Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Ngộ độc thực phẩm Ngộ độc thực phẩm hay còn được gọi tên thông dụng là ngộ độc thức ăn hay trúng thực là các biểu hiện bệnh lý xuất hiện sau khi ăn, uống và cũng là hiện tượng người bị trúng độc, ngộ độc do ăn, uống phải những loại thực phẩm nhiễm khuẩn, nhiễm độc hoặc có chứa chất gây ngộ độc hoặc thức ăn bị biến chất, ôi thiu, có chất bảo quản, phụ gia. nó cũng có thể coi là là bệnh truyền qua thực phẩm, là kết quả của việc ăn thực phẩm bị ô nhiễm. Người bị ngộ độc thực phẩm thường biểu hiện qua những triệu chứng lâm sàng như nôn mửa, tiêu chảy, chóng mặt, sốt, đau bụng.
Ngộ độc thực phẩm không chỉ gây hại cho sức khỏe (có thể dẫn đến tử vong) mà còn khiến tinh thần con người mệt mỏi. Theo các chuyên gia về an toàn vệ sinh thực phẩm thì ngộ độc thực phẩm mùa hè thường do thức ăn nhiễm vi sinh vật, vì mùa hè nhiệt độ cao thuận lợi cho vi sinh vật phát triển. Đặc biệt thực phẩm có nguồn gốc động vật như thịt, cá, sữa là các chất giàu đạm, rất dễ trở thành môi trường tốt cho các vi sinh vật, nhất là vi khuẩn gây bệnh phát triển và khí đó thức ăn đã biến thành chất độc. Ngộ độc thực phẩm do tác nhân vi sinh có thể chia làm 3 loại: - Ngộ độc do độc tố đã được sinh ra trong thực phẩm.
Các vi sinh vật như: Staphylococcus aureus, Bacillus cereus, Clostridium botulinum…trong khi phát triển trên thực phẩm đã sinh ra các hợp chất gây ngộ độc cho người ăn phải chúng. Trong trường hợp này, thời gian ủ bệnh ngắn và các triệu chứng thường là đau bụng, nôn. - Nhiễm khuẩn không xâm nhập là trường hợp các vi khuẩn nhiễm vào thức ăn, sau khi được ăn vào chúng vẫn còn sống sót đến ruột non và phát triển bên trong lòng ruột. Tại đây, chúng sinh ra các độc tố có tác dụng cục bộ trong ruột, gây đau bụng và tiêu chảy.
Các vi khuẩn dạng này thường là Vibrio Cholera gây bệnh tả, E.coli, Clostridium perfringens gây viêm ruột, tiêu chảy. n 5 - Nhiễm khuẩn xâm nhập cũng do các vi khuẩn nhiễm vào thức ăn và vẫn còn sống sót đến ruột non, nhưng tại đây chúng xâm nhập vào các tế bào thành ruột. Vi khuẩn Salmonella xâm nhập vào tế bào ruột non, gây viêm ruột cục bộ dẫn đến triệu chứng nóng sốt, ớn lạnh và tiêu chảy. Các vi khuẩn như: Shigella, E.
coli sau khi xâm nhập vào các tế bào ruột non gây nên các ổ ung nhọt và các vết loét trong ruột dẫn đến hội chứng tả lỵ, trong phân có máu, nhớt và mủ. Một số chủng Shigella lại sinh ra độc tố thần kinh gây triệu chứng tê liệt và có thể dẫn đến tử vong. Ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn E.coli Ngộ độc thực phẩm do E. coli là hội chứng nhiễm trùng, nhiễm độc, biểu hiện bằng viêm dạ dày, ruột cấp tính, gây ra do các serotype khác nhau của vi khuẩn E.
coli, thường gây thành những vụ dịch vừa và nhỏ do lây nhiễm từ người hoặc từ động vật nhiễm khuẩn sang người. Ngộ độc thực phẩm do E. coli là một bệnh rất phổ biến trên toàn cầu. Tuy nhiên điều kiện gây ra NĐTP do các serotype E.
coli lại phụ thuộc nhiều vào mức độ đời sống kinh tế, xã hội, tập quán sinh hoạt, thói quen ăn uống của con người, do đó hiện nay tỷ lệ mắc bệnh do E. coli cao ở các nước chậm hoặc đang phát triển, nơi đời sống kinh tế, xã hội của dân cư còn thấp kém chiếm tỷ lệ cao (Cox L. coli thuộc họ vi khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae, có nhiều trong tự nhiên, trong đường ruột của người và gia súc. Trong đường ruột, chúng hiện diện nhiều ở đại tràng nên còn gọi là vi khuẩn đại tràng.
coli nhiễm vào đất, nước… từ phân của động vật. Chúng gây bệnh khi gặp điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển. coli trong thịt gia cầm là nhóm vi khuẩn đóng vai trò quan trọng nhất gây ngộ độc thực phẩm làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn Salmonella Vi khuẩn Salmonella được xếp vào họ vi khuẩn sống trong đường ruột, thường ở trong đường tiêu hóa của gia súc và gia cầm.
Vi khuẩn sẽ xâm nhiễm vào thân thịt khi giết mổ, Salmonella cũng có mặt trong phân và dễ dàng xâm nhiễm vào trứng của gia cầm thông qua các lỗ khí nhỏ li ti trên bề mặt vỏ trứng. Salmonella cũng đóng vai trò quan trọng trong các vụ ngộ độc thực phẩm có nguồn gốc động vật. Các loại thức ăn giầu dinh dưỡng gồm thịt, sữa, trứng. dễ bị Salmonella xâm nhiễm trong quá trình chế biến và bảo quản không đảm bảo vệ sinh.
Theo thống kê của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm cho thấy các ca ngộ độc do Salmonella nhiễm vào thức ăn xảy ra lẻ tẻ quanh năm và phát triển mạnh từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm vì đây là thời kỳ nóng bức thuận tiện cho việc vi khuẩn sinh trưởng phát triển. Tại các thành phố, khu đông dân cư môi trường bị ô nhiễm ruồi, nhặng, gián phát triển mạnh. đây chính là điều kiện thuận lợi cho quá trình ô nhiễm thịt, làm gia tăng các ca ngộ độc thực phẩm xảy ra ở người. Thời kỳ ủ bệnh thường từ 12-24 giờ, có khi ngắn hơn hoặc kéo dài sau vài ngày.
Các dấu hiệu đầu tiên là bệnh nhân thấy buồn nôn, nhức đầu choáng váng khó chịu, thân nhiệt tăng lên ít (37-380C) sau đó xuất hiện nôn mửa, ỉa chảy nhiều lần, phân toàn nước, đôi khi có máu, đó là triệu chứng của viêm dạ dày ruột cấp tính. Ða số bệnh nhân trở lại bình thường sau 1 đến 2 ngày không để lại di chứng. Tình hình ngộ độc trong nước và trên thế giới * Tình hình ngộ độc thực phẩm trên thế giới Trên thế giới, nền kinh tế của các nước ngày càng phát triển, vấn đề sức khỏe cảu con người ngày càng được quan tâm. Ngộ độc thực phẩm đang là mối đe dọa đối với người tiêu dùng trên toàn thế giới.
Ở các nước phát triển có tới 10% dân số bị ngộ độc thực phẩm và mắc bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm mỗi năm; với các nước kém phát triển tỷ lệ này cao hơn nhiều. Ngộ độc thực phẩm ở Mỹ chiếm 5% dân số/năm (>10 triệu người trên năm), ở Úc là 4,2 triệu ca/năm. n 7 Theo Tô Liên Thu, (2005) [35], năm 2003 tại Bỉ có tới 12.849 trường hợp ngộ độc do vi khuẩn Salmonella và 6.566 trường hợp nhiễm khuẩn Campylobacter và một số vi khuẩn khác mà nguyên nhân chủ yếu là do chế biến thực phẩm chưa kỹ trong đó thịt nhiễm bẩn chiếm tới 20%. Tại Anh, trong 2.000 ca bị ngộ độc thực phẩm riêng lẻ do vi khuẩn thì Campylobacter jejuni chiếm 77,3%; Salmonella 20,9%; E.
Coli O157:H7 1,4%; các vi khuẩn còn lại gây ra ít hơn 0,1%. Nói chung, triệu chứng ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn thường chỉ xuất hiện sau 12 - 72 giờ hoặc hơn nữa sau khi ăn thức ăn bị nhiễm khuẩn. Thịt tươi và các dạng hư hỏng của thịt tươi 1. Thịt tươi Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7046 : 2009[30]: Thịt tươi là thịt của gia súc, gia cầm, chim và thú nuôi khỏe mạnh sau khi giết mổ ở dạng nguyên con, mảnh, miếng hoặc xay và được bảo quản ở nhiệt độ thường hoặc nhiệt độ từ 00C - 40C, được cơ quan kiểm tra thú y có thẩm quyền cho phép sử dụng làm thực phẩm.
Thành phần hóa học của thịt rất khác nhau, phụ thuộc vào các yếu tố giống, loài, lứa tuổi, độ béo gầy và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng. Nhưng nhìn chung thành phần hóa học của thịt bao gồm: + Nước 50-75% + Protein 14-21% + Lipit 3,5-21,5% + pH của thịt tươi tối đa 6-6,5% Ngoài các thành phần trên thịt còn có thành phần khoáng, vitamin, các loại men và các chất dinh dưỡng khác cần thiết cho con người. Đánh giá cảm quan của thịt tươi và thịt kém tươi, thịt ôi. Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1976) [23] và trung tâm kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương I- Cục Thú y (1998) [44] cho biết.2: Đánh giá kết quả cảm quan thịt (Nguyễn Vĩnh Phước (1976) [23], trung tâm kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương I- Cục Thú y (1998) [44]) Chỉ tiêu Thịt tươi Thịt kém tươi, thịt ôi 1.
Trạng thái Hơi khô, màu hơi nhạt Khô, có khi ướt nhớt, màu sẫm bên ngoài 2.Vết cắt Hơi ướt, màu hồng Ướt nhớt, màu thẫm Rắn chắc, đàn hồi cao, ấn Hơi nhão, nhão, ấn ngón tay vào 3.Độ ngón tay vào thịt tạo vết lõm, để lại vết nhẹ (thịt kém tươi), vết đàn hồi nhấc tay ra không để lại vết hằn sâu không mất (thịt ôi) Màu sáng, độ rắn và mùi vị 4. Mỡ tự nhiên của thịt tươi, không Màu tối, độ rắn giảm, có vị ôi có mùi lạ Gân trong, bám chặt vào 5. Gân Kém trong, độ đàn hồi kém thành ống xương Tủy trong, bám chặt vào 6. Tủy Đục, co lại, không đầy ống xương thành ống xương Trong, mùi vị thơm ngon, Đục, mùi vị ôi, trên bề mặt 7.
Nướcluộc trên mặt có những giọt mỡ to có giọt mỡ nhỏ Cũng theo TCVN 7046:2002 [30] thịt tươi được đánh giá bằng các phản ứng sinh hóa học dựa theo các tiêu chuẩn sau: Bảng 1.3: Tiêu chuẩn đánh giá thịt tươi bằng các phản ứng sinh hóa học (TCVN 7046:2002 [30]) Tên chỉ tiêu Yêu cầu 1. Phản ứng định tính dihydro sulphua (H2S) âm tính 3. Hàm lượng amoniac, mg/100 g, không lớn hơn 35 4. Độ trong của nước luộc thịt khi phản ứng với đồng cho phép hơi đục sunfat (CuSO4) Đánh giá thịt bằng các phản ứng sinh hóa, Nguyễn Vĩnh Phước (1976) [23] và trung tâm kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương I- Cục Thú y (1998) [44] cho biết.