CHƯƠNG 1. Bối cảnh nghiên cứu 1. Sản xuất lúa tại Việt Nam và Đồng Bằng Sông Cửu Long Lúa là cây trồng đóng vai trò chủ đạo trong nông nghiệp tại Việt Nam. Diện tích canh tác lúa luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng diện tích cây trồng hàng năm.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê (TCTK) năm 2018, từ năm 2013 đến năm 2018, diện tích trồng lúa luôn chiếm trên 65% tổng diện tích cây trồng hàng năm. Sản lượng lúa của Việt Nam hằng năm đều tăng, tuy nhiên mức tăng không cao. Năm 2012, sản lượng lúa là 43,74 triệu tấn, đến năm 2018 đạt gần 44 triệu tấn (TCTK, 2018). Năm 2017, sản lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam là 5,887 triệu tấn, tổng giá trị xuất khẩu đạt 2,661 tỷ USD, tăng 22,4% so với năm 2016 (Bộ NN&PTNT, 2017a), là nước có sản lượng xuất khẩu gạo đứng thứ ba thế giới, sau Thái Lan và Ấn Độ.
ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất Việt Nam với 54% đến 55% tổng diện tích trồng lúa và 56 đến 57% tổng sản lượng lúa của cả nước giai đoạn 2014-2019 (TCTK, 2020). Diện tích và sản lượng lúa của ĐBSCL có cùng xu hướng diễn biến của cả nước. Mặc dù diện tích và sản lượng lúa của ĐBSCL giảm bình quân hàng năm lần lượt là 0,86% và 0,77% giai đoạn 2014-2019; tuy nhiên, năng suất lúa tăng bình quân hằng năm 0,09% trong cùng giai đoạn (TCTK, 2020). Năm 2019, diện tích gieo trồng của ĐBSCL là 4.070 ngàn ha với sản lượng 24,28 triệu tấn.
Bên cạnh đó, ĐBSCL cũng là vùng có sản lượng xuất khẩu gạo lớn nhất cả nước. Năm 2017, xuất khẩu gạo của khu vực ĐBSCL đạt 5,5 triệu tấn, đạt kim ngạch 2,49 tỷ USD, chiếm hơn 93% trong tổng kim ngạch xuất gạo cả nước (TCTK, 2018). Các lý do trên khẳng định vị trí và tầm quan trọng của ĐBSCL trong nền kinh tế nông nghiệp của Việt Nam. Do đó, nghiên cứu về việc canh tác cây lúa tại ĐBSCL không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn.2 thể hiện sự biến động về diện tích trồng lúa cả năm và sản lượng lúa cả năm của các vùng.00 Đồng bằng sông Hồng 3,500.00 Trung du và miền núi phía Bắc 3,000.00 Bắc Trung Bộ và Duyên hải 2,500.00 Đông Nam Bộ 1,000.00 Đồng bằng sông Cửu Long 500.1 Diện tích lúa cả năm phân chia theo vùng Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2018 30,000.00 Đồng bằng sông Hồng Trung du và miền núi phía Bắc 15,000.00 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung Tây Nguyên 10,000.00 Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long 5,000.2 Sản lượng lúa cả năm phân theo vùng Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2018 3 1.
Thực trạng sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật tại Việt Nam và Đồng Bằng Sông Cửu Long 1. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam Tại Việt Nam, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được sử dụng từ những năm 40 của thế kỷ 20 nhằm bảo vệ cây trồng. Từ năm 2013 đến năm 2015, mỗi năm Việt Nam nhập và sử dụng từ 70.000 tấn, tăng gấp hơn 10 lần so với giai đoạn trước năm 19851 (Tổng cục Môi trường, 2015). Các loại thuốc BVTV mà Việt Nam đang sử dụng có độ độc cao, nhiều loại thuốc đã lạc hậu (Tổng cục Môi trường, 2015).
Các loại thuốc BVTV được sử dụng tại Việt Nam bao gồm nhóm độc I (11,8-22%), nhóm độc II (40-58,8%), nhóm độc III (11-30%), và nhóm độc IV (10-17%) (Nguyên Khôi, 2016). Hầu hết thuốc BVTV sử dụng ở Việt Nam đều nhập khẩu từ nước ngoài, từ các nước: Trung Quốc (số lượng lớn nhất), Đức, Singapore, Ấn Độ, Thái Lan và một số quốc gia khác. Tình hình nhập khẩu các loại thuốc BVTV được thể hiện qua Bảng 1.1 Nhập khẩu thuốc BVTV và nguyên liệu tại Việt Nam Chỉ tiêu 2013 2014 2015 2016 2017 2018 Thuốc BVTV và nguyên liệu 748 768 786,3 776,2 1021,3 939,0 (Triệu USD) % so với năm trước - 102,7 102,4 98,7 131,6 91,9 Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2018 Số liệu Bảng 1 .1 cho thấy, từ năm 2015 đến năm 2016, lượng thuốc BVTV nhập khẩu giảm dần, đến năm 2017 tăng mạnh. Mặc dù đến năm 2018, lượng thuốc BVTV có giảm xuống nhưng mức giảm không đáng kể, vẫn cao hơn so với năm 2016.
Như vậy, việc sử dụng thuốc BVTV của Việt Nam có xu hướng tăng. Việc sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam vẫn còn lạm dụng thuốc BVTV rất nhiều. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 1 Trước 1985, lượng hóa chất BVTV sử dụng hàng năm khoảng 6.000 tấn 4 thuốc BVTV của Việt Nam chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc. Trong tháng 11/2017, giá trị thuốc BVTV và nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc là 461,443 ngàn USD, chiếm 52,6% trong tổng lượng thuốc nhập khẩu tháng 11 và tăng 48,9% so với cùng kỳ năm 2016 (Bộ NN&PTNT, 2017).
Thông tư 03/2018/TT-BNNPTNT quy định danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng trong nông nghiệp tại Việt Nam gồm 1. Tuy nhiên, các nghiên cứu tại Việt Nam về việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho thấy, việc sử dụng thuốc BVTV tại Việt Nam chưa đúng phương pháp, chưa có sự quản lý chặt chẽ của chính quyền địa phương (Trần Thị Ngọc Lan và cộng sự, 2014; Trần Thị Ngọc Lan, 2016; Phan Văn Toàn, 2013). Có tới 80% thuốc BVTV đang được sử dụng không đúng cách, không cần thiết và rất lãng phí (Nguyên Khôi, 2016). Do đó, cần thiết phải hiểu được nhận thức cũng như hành vi của các nông dân trong việc sử dụng thuốc BVTV.
Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp thích hợp để giảm thiểu tình trạng lạm dụng thuốc BVTV, dùng sai cách, quá liều như thực trạng nêu trên. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại Đồng Bằng Sông Cửu Long Tại ĐBSCL, thuốc BVTV được các nông dân sử dụng phổ biến. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc BVTV tồn tại nhiều vấn đề bất cập. Nông dân ít sử dụng các thiết bị bảo hộ khi phun thuốc, chủ yếu đeo khẩu trang và đội nón.
Các biện pháp bảo hộ khác khi tiếp xúc với thuốc BVTV cũng ít được sử dụng (Phan Văn Toàn, 2013). Mặc dù nông dân nhận thức được tác hại của thuốc BVTV, nhưng họ vẫn không mặc quần áo bảo hộ theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO). Lý do xuất phát từ việc họ cảm thấy không thoải mái khi mặc đồ bảo hộ trong điều kiện khí hậu tại địa phương (Huỳnh Việt Khải, 2014). Về tính độc của thuốc BVTV được sử dụng, nông dân ĐBSCL thường sử dụng các loại thuốc có độ độc loại II và III (theo phân loại của WHO).
Thuốc BVTV không được sử dụng hợp lý về tần suất, thời gian, liều lượng và không đảm bảo an toàn trong việc bảo quản. Ngoài ra, việc chất thải rắn và lỏng từ quá 5 trình sử dụng thuốc thường không được quản lý, xử lý đúng cách ở đồng ruộng và ở nơi cất giữ. Điều này không chỉ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người phun thuốc, mà còn ảnh hưởng đến môi trường sống và các loại động thực vật có lợi khác (Phan Văn Toàn, 2013). Hàng năm ở ĐBSCL, nông dân sử dụng hàng ngàn tấn thuốc BVTV.
Trung bình, nông dân phun thuốc từ 5 đến 8 lần/vụ. Với lượng thuốc đó, lượng bao bì, vỏ thuốc tương ứng khoảng 4 đến 5kg/1ha. Tình trạng vứt bừa bãi các chai lọ đựng thuốc BVTV đã sử dụng xuống kênh rạch, bờ sông, bờ ruộng, tạo nên tình trạng ô nhiễm môi trường (Quốc Trung, 2018). Sử dụng thuốc BVTV quá mức cần thiết cũng là một vấn đề.
Theo thống kê, mỗi năm tại ĐBSCL có khoảng 210 tấn thuốc diệt cỏ, 1.224 tấn thuốc trừ sâu, 4.245 tấn hoạt chất thuốc diệt nấm bị lãng phí hoặc sử dụng không hợp lí trong sản xuất lúa (W orld Bank, 2017 trích trong Dương Đình Tường, 2018). Tình hình thực hiện IPM tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Quản lý dịch hại tổng hợp (Integrated Pest Management – IPM) là biện pháp cân nhắc một cách cẩn thận tất cả các kỹ thuật phòng trừ dịch hại sẵn có, phối hợp các biện pháp phù hợp để giảm mật độ dịch hại, chỉ sử dụng thuốc BVTV khi quần thể dịch hại tới ngưỡng kinh tế nhằm giảm thiểu nguy cơ đến sức khỏe của người, động vật và môi trường (Cục bảo vệ thực vật, 2016). Tại khu vực ĐBSCL, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đầu tư 3,04 triệu USD (tương đương 62,907 tỷ đồng) từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB) để thực hiện Chương trình IPM trên cây lúa tại 7 tỉnh trọng điểm sản xuất nông nghiệp ĐBSCL: An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Thời gian thực hiện từ cuối thập niên 1990 đến những năm 2000 (Minh Trí, 2013).
Mặc dù chương trình IPM được áp dụng từ lâu song chưa phát huy hết hiệu quả. Trên thực tế, thuốc BVTV vẫn được sử dụng rất nhiều (Cục BVTV, 2016). Một cuộc khảo sát nông dân và cửa hàng thuốc BVTV được thực hiện tại 6 5 huyện trồng lúa thuộc tỉnh Đồng Tháp cho thấy, chỉ một phần nhỏ nông dân áp dụng IPM (84% báo cáo họ không áp dụng), mặc dù đã qua các lớp IPM từ những năm 1990, hầu hết nông dân phun thuốc khi không cần thiết. Nông dân thường phun từ 7-10 lần/vụ, thường phun ngừa bệnh, hoặc khi phát hiện sâu hại.
Bên cạnh đó cách phun của hộ nông dân hiện nay không an toàn và không hiệu quả, lượng thuốc phun vẫn cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế (Cục BVTV, 2016). Khảo sát của Phan Văn Toàn (2013) đối với các hộ nông dân ở ĐBSCL cho thấy tỷ lệ hộ nông nghiệp áp dụng IPM rất thấp khoảng 15%. Điều này cho thấy việc áp dụng IPM chưa được người nông dân chú trọng. Người nông dân ít áp dụng IPM do một số nguyên nhân: họ không được tham gia các lớp IPM chính thức, rủi ro khi áp dụng kỹ thuật IPM lên thửa ruộng của mình khi không có sự áp dụng IPM ở các thửa ruộng xung quanh, sự phụ thuộc vào hóa chất do những tác động từ người bán thuốc (Phan Văn Toàn, 2013).
Bên cạnh đó, các chương trình IPM trước đây không quan tâm nhiều đến nhận thức, hiểu biết của các hộ nông dân, nên mức độ hiểu biết về thuốc BVTV của các hộ nông dân vẫn còn thấp. Đây cũng có thể là nguyên nhân người nông dân không thực hiện IPM, vẫn sử dụng thuốc BVTV một cách không an toàn và không hiệu quả. Qua phân tích thực trạng về sử dụng thuốc BVTV và tình hình áp dụng IPM tại ĐBSCL cho thấy nông dân vẫn sử dụng thuốc BVTV quá nhiều, lãng phí không an toàn và không hiệu quả, không chú trọng thực hiện IPM.