MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hoa là sản phẩm đặc biệt của cây trồng, nói đến hoa là nói đến vẻ đẹp của thiên nhiên được cây cỏ chắt lọc ban tặng cho con người. Trong cuộc sống của con người, hoa tượng trưng cho cái đẹp, là nguồn cảm giác ngọt ngào của cuộc sống. Chúng là một sản phẩm thiết yếu trong các dịp lễ tết, hội nghị… Vì vậy, hoa không chỉ đem lại cho con người sự thoải mái, thư giãn khi thưởng thức vẻ đẹp của chúng mà còn đem lại cho người trồng hoa giá trị kinh tế cao hơn hẳn so với những cây trồng khác.
Ở Việt Nam, nghề trồng hoa đã có từ lâu đời và có ý nghĩa lớn trong nền kinh tế của các vùng trồng hoa, do đó hình thành nhiều vùng trồng hoa quy mô lớn, nhiều kinh nghiệm như: Đà Lạt (Lâm Đồng), Mê Linh (Vĩnh Phúc), Tây Tựu, Vĩnh Tuy (Hà Nội), Đằng Hải (Hải Phòng), Sapa (Lào Cai)… Rất nhiều hộ gia đình trồng hoa có thu nhập từ 10 - 15 triệu đồng/ 1 sào Bắc Bộ/ năm (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[5]. Khí hậu nước ta thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển của nhiều loài hoa khác nhau và hoa lily cũng vậy. Hoa lily cắt cành là một loại hoa đẹp, hiện đang là một trong 6 loại hoa cắt phổ biến và có giá trị nhất (Hồng, Cúc, Phăng, Lay ơn, Đồng tiền, Lily). Tuy lily là loại hoa mới phát triển gần đây ở nước ta nhưng do có dáng đẹp, mùi thơm quý phái, màu sắc hấp dẫn, quanh năm có hoa nên lily là loại hoa được rất nhiều người ưa chuộng.
Mà hiện nay ở nước ta hoa lily mới được trồng ở một số tỉnh, thành phố có nghề trồng hoa phát triển như Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng,… với tỷ lệ nhỏ cả về diện tích và số lượng. Thái Nguyên có khí hậu mát mẻ, phù hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của hoa lily. Hơn nữa, trên địa bàn thành phố tập trung nhiều cơ quan, xí c 2 nghiệp, trường học và có hệ thống giao thông thuận lợi, dân cư đông đúc, đời sống không ngừng nâng cao. Do đó mà nhu cầu về hoa cũng ngày càng lớn.
Nhưng trong thực tế sản xuất và tiêu thụ hoa tại Thái Nguyên vẫn gặp phải những khó khăn như: Về màu sắc, chủng loại hoa còn đơn điệu, sản xuất hoa còn nhỏ lẻ, trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế, đầu tư ban đầu chưa cao, các phương pháp bảo quản hoa chưa được áp dụng rộng rãi… Hoa lily chủ yếu được trồng để đáp ứng thị trường hoa vào dịp tết Nguyên Đán còn các thời vụ khác thì không được trồng do vậy phải nhập hoa rất nhiều, nên chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, giá thành cao. Do vậy, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản xuất nhằm tìm ra giống thích hợp để nâng cao năng suất, chất lượng hoa lily, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống hoa lily vụ Đông Xuân năm 2016-2017 tại thành phố Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài Xác định được giống hoa lily phù hợp có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt và năng suất chất lượng cao tại thành phố Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài - Theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống hoa lily thí nghiệm trong điều kiện vụ Đông Xuân 2016-2017 tại thành phố Thái Nguyên.
- Đánh giá năng suất, chất lượng của các giống lily thí nghiệm trong điều kiện vụ Đông Xuân 2016-2017 tại thành phố Thái Nguyên. - Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống lily thí nghiệm. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở quan trọng để chọn được các giống hoa lily thích hợp bổ sung vào cơ cấu giống hoa lily trong sản xuất tại c 3 Thái Nguyên.
Giúp sinh viên rèn luyê ̣n kỹ năng bố trí thí nghiệm đồng ruộng và kỹ thuật chăm sóc cây trồng. Biế t phương pháp t hu thập, xử lí số liệu, trình bày báo cáo của một đề tài tốt nghiệp. Trên cở sở những kiến thức nắm được sẽ là hành trang phục vụ cho công việc của sinh viên sau khi ra trường. Ý nghĩa trong thực tế sản xuất Đáp ứng được yêu cầu thực tế sản xuất đó là tìm ra được giống hoa lily chất lượng cao, phù hợp với kỹ thuật trồng trọt, thu hoạch và điều kiện sinh thái của thành phố Thái Nguyên cũng như việc bảo quản hoa sau thu hoạch hợp lý để nâng cao giá trị hàng hóa của hoa lily.
c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu giống Cây hoa Lily mới được phát triển mạnh ở nước ta những năm gần đây, giống Lily đưa vào sản xuất chủ yếu là nhập nội từ Hà Lan, Trung Quốc hoặc Đài Loan, chúng chưa được nghiên cứu khảo nghiệm tại các vùng sinh thái một cách hệ thống trước khi trồng, nên dẫn đến một số giống có chất lượng hoa kém, mẫu mã xấu, nở hoa không đúng dịp.gây khó khăn cho người sản xuất, hiệu quả kinh tế thấp, có khi dẫn đến thất bại. Nghiên cứu giống sẽ giúp chúng ta nắm bắt được đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng phù hợp của chúng với điều kiện ngoại cảnh, từ đó có thể lựa chọn được những giống phù hợp với điều kiện của địa phương trước khi đưa vào sản xuất.
Nguồn gốc, phân loại hoa Lily * Nguồn gốc Trung Quốc là nước trồng hoa lily sớm nhất. Theo tài liệu cổ “Thần nông bản thảo” thì củ lily có tác dụng thanh phế, nhuận táo, tư âm, thanh nhiệt. Vì vậy, từ lâu củ lily ngoài tác dụng làm giống còn được dùng để ăn, làm thuốc chữa bệnh… Những nghiên cứu cho rằng việc trồng lily để lấy củ ăn, bắt đầu từ đời nhà Đường (Trung Quốc), nhưng trước đó cũng có những bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của lily. Vì vậy, chẳng những người ta thích ăn củ mà còn thích thưởng thức vẻ đẹp của hoa lily.
Các nhà thơ nổi tiếng đời Đường, đời Tống đều có thơ ca ngợi hoa lily. Đến giữa thế kỷ XIII, ít nhất có 3 loại Lily được ghi chép lại. Loại thứ nhất là lily hoa trắng, dùng làm thuốc chữa bệnh được gọi là loại Hoang Dược. Loại thứ hai là Quyển Đan (L.
Loại thứ ba là Sơn Đan (L. c 5 Cuối thế kỷ XVI, các nhà thực vật học Anh đã phát hiện và đặt tên cho các giống lily. Đầu thế kỷ XVII Lily được di thực từ Châu Âu đến Châu Mỹ. Sang thế kỷ 18 các giống lily của Trung Quốc được di thực sang Châu Âu do vẻ đẹp và mùi thơm hấp dẫn nên cây lily đã nhanh chóng phát triển và được coi là cây hoa quan trọng của Châu Âu, Châu Mỹ (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[5].
* Phân loại Lily (Limo Spp) là tên gọi chung cho tất cả các cây thuộc loài Lilium, họ Lilyaceae, bộ phụ của thực vật một lá mầm. Đặc trưng của loài này là thân ngầm dưới đất có rất nhiều vảy bao bọc lại nên người ta còn gọi đó là loại hoa bách hợp. Trên thế giới có trên 300 giống khác nhau, chủ yếu phân bố ở vùng ôn đới và hàn đới - Bắc bán cầu, một số ít ở vùng núi cao nhiệt đới. Trung Quốc là nước có nhiều chủng loại lily nhất và cũng là trung tâm, nguồn gốc lily trên thế giới.
Theo kết quả điều tra, ở Trung Quốc có khoảng 460 giống, 280 biến chủng (chiếm 1/2 tổng số giống hoa lily trên thế giới), trong đó có 136 giống, 52 biến chủng do Trung Quốc tạo ra. Nhật Bản có 145 giống, trong đó có 19 giống là đặc trưng của Nhật. Hàn Quốc có 110 giống, trong đó có 30 giống mang đặc trưng của nước này. Hà Lan có khoảng 320 giống, trong đó 80% là các giống do chính Hà Lan tạo ra…(Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[5].
Đặc điểm thực vật học Lily là cây thân thảo lâu năm. Phần dưới mặt đất gồm thân vảy, rễ. phần trên mặt đất gồm lá, thân, mầm hạt (một số không có mầm hạt). * Củ con và mầm hạt Đại bộ phận lily có nhiều củ con ở gần thân rễ, chu vi mỗi củ từ 0,5 - 3 cm, số lượng củ con tùy thuộc giống và điều kiện trồng trọt.
c 6 Một số giống như Quyển Đan và các giống tạp giao, ở nách lá có mầm hạt hình cầu hoặc hình trứng, khi chín có màu tím, tối, chu vi mầm hạt từ 0,5 - 1,5 cm. * Rễ Rễ lily gồm 2 phần: Rễ thân và rễ gốc. Rễ thân còn gọi là rễ trên, do phần thân mọc dưới đất sinh ra, có nhiệm vụ nâng đỡ thân, hút nước và dinh dưỡng, tuổi thọ của rễ này là một năm. Rễ gốc còn gọi là rễ dưới, sinh ra từ gốc thân vảy, có nhiều nhánh, sinh trưởng khỏe, là cơ quan chủ yếu hút nước và dinh dưỡng của lily, tuổi thọ của rễ này tới 2 năm.
* Thân vảy Thân vảy là phần phình to của thân tạo thành. Trên đĩa thân vảy có vài chục vảy hợp lại, vảy hình cầu dẹt, hình trứng dài, hình elip… Chất đất, kỹ thuật trồng và tuổi của thân vảy ảnh hưởng rất lớn đến hình thái thân. Thân vảy không có vỏ bao bọc. Màu sắc thân vảy thay đổi tùy theo loài và các giống khác nhau: màu trắng, màu vàng, màu đỏ cam, màu đỏ tím… Kích thước của thân vảy cũng tùy thuộc vào các loài, giống khác nhau.
Loại nhỏ chu vi 6cm, nặng 7 - 8 gam, loại to chu vi 24 -25 cm, nặng trên 350 gam. Mầm vảy to ở ngoài, nhỏ ở trong, là nơi dự trữ nước và dinh dưỡng của thân vảy, trong đó nước chiếm 70%, chất bột 23%, một lượng nhỏ Protein, chất khoáng, chất béo. * Lá Lá lily mọc rải rác thành vòng thưa, hình kim, xòe hoặc hình thuôn, hình giải, đầu lá hơi nhọn, không có cuống hoặc cuống ngắn. Lá to hay nhỏ tùy thuộc vào giống, điều kiện trồng trọt và thời gian xử lý.
Trên lá có từ 1 - 7 gân, gân giữa rõ ràng hơn, lá mềm có màu xanh bóng. * Hoa Hoa lily mọc đơn lẻ, hoặc xếp đặt trên trục hoa, bao hoa hình lá, nhỏ. Hoa chúc xuống, vươn ngang hoặc hướng lên. Hình dáng hoa là căn cứ chủ c 7 yếu để phân loại lily.