CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan nghiên cứu Trên thế giới, bảo hiểm nông nghiệp nói chung và bảo hiểm cây trồng trong đó có bảo hiểm cây lúa được triển khai từ khá sớm và vì vậy, đã có một số công trình nghiên cứu, cụ thể như sau: 1. Các công trình nghiên cứu về bảo hiểm nông nghiệp như một công cụ quản lý rủi ro hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp a. Trên thế giới Trên thế giới, có nhiều cá nhân và tổ chức đã nghiên cứu các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp cũng như bảo hiểm nông nghiệp.
Đặc biệt, khu vực Châu Á và Thái Bình Dương là một trong những nơi có nguy cơ thiên tai cao nhất trong khu vực và trên thế giới, bao gồm: bão, lũ lụt, sạt lở đất, hạn hán, động đất, phun trào núi lửa và sóng thần (Rosa S. Olivier Mahul (2005) khi nghiên cứu về bảo hiểm cây trồng ở các nước đang phát triển đã chỉ ra các rủi ro mà sản xuất nông nghiệp có thể gặp phải, và khẳng định rõ vai trò của bảo hiểm “là nhằm bù đắp các tổn thất do thời tiết bất lợi và các sự kiện tương tự ngoài sự kiểm soát của người trồng”. Trong nghiên cứu này đã chỉ ra Bảo hiểm không có vai trò trực tiếp làm tăng thu nhập cho người nông dân, tuy nhiên nó lại là biện pháp quản trị rủi ro có vai trò tích cực trong việc ổn định tài chính và quyết định đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hàng hóa của người nông dân ở các nước đang phát triển. Olivier Mahul và Charles J.
Stutley (2010), Olivier Mahul (2012) khẳng định bảo hiểm nông nghiệp là “công cụ hiệu quả của Chính phủ” nhằm mục đích quản lý rủi ro trong nông nghiệp, có vai trò tích cực đối với tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Trong các ấn phẩm của Ủy ban Châu Âu (2001) và Tổ chức OECD (2011) đều coi bảo hiểm nông nghiệp là một công cụ quản trị rủi ro, giảm thiểu thiệt hại rất hiệu quả, đồng thời, các tài liệu này cũng đã giới thiệu những nội dung cơ bản về bảo hiểm nông nghiệp như một công cụ phòng chống các rủi ro: hạn hán, lũ lụt, bão, giông lốc. Myong Goo KANG (2007) khẳng định “Triển khai chương trình bảo hiểm nông nghiệp là sự cần thiết cho người nông dân” đồng thời đánh giá những hạn chế của bảo hiểm truyền thống không thõa mãn được 2 yêu cầu cơ bản đó là Các rủi ro xảy ra độc lập, khách quan giữa các hộ nông dân và Công ty bảo hiểm cũng như người 7 được bảo hiểm có thông tin gần như đối xứng về sự phân bố xác suất của rủi ro tiềm ẩn. Sự không thõa mãn này là do rủi ro trong nông nghiệp do thiên tai, sâu bệnh hoặc dịch bệnh ảnh hưởng đến trang trại trên diện rộng là có hệ thống và không độc lập.
Những rủi ro chung này được gọi là rủi ro tương quan. Mặt khác, Sự bất đối xứng trong thông tin do hộ nông dân luôn biết về năng suất cây trồng tiềm năng của họ một cách rõ ràng hơn bất kỳ công ty bảo hiểm nào. Bất đối xứng thông tin dẫn đến 2 nguy cơ: lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức. Điều này thể hiện những thách thức lớn đối với việc thiết kế và thực hiện các hệ thống bảo hiểm nông nghiệp.
Loại hình bảo hiểm chỉ số có thể đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý rủi ro khí hậu và tự nhiên ở các cấp độ tổng hợp khác nhau, để người nông dân có thể sản xuất và có thu nhập ổn định (FAO, 2011). Vì thế, việc triển khai bảo hiểm nông nghiệp theo phương thức mới là cần thiết, như: bảo hiểm thu nhập cho người nông dân, bảo hiểm toàn bộ trang trại, bảo hiểm giá vật nuôi, bảo hiểm theo chỉ số, bảo hiểm cho cả khu vực… Đây là các gợi ý quan trọng trong việc lựa chọn phương thức bảo hiểm phù hợp. Tuy nhiên, một trong những hạn chế sự tham gia bảo hiểm nông nghiệp của hộ nông dân khu vực châu Á và Thái Bình Dương đó là đa số hộ nông dân đang trông chờ vào các khoản hỗ trợ, cứu trợ khẩn cấp và các chương trình ứng phó sau thảm hoạ dưới dạng tiền mặt, gia cầm thay thế và gia súc nhỏ, hạt giống và phân bón miễn phí để khôi phục lại sản xuất. Vì thế, làm cho nhu cầu bảo hiểm nông nghiệp bị thu hẹp lại, dẫn đến “không một quốc gia nào ở Thái Bình Dương có thị trường bảo hiểm nông nghiệp chính thức” (Rosa S.
Mặt khác, việc kết hợp bảo hiểm cây trồng với nguồn cung cấp tín dụng và cung cấp đầu vào đã cho thấy một tình huống có lợi cho nông dân do các tổ chức tín dụng và do các công ty bảo hiểm. Người nông dân tiếp cận với tín dụng mùa màng, các tổ chức cho vay sẵn sàng hơn khi cho các hộ nông dân vay vốn nhỏ vì khoản vay của họ được bảo hiểm bằng bảo hiểm mùa màng (Olivier Mahul, 2012) và lợi ích của người bảo hiểm từ: (a) giảm thiểu chống bán phá giá, kiểm tra; (b) giảm chi phí tiếp thị bảo hiểm cây trồng; và (c) việc thu nhận và lây lan rủi ro bảo hiểm tốt hơn nhiều so với thông thường dẫn đến tình trạng tham gia bảo hiểm là chưa thực sự tự nguyện. Như vậy, có khá nhiều công trình nghiên cứu về BHNN, các công trình này đều khẳng định người nông dân có thể phải đối mặt với nhiều rủi ro trong sản xuất nông nghiệp. Trong các biện pháp quản trị rủi ro cho người nông dân, bảo hiểm nông nghiệp là 8 biện pháp mang tính chủ động và hiệu quả nhất (Laura Girdžiūtė, Astrida Slavickienė 2012).
Ở Việt Nam Ở Việt Nam, một số tác giả cũng đã nghiên cứu về rủi ro trong nông nghiệp và bảo hiểm nông nghiệp. Luyện Minh Đức (2012), phân tích chỉ ra bảo hiểm nông nghiệp là lá chắn hiệu quả cho hộ nông dân trước các rủi ro trong quá trình sản xuất nông nghiệp. GlobalAgRisk Inc (2006 và 2009) đã trực tiếp tìm hiểu và nghiên cứu BHNN ở Việt Nam, tuy nhiên, nghiên cứu này chủ yếu tập trung về lĩnh vực BHNN nói chung. Đặc biệt, nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 1982 - 1983, chỉ ra các nhân tố: lịch sử tổn thất trong mùa trước, sự tiếp cận thông tin về bảo hiểm, quy mô sản suất tác động đến sự tham gia bảo hiểm nông nghiệp.
Skees, Jason Hartell và Anne Goes (2007) khi nghiên cứu tài chính vi mô cho người nghèo ở Peru và Việt Nam có đưa ra nhân tố khả năng tiếp cận tài chính, áp dụng phương pháp chỉ số. GlobalAgRisk (2009) cho rằng sự hỗ trợ của Chính phủ trong thu thập số liệu, tính toán chỉ số những nhân tố nào ảnh hưởng đến sự tham gia Bảo hiểm nông nghiệp. Phạm Thị Định (2010) và Nguyễn Đình Chính (2011) chỉ ra các nhân tố tình hình kinh tế chung, sự phát triển hoạt động tái bảo hiểm, Tiềm lực và chiến lược kinh doanh của DNBH, nhận thức và điều kiện tài chính của người nông dân cũng như nhân tố khung pháp lý và chính sách bảo hiểm nông nghiệp (Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT - Bộ NN & PTNT năm 2009) có ảnh hưởng đến sự tham gia bảo hiểm nông nghiệp. Hệ thống chính sách chưa hoàn thiện, sản phẩm bảo hiểm chưa cụ thể cho mỗi nhóm đối tượng tác động ngược chiều đến sự phát triển bảo hiểm nông nghiệp (Phạm Bảo Dương, 2011).
Sự hỗ trợ phí bảo hiểm từ Chính phủ, quy mô sản xuất, thông tin tuyên truyền là các nhân tố tác động tích cực đến sự tham gia của bảo hiểm nông nghiệp, còn chính sách cứu trợ hộ nông dân khi thiên tai dịch bệnh xẩy ra có tác động ngược lại (Nguyễn Bá Huân, 2014) Hoàng Triệu Huy, Phan Đình Khôi (2015) Triệu Đức Hạnh và Nguyễn Thị Mão (năm 2012) chỉ ra các nhân tố quy mô sản xuất, thu nhập của hộ gia đình, hình thức phổ biến tuyên truyền chính sách bảo hiểm nông nghiệp, và sự hỗ trợ của Chính phủ trong phí bảo hiểm là các nhân tố tác động thuận chiều đến khả năng tham gia của hộ gia đình. Bên cạnh đó, nhân tố nhận thức của người dân, học vấn của chủ hộ, thói quen 9 sản xuất (Nguyễn Thị Chính, Phan Anh Tuấn, 2013) ảnh hưởng đến nhu cầu của hộ nông dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp Đối với phương thức bảo hiểm, Nguyễn Tuấn Sơn (2008), Phạm Thị Định (2010) chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến BHNN bị thua lỗ, đó là chi phí quản lý cao, thường xẩy ra lựa chọn đối nghịch và trục lợi bảo hiểm. Các phương pháp tiếp cận truyền thống sẽ không thể đảm bảo được những yếu tố này, vì thế cần thiết áp dụng phương pháp mới đó là vận dụng chỉ số trong bảo hiểm nông nghiệp. Tác giả so sánh hai phương pháp truyền thống và chỉ số để làm nổi bật những ưu điểm của phương pháp chỉ số, từ đó, tác đề xuất cần phải triển khai bảo hiểm theo chỉ số ở Việt Nam.
Theo bài báo, để có thể triển khai bảo hiểm nông nghiệp thành công cần thõa mãn một số điều kiện: Số liệu thống kê đáng tin cậy, Chi phí quản lý không quá cao, rủi ro đạo đức được hạn chế, phí bảo hiểm thấp và dân trí cần được nâng cao. Tại Việt Nam, mặc dù bảo hiểm nông nghiệp liên quan đến vấn đề sản xuất nông nghiệp - ngành kinh tế quan trọng ở nước ta, nhưng trong những năm qua số lượng các công trình nghiên cứu về bảo hiểm nông nghiệp không nhiều. Theo NCS được biết, cho đến nay, ở Việt Nam, các nội dung liên quan đến bảo hiểm nông nghiệp chủ yếu được đề cập trong các giáo trình giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành bảo hiểm ở một số trường đại học như: Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Tài chính, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Còn lại, đa số, bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam chỉ mới được nghiên cứu ở một số bài báo, bài viết ngắn đề cập những nội dung chính sau: + Một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiểm nông nghiệp như: Sự cần thiết của bảo hiểm nông nghiệp, đối tượng và phạm vi bảo hiểm, phí bảo hiểm.
của phương pháp bảo hiểm truyền thống. + Giới thiệu về bảo hiểm theo chỉ số như một phương thức bảo hiểm mới có thể thay thế cho bảo hiểm truyền thống trong một số trường hợp. + Đánh giá những khó khăn trong việc triển khai bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua.