CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trên Thế giới và Việt Nam 1. Tiến bộ kỹ thuật trồng rừng nguyên liệu trên thế giới a.
Nghiên cứu về giống cây trồng rừng Giống là khâu quan trọng trong trồng rừng, là vấn đề quan trọng bậc nhất để nâng cao năng suất rừng trồng, nhiều nước trên thế giới đã đi trước Việt Nam nhiều năm về vấn đề cải thiện giống cây rừng và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Điển hình như nghiên cứu của Pandey D. (1983) ở Brazin đã chọn được giống Eucalyptus grandis đạt tới 55 m3/ha/năm sau 7 năm trồng, ở Swaziland cũng đã chọn được giống Pinus patula sau 15 năm tuổi đạt 19m3/ha/năm, giống Paraserianthes falcataria trồng ở Malaysia được 7-10 năm tuổi cũng đạt 30m3/ha/năm. Ở Công Gô, bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống bạch đàn lai (Eucalyptus hybrids) có năng suất đạt tới 35m3/ha/năm ở giai đoạn tuổi 7.
Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng trồng Bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật cung cấp cho đất thêm dinh dưỡng, đặc biệt đối với đất nghèo dinh dưỡng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, điển hình như công trình nghiên cứu của Mello (1976) ở Brazil cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công thức không bón phân, nhưng nếu bón NPK thì năng suất rừng trồng có thể tăng lên trên 50%. Đối với thông (P. Caribeae) ở Colombia, Bolstad và cộng sự (1988) cũng đã tìm thấy một vài loại phân có phản ứng tích cực mang lại hiệu quả rõ rệt cho rừng trồng như potassium, phosphate, boron và magnesium. Khi nghiên cứu bón phân cho rừng thông (P.
Caribeae) ở Cu Ba, Herrero và cộng sự (1988) cũng cho thấy bón phosphate đã nâng sản lượng rừng từ 56 lên 69m3/ha sau 13 năm trồng. Nghiên cứu về ảnh hưởng mật độ đến năng suất rừng trồng Mật độ trồng rừng ban đầu có rất nhiều công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình là công trình nghiên cứu của Evans, J. (1992), tác giả đã bố trí 4 công thức mật độ trồng khác nhau 5 (2985; 1680; 1075 và 750 cây/ha) cho bạch đàn E. deglupta ở Papua New Guinea, số liệu thu được sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ, có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy lượng tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng của rừng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng mật độ cao.
Như vậy, mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh, vì thế cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho thích hợp. Nghiên cứu về áp dụng tiến bộ kỹ thuật trồng rừng Keo Lai ở Việt Nam a. Tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng rừng Trong khoảng hơn 10 năm gần đây, công tác nghiên cứu cải thiện giống đã đạt được những thành tựu đáng kể, có nhiều giống đã được công nhận là giống Quốc gia và tiến bộ kỹ thuật như các giống Keo lai: BV5; BV10; BV16; BV32; BV33; TB03; TB05; TB06 và TB12 và các dòng bạch đàn E. urophylla U6, PN2; PN14; GU8 và W5.
Ngoài ra, còn một số giống đề nghị đưa vào để mở rộng sản xuất như các giống bạch đàn E. urophylla ở Phù Ninh, một số xuất xứ bạch đàn caman, Keo lá tràm, Thông caribê…. Bộ NN&PTNT (2001), trích dẫn “văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh”: thành tựu lớn nhất và được áp dụng rộng rãi trong trồng rừng sản xuất trước hết phải nói đến công tác chọn và cải thiện giống cây trồng lâm nghiệp. Đây là một lĩnh vực mũi nhọn được ưu tiên rất cao cho nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trong niều năm qua, mang lại những bước nhảy vọt góp phần nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng, đặc biệt đối với các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu giấy như Keo lai, Bạch đàn.
Các thành tựu và tiến bộ trong lĩnh vực giống cây lâm nghiệp đã được đúc kết thành hệ thống quy trình, quy phạm và tiêu chuẩn áp dụng có hiệu quả trong sản xuất. Các công trình nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Phù Ninh cũng đã chọn lọc được một số giống bạch đàn uro (E. urophylla), sau 4-5 năm trồng có thể đạt năng suất từ 20-25m3/ha/năm. 6 Lê Đình Khả và cộng sự (1997), đã chứng minh: Sau 4 năm tuổi giống Keo lai có thể tích thân cây là 70 - 80 dm3/cây trong khi những xuất xứ tốt nhất của Keo tai tượng cũng chỉ có thể tích đạt 30 - 40 dm3/cây, còn những xuất xứ tốt của Keo lá tràm chỉ đạt 17 - 27 dm3/cây.
Theo Lê Đình Khả và cộng sự (2003), công tác cải thiện giống đã có nhiều giống được công nhận là giống quốc gia như một số dòng Keo lai (BV10, BV16, BV32), Bạch đàn urophylla (PN2, PN14, U6); các dòng Bạch đàn urophylla và nhiều xuất xứ Bạch đàn camaldulensis, Keo lá tràm, Thông caribaea, Phi lao và hàng chục dòng Keo lai,. cũng đã được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật [20]. Lê Đình Khả và Hà Huy Thịnh (2005), đã có 67 giống cây rừng lâm nghiệp được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia, trong đó có các dòng Keo lai cao sản như: BV10, BV16, BV32, TB3, TB5, TB6, TB12, KL2; Các dòng Bạch đàn cao sản như: U6, PN2, PN10, PN14, PN46, PN47 và các dòng Phi lao có năng suất cao là 601 và 701 đã được gây trồng rộng rãi ở nhiều nơi trong cả nước. Tổng hợp nghiên cứu của Võ Đại Hải và cộng sự (2005), đã thống kê được một số nghiên cứu sử dụng ưu thế lai đã đạt được những thành tựu đáng kể, cụ thể: Đối với Bạch đàn: Các tổ hợp UC, UT, UM, SM, GM cho sinh trưởng bình quân tăng từ 20 ÷ 30%, đặc biệt có tổ hợp trồng nơi lập địa tốt cho sinh trưởng tăng 70 ÷ 80 % so với giống sản xuất hiện hành sau 5 năm khảo nghiệm; Đối với Keo: Các tổ hợp AM1, AM2, MA1, MA2 cho sinh trưởng tăng bình quân 30% so với giống sản xuất hiện hành.
Bộ NN & PTNT (2005) ban hành: danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất theo 9 vùng sinh thái lâm nghiệp. Trong đó hai loài cây Keo lai và Bạch đàn Urophylla đều có mặt ở hầu hết các vùng. Như vậy, lĩnh vực nghiên cứu cải thiện giống đã đạt được những thành tựu rất to lớn, đã tạo ra sự đột phá về năng suất trong trồng rừng, trữ lượng gỗ cây đứng tăng gấp từ 2 - 3 lần so với các giống trước đây. Tuy nhiên nhiều nơi, nhiều vườn ươm vẫn sử dụng giống kém chất lượng, giống chưa được công nhận, như Trần Văn Con và cộng sự (2005) đã đề cập: mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực cải thiện giống, nhìn chung giống sử dụng trong trồng rừng vẫn rất xô bồ, 7 kém chất lượng dẫn đến năng suất và chất lượng rừng còn thấp.
Chúng ta vẫn còn thiếu các vườn giống có chất lượng cao để cung cấp cho nhu cầu trồng rừng. Tiến bộ kỹ thuật về lĩnh vực nhân giống và tạo cây con Công nghệ nhân giống vô tính là một tiến bộ kỹ thuật mới đã được áp dụng mạnh mẽ trong thời gian vừa qua, đã góp phần quan trọng cho sự thành công của hoạt động cải thiện giống nói trên, có nhiều nghiên cứu trong công tác nhân giống và tạo cây con ở Việt Nam, nổi bật như: Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001), việc cung cấp giống tốt, năng suất cao, kháng sâu bệnh hại có ý nghĩa quyết định tới năng suất rừng trồng trong tương lai. Với cây hom năng suất cao như hiện nay, chi phí này cũng không phải quá cao, vào khoảng 10%. Các giải pháp bao gồm quy trình công nghệ sản xuất cây hom cao sản bắt đầu từ khâu chọn giống, khảo nghiệm dòng, nhân giống hom và quản lý rừng trồng dòng vô tính.
Theo Trần Văn Con (2006), bên cạnh những thành tựu trong lĩnh vực chọn và cải thiện chất lượng giống, kỹ thuật tạo cây con cũng đạt được những thành tựu vượt bậc. Đặc biệt công nghệ sản xuất cây con bằng kỹ thuật cao như giâm hom, nuôi cấy mô cũng được phát triển nhanh chóng, nhất là đối với các loài cây mọc nhanh như Keo lai, Bạch đàn urophylla, pelissta, Bạch đàn lai. không kể các vườn ươm công nghệ cao quy mô nhỏ, đã có khoảng 10 vườn ươm nhân giống bằng công nghệ cao (hom, mô) có công suất hàng triệu cây giống/năm rải rác trên các vùng Bắc Trung Nam để trồng rừng sản xuất tập trung đối với một số loài cây chủ lực. Lê Đình Khả và cộng sự (2003), ngày nay ở nước ta cũng đã có khoảng 10.000 ha Keo lai và hàng ngàn hecta các giống Bạch đàn U6, Phi lao 601, 701 được trồng bằng cây hom.
Theo nhận định của Bộ NN & PTNT (2006), thì giai đoạn 2010 - 2020, đưa tỷ lệ giống được cải thiện lên hơn 50%, tập trung thích đáng cho chọn tạo giống một số loài cây bản địa và cây lâm sản ngoài gỗ, áp dụng rộng rãi công nghệ sinh học vào chọn tạo giống và các phương pháp hiện đại trong nhân giống và bảo quản hạt giống. Cuối giai đoạn đạt năng suất rừng trồng bình quân 30m3/ha/năm đối với gỗ nhỏ và 15m3/ha/năm đối với gỗ lớn. Như vậy, công tác giống cây rừng hiện nay ở Việt Nam đang ngày càng đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong công tác giống như chọn giống, lai giống, 8 vừa nhân giống vừa khảo nghiệm giống và cung cấp giống. Ngoài ra cần tận dựng tối đa giống từ các rừng giống đã được Bộ NN & PTNT công nhận để nhân giống đóng góp vào công tác giống cho trồng rừng, nhằm mục tiêu phủ xanh đất trống đồi trọc, tăng năng suất chất lượng và sản lượng rừng đáp ứng nhu cầu về gỗ ngày càng tăng lên trong nước và xuất khẩu.