Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang tác động sâu sắc đến hệ sinh thái và kinh tế - xã hội Việt Nam, nơi nhiệt độ trung bình đã tăng khoảng 0,62°C trong giai đoạn 1958–2014 và nguy cơ mất tới 40.000 km² diện tích đất khi mực nước biển dâng 100 cm. Trước thách thức này, lâm nghiệp được kỳ vọng là ngành duy nhất có khả năng trung hòa phát thải với năng lực hấp thụ dự kiến đạt khoảng 32,10 triệu tấn CO2 vào năm 2030. Trong hệ sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười, rừng Tràm (Melaleuca cajuputi Powell) giữ vai trò trọng yếu trong việc phòng hộ, lưu trữ vật chất hữu cơ và bảo tồn đa dạng sinh học.

Tuy nhiên, nguồn dữ liệu định lượng về sinh khối và tiềm năng cô lập carbon của rừng Tràm tại Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen (khu Ramsar thứ 2.227 của thế giới) vẫn còn thiếu hụt nghiêm trọng. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8/2019 đến tháng 1/2020 nhằm giải quyết bài toán cốt lõi: Tính toán sinh khối các bộ phận trên mặt đất, xác định lượng carbon tích lũy, xây dựng mô hình tương quan sinh trắc học và định giá khả năng hấp thụ CO2 của quần thể rừng Tràm trên quy mô 1.159,69 ha thuộc 10 tiểu khu (Tiểu khu 1, 2, 3, 4, 7, 8, 9, 10, 11 và 12). Kết quả nghiên cứu xác định tổng lượng CO2 hấp thụ của quần thể đạt 491.537,772 tấn CO2, cung cấp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và tham gia thị trường tín chỉ carbon quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết chu trình sinh địa hóa carbon và quá trình quang hợp của hệ sinh thái rừng theo định chuẩn của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) và Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC). Bên cạnh đó, lý thuyết phân bổ sinh khối allometric (Allometric Scaling Theory) được ứng dụng nhằm xác lập quy luật tăng trưởng tương quan giữa các chiều đo trắc lượng hình thái với tổng khối lượng vật chất hữu cơ của thực vật.

Bốn khái niệm then chốt được vận hành xuyên suốt đề tài gồm:

  • Sinh khối trên mặt đất (Above-ground Biomass - AGB): Tổng trọng lượng chất hữu cơ khô của thân, cành, lá và vỏ cây trên một đơn vị diện tích tại thời điểm khảo sát.
  • Trữ lượng Carbon (Carbon Stock): Lượng carbon nguyên tố tích lũy trong sinh khối thực vật, được xác định thông qua tỷ lệ phần trăm phân tích phòng thí nghiệm.
  • Hệ số chuyển đổi CO2: Tỷ số lượng phân tử CO2/C tương đương 3,67 (tức 44/12) để quy đổi từ khối lượng carbon tích tụ sang lượng khí CO2 hấp thụ.
  • Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES): Cơ chế tài chính chi trả cho khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon của hệ sinh thái rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ 49 ô tiêu chuẩn kích thước 100 m² (10 m x 10 m) bố trí theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại các tiểu khu đại diện, tuân thủ hướng dẫn kỹ thuật lâm phần của Winrock International. Cỡ mẫu giải tích gồm 40 cây tiêu chuẩn đại diện cho các cấp đường kính ($D_{1,3}$) từ nhỏ đến lớn. Cây chặt được hạ, đo đếm chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), cắt đoạn thân 1 m để tính thể tích hình học, bóc tách vỏ và cân trọng lượng tươi từng bộ phận (thân gỗ, cành, lá, vỏ) ngay tại thực địa.

Chín cây đại diện thuộc 3 cấp tiết diện ngang được lấy mẫu chi tiết (thớt thân 2 cm, thớt cành 5 cm, mẫu lá và vỏ 500 g) mang về phòng thí nghiệm sấy khô ở nhiệt độ 80°C đến khối lượng không đổi nhằm xác định tỷ lệ khô/tươi và phân tích hàm lượng carbon hữu cơ bằng phương pháp Walkley-Black. Phương pháp hồi quy toán học đa biến trên phần mềm Statgraphics Centurion XV và Microsoft Excel 2010 được lựa chọn nhờ khả năng tối ưu hóa hàm tương quan phi tuyến dạng lũy thừa $Y = a \cdot X^b$. Mô hình này vừa phản ánh đúng quy luật sinh thái vừa đạt các tiêu chuẩn kiểm định khắt khe: Hệ số xác định ($R^2$) cao, sai số ước lượng tiêu chuẩn (SEE) và tổng bình phương sai số (SSR) nhỏ nhất. Đặc biệt, 6 cây độc lập ngoài mô hình đã được sử dụng để kiểm định mức độ tin cậy với tiêu chí sai số tương đối $\Delta% < 10%$.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm mang lại bốn phát hiện cốt lõi về cấu trúc sinh khối và năng lực hấp thụ CO2 của rừng Tràm tại Láng Sen:

  • Sinh khối cây cá thể: Tổng sinh khối tươi trung bình của một cây cá thể đạt 104,2 ± 28,8 kg/cây. Trong đó, sinh khối thân tươi chiếm tỷ trọng áp đảo 79,75%, cành tươi chiếm 11,81% và lá tươi chiếm 8,44%. Khi sấy khô kiệt, tỷ lệ sinh khối khô phân bổ theo thứ tự: Thân khô (82,51%) > cành khô (12,08%) > lá khô (5,41%).
  • Sinh khối quần thể lâm phần: Tổng sinh khối tươi trung bình của quần thể đạt 247,44 ± 42,79 tấn/ha (thân chiếm 79,20%, cành 11,62%, lá 9,18%). Tổng sinh khối khô quần thể trung bình ghi nhận ở mức 173,47 ± 30,55 tấn/ha.
  • Đặc điểm tích lũy carbon: Carbon phân bổ không đồng đều giữa các bộ phận, tập trung cao nhất ở thân cây (chiếm 85,04% tổng lượng carbon cá thể), kế tiếp là cành (12,27%) và thấp nhất ở lá (2,69%). Khả năng hấp thụ CO2 của từng cây đơn lẻ dao động từ 5,74 kg/cây đến 393,53 kg/cây tùy theo cấp kính.
  • Năng lực hấp thụ CO2 toàn lâm phần: Lượng CO2 hấp thụ trung bình của rừng Tràm đạt 311,50 ± 26,17 tấn CO2/ha. Tổng lượng CO2 mà 1.159,69 ha rừng Tràm tại Khu bảo tồn Láng Sen hấp thụ lên tới 491.537,772 tấn CO2.

Thảo luận kết quả

Tỷ trọng sinh khối và carbon tập trung vượt trội ở thân gỗ (trên 82% sinh khối khô và 85% carbon) phản ánh sự thích nghi sinh lý của loài Tràm ta (Melaleuca cajuputi Powell) trong điều kiện ngập lũ định kỳ 2,5–3,5 m tại vùng Đồng Tháp Mười, nơi cây ưu tiên phát triển mô gỗ và chiều cao thân để vượt tán nước. Phương trình hồi quy dạng $Y = a \cdot X^b$ biểu diễn mối quan hệ giữa đường kính $D_{1,3}$ với tổng sinh khối khô và lượng carbon cho thấy độ tương thích vượt trội, cho phép ước tính nhanh trữ lượng carbon mà không cần khai thác phá hủy cấu trúc rừng.

Khi so sánh với các nghiên cứu lân cận, sinh khối khô của rừng Tràm Láng Sen (173,47 tấn/ha) cao hơn đáng kể so với rừng Tràm Gáo Giồng - Đồng Tháp (157,09 tấn/ha), nhưng thấp hơn rừng Tràm trồng tại Vườn quốc gia Tràm Chim (231,51 tấn/ha) và Khu bảo tồn Lung Ngọc Hoàng - Hậu Giang (202,63 tấn/ha sinh khối khô; 327,39 tấn CO2/ha). Nguyên nhân xuất phát từ sự khác biệt về mật độ lâm phần, cấp tuổi cây và chế độ thủy văn phèn sâu tại Láng Sen. Kết quả này được trực quan hóa thông qua hệ thống biểu đồ phân bố tỷ lệ phần trăm sinh khối, đồ thị đường cong tương quan lũy thừa giữa $D_{1,3}$ với trữ lượng carbon, cùng bảng tra cứu hai chiều (tra giấy và phần mềm Excel) giúp số hóa công tác kiểm kê tài nguyên.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng, bốn nhóm giải pháp kỹ thuật và chính sách quản lý được đề xuất cụ thể:

  • Xây dựng đề án thương mại hóa tín chỉ carbon rừng: Ban Quản lý Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen cần chủ trì, phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Long An xây dựng hồ sơ phát hành tín chỉ carbon cho 491.537,772 tấn CO2 hiện có trong giai đoạn 2026–2030. Mục tiêu tạo nguồn thu tự chủ khoảng 10–15 USD/tấn CO2 để tái đầu tư vào công tác tuần tra bảo vệ rừng.
  • Ứng dụng bảng tra sinh khối và phần mềm Excel trong điều tra lâm học: Chi cục Kiểm lâm Long An và Ban Quản lý cần triển khai đồng bộ bảng tra tương quan sinh khối lập từ mô hình $Y = a \cdot X^b$ cho toàn bộ 1.159,69 ha rừng Tràm từ năm 2026. Phương pháp đo gián tiếp qua đường kính $D_{1,3}$ giúp tiết kiệm 90% chi phí điều tra và loại bỏ hoàn toàn việc chặt hạ cây thử nghiệm.
  • Điều tiết chế độ thủy văn tối ưu sinh trưởng: Ban Quản lý kết hợp Chi cục Thủy lợi thực hiện kiểm soát mực nước ngập qua hệ thống cống đập nội đồng, duy trì độ ngập hợp lý 0,42–1,8 m trong mùa lũ và giữ ẩm đáy rừng trong mùa khô (tháng 12 đến tháng 5 năm sau). Giải pháp này nhằm hạn chế nguy cơ cháy rừng và thúc đẩy tốc độ tích lũy sinh khối thân gỗ tăng trưởng từ 5–8%/năm.
  • Phát triển sinh kế thích ứng cho cộng đồng vùng đệm: Ủy ban nhân dân huyện Tân Hưng cùng chính quyền các xã Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại và Vĩnh Châu A cần hỗ trợ vốn và đào tạo nghề đan lát lục bình, nuôi ong lấy mật dưới tán tràm cho hơn 1.500 hộ dân vùng đệm từ năm 2026, triệt tiêu 100% tình trạng khai thác gỗ tràm và săn bắt thủy sản trái phép.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và số liệu khoa học của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Ban quản lý các vườn quốc gia và khu bảo tồn đất ngập nước: Cung cấp công cụ bảng tra sinh khối không phá hủy mẫu, phục vụ giám sát trữ lượng rừng định kỳ tại các vùng ngập phèn Đồng Tháp Mười và bán đảo Cà Mau.
  • Cơ quan hoạch định chính sách lâm nghiệp và môi trường: Giúp Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có cơ sở khoa học định giá dịch vụ môi trường rừng và xây dựng hạn mức hấp thụ carbon cấp vùng.
  • Các tổ chức phát triển dự án tín chỉ carbon và thẩm định MRV: Sử dụng hệ thống phương trình tương quan $Y = a \cdot X^b$ đã kiểm định sai số làm bộ thông số chuẩn (baseline data) cho việc đo đạc, báo cáo và thẩm tra (MRV) theo tiêu chuẩn VCS hoặc Gold Standard.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp giải tích cây rừng ngập nước, kỹ thuật phân tích hàm lượng carbon Walkley-Black và ứng dụng phần mềm Statgraphics trong mô hình hóa sinh trắc học rừng.

Câu hỏi thường gặp

Khả năng hấp thụ CO2 của rừng Tràm tại Khu bảo tồn Láng Sen đạt mức bao nhiêu? Theo kết quả nghiên cứu, rừng Tràm tại Láng Sen hấp thụ trung bình 311,50 ± 26,17 tấn CO2/ha. Tổng lượng CO2 được lưu giữ trên toàn bộ 1.159,69 ha diện tích rừng Tràm khảo sát đạt 491.537,772 tấn CO2. Con số này khẳng định giá trị to lớn của hệ sinh thái đất ngập nước Láng Sen trong việc giảm nhẹ phát thải khí nhà kính.

Bộ phận nào của cây Tràm tích lũy nhiều sinh khối và carbon nhất? Thân cây là bộ phận tích lũy sinh khối và carbon cao nhất. Thân gỗ chiếm tới 82,51% tổng sinh khối khô và 85,04% tổng lượng carbon của toàn cây cá thể. Các bộ phận còn lại chiếm tỷ lệ khiêm tốn hơn nhiều: Cành cây tích lũy 12,27% carbon và lá cây chỉ chiếm 2,69% tổng trữ lượng carbon.

Dạng phương trình toán học nào mô tả chính xác nhất sinh khối rừng Tràm? Phương trình tương quan dạng lũy thừa $Y = a \cdot X^b$ (với $X$ là đường kính ngang ngực $D_{1,3}$) là mô hình tối ưu nhất. Dạng hàm này đạt hệ số xác định $R^2$ cao nhất, sai số ước lượng tiêu chuẩn (SEE) thấp và sai số tương đối kiểm định trên 6 cây độc lập đạt dưới 10%, hoàn toàn đáp ứng độ chính xác điều tra lâm học.

Tiềm năng hấp thụ CO2 của Láng Sen so với các khu bảo tồn khác ra sao? Năng lực tích lũy của rừng Tràm Láng Sen (311,50 tấn CO2/ha) cao hơn rừng Tràm Gáo Giồng (157,09 tấn sinh khối khô/ha) nhưng thấp hơn một chút so với Khu bảo tồn Lung Ngọc Hoàng (327,39 tấn CO2/ha) và Vườn quốc gia Tràm Chim (98,01 tấn C/ha, tương đương hơn 359 tấn CO2/ha). Sự chênh lệch này do khác biệt về tuổi rừng, mật độ cây và nền thổ nhưỡng phèn.

Làm cách nào để kiểm kê carbon rừng Tràm mà không cần chặt hạ cây? Đề tài đã xây dựng thành công bảng tra giấy và bảng tra điện tử trên Microsoft Excel. Cán bộ quản lý chỉ cần đo đường kính ngang ngực ($D_{1,3}$) bằng thước dây ngoài hiện trường, sau đó tra cứu vào mô hình hồi quy để xác định trực tiếp thể tích, sinh khối khô và lượng CO2 hấp thụ của từng cây và cả lâm phần.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng hóa toàn diện cấu trúc sinh khối của loài Melaleuca cajuputi Powell với tổng sinh khối khô quần thể trung bình đạt 173,47 ± 30,55 tấn/ha.
  • Xác định tỷ trọng tích lũy carbon tập trung cao nhất ở thân cây (85,04%), tiếp theo là cành (12,27%) và lá (2,69%).
  • Thiết lập thành công hệ thống phương trình allometric dạng lũy thừa $Y = a \cdot X^b$ có độ chính xác cao (sai số kiểm định $\Delta% < 10%$) gắn liền với bộ bảng tra sinh khối tiện ích.
  • Xác định tổng năng lực hấp thụ CO2 của 1.159,69 ha rừng Tràm tại Khu bảo tồn Láng Sen đạt 491.537,772 tấn CO2 (bình quân 311,50 tấn CO2/ha).
  • Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu kiểm kê chuẩn mực để tỉnh Long An triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và tham gia thị trường carbon trong giai đoạn 2026–2030.

Hãy ứng dụng ngay bộ công cụ mô hình hóa sinh khối và các phát hiện từ luận văn này vào công tác quản lý rừng đất ngập nước bền vững, mở rộng hợp tác chuyển nhượng tín chỉ carbon nhằm tạo nguồn tài chính xanh cho bảo tồn thiên nhiên.