELISA, kỹ thuật PCR,. Việc xác định chủng vi khuẩn P.
multocida phân lập được thuộc serotype nào là hết sức cần thiết để có thể xác định được thể bệnh mà chúng gây ra, từ đó có biện pháp phòng trị bệnh phù hợp. Gần đây, kỹ thuật PCR đã n 8 được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu và chẩn đoán bệnh do vi khuẩn gây ra ở vật nuôi, trong đó có P. multocida và đã được OIE chuẩn hóa thành quy trình chung, có thể áp dụng ở các phòng thí nghiệm để định type giáp mô của vi khuẩn P. - Điều trị: Kháng sinh rất đa dạng và sự kết hợp giữa các loại kháng sinh đã được sử dụng thường xuyên như: oxytetracyline 11mg/kg; oxytetracyline chậm: 20mg/kg và rất nhiều loại kháng sinh khác.
Tuy nhiên, việc điều trị bằng kháng sinh ngày càng khó khăn hoặc không thành công, điều này là do tính kháng thuốc rộng rãi ở vi khuẩn P. Người ta đã thông báo rằng cephalosporins và fluorinated quinolone thế hệ thứ 3 là thuốc có hiệu quả nhất. Một số thuốc kháng sinh đã được dùng có hiệu quả cho điều trị P. multocida: lincomycin- spectinomycin, một số cephalosporin và nhiều quinolones: enrofloxacin và danofloxacin.
Trong đó ceftiofur đã được một số tác giả chứng minh là kháng sinh tốt để chống lại vi khuẩn P. - Phòng bệnh: hiện nay đã có một số vắc xin vô hoạt dùng cho việc phòng bệnh viêm phổi do Pasteurella.