Đặt vấn đề Keo lai (Acacia hybrid Fabaceae) là tên gọi của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Đây là giống có nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa bố và mẹ, đồng thời có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng nhanh, có hiệu suất bột giấy, độ bền cơ học và độ trắng của giấy cao hơn hẳn các loài bố mẹ, có khả năng cố định đạm khí quyển trong đất nhờ các nốt sần ở hệ rễ. Là cây gỗ đa mục đích, cao 25 - 30 m, đường kính 60 - 80 cm. Thân thẳng, tròn đều, tán phát triển cân đối, vỏ ngoài màu xám, cành non vuông màu xanh lục.
Lá có 3 - 4 gân mặt chính, lá hình mác, có chiều dài và rộng nhỏ hơn lá keo tai tượng và lớn hơn lá keo lá tràm. Hoa lưỡng tính mọc cụm, màu trắng hơi vàng, mọc ở nách lá. Bên cạnh hàng loạt các đặc tính sinh vật học, sinh thái học của cây keo lai thì chúng còn có nhiều giá trị quan trọng như kinh tế - xã hội - môi trường. Keo lai là một trong nhiều loài cây được chọn để phát triển rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới để nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cung cấp gỗ củi, bột giấy,nguyên liệu sản xuất công nghiệp.
Keo lai còn được dùng để che bóng mát ở các đường phố, công viên, công sở, cơ quan. Đặc biệt đứng trước nạn phá rừng bừa bãi làm mất cân bằng sinh thái khiến chúng ta phải hứng chịu "Hiệu ứng nhà kính". Trái đất ngày càng nóng lên đe dọa sự sống của con người cũng như muôn loài trên trái đất.thì cây keo lai này đã sớm khắc phục được phần nào để lất lại sự cân bằng của sinh thái môi trường ấy. Mặc dù keo lai được sự hỗ trợ của các tổ chức Quốc tế và chính sách phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước ta cũng như sự quan tâm chú ý của 2 người dân tới cây keo lai khiến cho diện tích trồng cây keo lai không ngừng được tăng lên.
Song thật đáng tiếc rằng việc nghiên cứu về loài keo lai hầu hết mới dừng lại ở mức độ khảo nghiệm xuất xứ và chọn giống là chính. Còn về lĩnh vực phục vụ công tác điều tra kinh doanh có hiệu quả đối với loại cây này thì chưa được quan tâm đầy đủ, đúng mức (hay nói cách khác là đang bỏ ngỏ). Đặc biệt là trong xây dựng mô hình sản lượng chuyên dụng phục vụ công tác điều tra kinh doanh rừng. Một điều đáng nói là người trồng keo lai là để đáp ứng môi trường sinh thái mà chưa hiểu hết tầm giá trị của sản phẩm cây keo lai mang lại.
Để giúp những nhà sản xuất kinh doanh rừng keo lai trong công tác điều tra, đánh giá và nâng cao hiệu quả kinh doanh thì việc nghiên cứu nắm bắt những quy luật khách quan tồn tại trong phần ngoài thực tế và ứng dụng nó vào trong việc xây dựng mô hình dự đoán sản lượng.là rất quan trọng và cần thiết. Và riêng keo lai cho đến nay các kết quả nghiên cứu mới chỉ là thăm dò mà chưa có kết quả công bố về nghiên cứu sinh trưởng và xây dựng mô hình sản lượng. Nhằm góp phần giải quyết những tồn tại trên. Tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: "Điều tra sinh trưởng làm cơ sở xây dựng mô hình sản lượng rừng keo lai (Acacia hybrid Fabaceae) tại xã Nam Tuấn, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng".
Mục đích nghiên cứu Cung cấp thêm cơ sở khoa học trong công tác xây dựng mô hình sản lượng keo lai; Đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của cây keo lai để phục vụ cho phát triển kinh tế tại xã Nam Tuấn , huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được sinh trưởng của rừng trồng Keo lai tại xã Nam Tuấn, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. 3 - Phân tích được các quy luật kết cấu lâm phần Keo lai tại xã Nam Tuấn, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. - Lập được mô hình biểu diễn mối quan hệ giữa các chỉ tiêu sản lượng rừng, các chỉ tiêu tuổi rừng, điều kiện lập địa và mật độ lâm phần loài keo lai làm cơ sở xây dựng mô hình sản lượng đảm bảo yêu cầu với độ chính xác (hay sai số cho phép), xây dựng phương pháp điều tra và dự đoán trữ lượng gỗ lâm phần.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập - Giúp cho sinh viên củng cố lại những kiến thức lý thuyết đã được học, đồng thời làm quen với thực tế, tích lũy học hỏi kinh nghiệm. Thực hành thao tác được các phương pháp trong điều tra, nghiên cứu các loại cây rừng. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Để tài thực hiện nhằm đánh giá thực tế về điều tra kinh doanh rừng tại địa phương, từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhất giúp người dân và chính quyền địa phương có kế hoạch phát triển cây keo lai trong thời gian tới đạt hiệu quả năng suất cao.
4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Cơ sở khoa học 2. Phân loại khoa học Giới (regnum): Thực vật (Plantate); Bộ (ordo): Đậu (Fabales); Họ (familia): Đậu (Fabaceae); Phân họ (subfamilia): Trinh nữ (Mimosoideae; Chi (genus): Keo (Acacia; Loài (species): Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) 2.
Đặc điểm hình thái Keo lai là sự kết hợp giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Keo lai là cây gỗ nhỡ thường xanh cao tới 20- 30m, đường kính có thể đạt tới 60 - 80cm. Thân tròn thẳng, tán rộng phân cành thấp, vỏ màu xám nâu nứt dọc. Cây con dưới một tuổi lá kép lông chim hai lần, cây trưởng thành lá đơn hình trái xoan dài hoặc hình ngọn giáo, đầu tù men thao cuống, phiến lá dày nhẵn bông, có 3 - 5 gân dọc gắn song song chụm lại ở đuôi lá, các gân nhỏ song song xen giữa các gân chính.
Hoa tự bông dài mọc lẻ hay mọc tập trung ở nách lá hay ở đầu cành. Hoa đều lưỡng tính mẫu 4, tràng hoa màu vàng, nhị hoa thường vươn dài ra ngoài hoa. Quả đậu xoắn, hạt hình trái xoan, hơi dẹt, màu đen. Rễ cây mọc rộng có nhiều nốt sần cố định đạm (Lê Mộc Châu và Vũ Văn Dũng, 1999)[1] 2.
Đặc điểm sinh thái Keo lai là cây mọc nhanh ở vùng Đông Nam Bộ sau 5 năm tuổi Keo lai có khả năng sinh trưởng nhanh cả về đường kính và chiều cao, đường kính trung bình có thể đạt tới 12.8cm và chiều cao trung bình có thể đạt tới 16. Keo lai loài cây ưa sáng, sống được ở nơi nhiệt độ bình quân là 220C 5 tối thích là 24 - 280C và giới hạn là 400C, lượng mưa 1500 - 2500mm/năm. Đất đai chủ yếu trồng trên các loại đất Feralit tầng dày tối thiểu 75cm, đất phù sa cổ, đất xám bạc màu…Mùa ra hoa quả gần như quanh năm (Lê Mộc Châu và Vũ Văn Dũng, 1999)[1] 2. Phân bố địa lý Keo Lai đã xuất hiện trong các rừng Keo Tai tượng vào đầu những năm 1990 ở một số vùng nước ta, sau đó được gây trồng để lấy giống ở Ba Vì, Hà Tây.
Ở nước ta cây Keo lai được gây trồng rộng rãi trên toàn quốc những năm gần đây. Cây mọc hầu hết các dạng đất thích hợp nhất là từ Quảng Bình trở ra. Giá trị kinh tế Keo lai thuộc họ đậu nên có tác dụng cải tạo đất tốt, chống xói mòn. Gỗ thẳng màu trắng có vân, có lõi giác phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều mặt: Kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng, đóng đồ mỹ nghệ, hàng xuất khẩu.
Gỗ cho nhiệt lượng cao có thể sử dụng làm củi hoặc than chạy máy. Cây có hình dáng đẹp có thể trồng làm rừng phong cảnh. Ngoài ra lá có thể làm thức ăn gia súc như dê, hươu,… 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2.
Nghiên cứu mô hình sinh trưởng Mô hình sinh trưởng từ những biểu đồ đơn giản nhất cho đến những phần mềm máy tính phức tạp đã và đang là những công cụ quan trọng trong quản lý rừng (Vanclay, 1998)[21]; (Pote' and Bartelink, 2002)[18]. Sinh khối và hấp thụ các bon có thể được xác định bằng mô hình sinh trưởng. Trên thế giới đã có rất nhiều mô hình sinh trưởng đã được phát triển và không thể tìm hiểu được phương pháp cụ thể của mỗi mô hình. Vì vậy cần phải xác định được những điểm chung để phân loại mô hình (Vanclay, 1998)[21].
Rất nhiều tác giả đã cố gắng để phân loại mô hình theo các nhóm khác nhau với những 6 tiêu chuẩn khác nhau (Pote' and Bartelink, 2002)[18]. Có thể phân loại mô hình thành các dạng chính sau đây: 1. Mô hình thực nghiệm/thống kê (empirical model) dựa trên những đo đếm của sinh trưởng và các điều kiện tự nhiên của thời điểm đo đếm mà không xét đến các quá trình sinh lý học. Mô hình động thái (process model)/mô hình sinh lý học mô tả đầy đủ các cơ chế hóa sinh, lý sinh trong hệ sinh thái và sinh vật (Constable and Friend, 2000)[16].
Mô hình hỗn hợp (hybrid/mixed model), kết hợp phương pháp xây dựng hai loại mô hình trên đây để xây dựng mô hình hỗn hợp Mô hình thực nghiệm đòi hỏi ít tham số (biến số) và có thể dễ dàng mô phỏng sự đa dạng về quản lý cũng như xử lý lâm sinh, nó là công cụ định lượng sử dụng có hiệu quả và phù hợp trong quản lý và lập kế hoạch quản lý rừng (Landsberg and Gower, 1997[17]; Vanclay and Skovsgaard, 1997[22]; Vanclay, 1998)[21]. Phương pháp này có thể phù hợp để dự đoán sản lượng ngắn hạn trong khoảng thời gian mà các điều kiện tự nhiên cho sinh trưởng của rừng được thu thập số liệu tạo nên mô hình vẫn chưa thay đổi lớn. Mô hình thực nghiệm thường được thể hiện bằng các phương trình quan hệ hoặc phương trình sinh trưởng dựa trên số liệu sinh trưởng đo đếm thực nghiệm mà thông thường không xét đến ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố môi trường vì các ảnh hưởng này được coi như đã được tích hợp vào sinh trưởng của cây. Đối với mô hình thực nghiệm, các phương trình sinh trưởng và biểu sản lượng có thể phát triển thành một biểu sản lượng sinh khối hoặc cácbon tương ứng.
Tuy nhiên, mô hình sinh trưởng thực nghiệm không đầy đủ. Chúng không thể sử dụng để xác định hệ quả của những thay đổi của điều kiện môi trường đến hệ sinh thái và cây như sự tăng lên của nồng độ khí nhà kính, nhiệt độ, hoặc chế độ nước… (Landsberg and Gower, 1997)[17].