Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới các nghiên cứu về cây Xoan đào còn rất ít. Các nghiên cứu đã có chủ yếu tập trung về phân loại, mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái và phân bố của loài Xoan đào. Xoan đào được Carolo Mueller Berol phát hiện lần đầu tiên vào năm 1858 và được đặt tên khoa học là Pygeum arboreum Müll.
Pygeum có ý nghĩa là một loại thuốc được bào chế từ vỏ của Xoan đào và trong thời kỳ này được sử dụng để chữa các căn bệnh liên quan đến tiền liệt tuyến và đường tiết niệu. Tuy nhiên, đến năm 1965, Kalkman sau khi nghiên cứu về đặc điểm hình thái của loài cây này, so sánh với bản mô tả năm 1858 đã nhận thấy các đặc điểm mô về hình thái của loài Pygeum arboreum Müll. trùng khớp với các đặc điểm về hình thái của các loài trong chi Prunus và ông công bố lại trên tạp chí Blume năm 1965 với tên khoa học là Prunus arborea (Blume) Kalkman. Hiện nay theo Plantlist.org (một website có uy tín về hệ thống phân loại cũng như sắp xếp lại tên khoa học của các loài thực vật trên thế giới), tên khoa học được sử dụng cho Xoan đào là Prunus arborea (Blume) Kalkman, các tên còn lại như Pygeum arboreum Müll.
được coi là tên đồng nghĩa (http://www. Theo Blumea (1965), Xoan Đào có một số tên khoa học khác nhau như Digaster sumatranus Miq., Polydontia arborea Blume, Pygeum arboreum Blume, Pygeum blumei Teijsm. & Binn và tên được dùng phổ biến nhất là Pygeum arboreum. Ian Michael Cohen (2011) đã nghiên cứu sử dụng mã vạch ADN để phân biệt các loài thuộc chi Prunus, tác giả đã sử dụng 5 vùng gen nhân và lục lạp (trnH-psbA, trnL- trnL-trnF, trnS-trnG-trnG, matK và rbcL) để xác định mức độ phân biệt giữa các loài cho từng vùng gen này.
Trong 5 vùng gen kể trên, vùng gen matK và Luan van 6 rbcL có thể phân biệt trên 50% các loài thuộc chi Prunus, còn vùng gen trnH- psbA được đánh giá là vùng gen có triển vọng để phân biệt các loài trong chi này. Về đặc điểm hình thái, Xoan đào là cây gỗ lớn, có thể cao tới 30 m và đường kính đạt tới 80cm khi trưởng thành, thân tròn thẳng, gốc ít khi có bạnh vè (Lim và Gan 2009; https://archive.org/; http://biotik.org/species_list_laos. Lá đơn mọc cách có lá kèm nhỏ (dài khoảng 5 mm) và thường sớm rụng. Lá chính có chiều dài 5-15 cm và bề rộng 2-7 cm, có lớp lông mọc phía dưới lá màu hơi bạc, đôi khí có tuyến mật gần phía dưới cuống lá.
Hoa nhỏ, có đường kính khoảng 8 mm, có màu pha trộn giữa trắng-vàng-hồng và mọc thành cụm. Quả hạch có đường kính khoảng 4-8 mm, màu pha chộn xanh-đỏ-đen (Flora of Thailand 1997- 2002). Xoan đào là cây rụng lá, vỏ nứt dọc và bong mảng, có thân hình trụ, thẳng, vỏ mỏng, nhẵn màu xám bạc, giác gỗ màu trắng. Cành non được bao phủ bởi lông mịn dày đặc màu nâu, lá đơn nguyên hình trứng hoặc elip rộng 2-7 cm, dài khoảng 5-15 cm, 2 mặt lá đều có lông.
Hoa chùm màu vàng trắng mọc ở nách lá hình chuông chia làm nhiều thùy. Quả hạch, hình cầu, có lông, đường kính khoảng 0,5 cm màu xanh lá cây, khi chín có màu nâu đỏ hoặc đen. Cây thường phân bố trong rừng ẩm thường xanh ở độ cao từ 200-500m ở các nước Trung Quốc, Ấn độ, Pakistan, Chi lê, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam, Cam Pu Chia và Lào (Kalkman, 1998, http://www.org/laos/species/p/pruar/pruar_en.html, http://tropical.php?id=Prunus+arbore, http://www. Theo Kalnkman (1998), Xoan đào phân bố chủ yếu trên núi đất, ở các vùng rừng nguyên sinh, ít bị tác động có thể hỗn giao với các loài cây họ dầu và phân bố từ độ cao 200 m tới 3000 m so với mực nước biển.
Loài này phân bố trong rừng tự nhiên thường xanh, rừng mưa ẩm, chủ yếu ở trên sườn và đỉnh, đôi khi cũng gặp phân bố dọc cá sông suối, trên đất cát. Trong rừng thứ sinh thường phát Luan van 7 hiện Xoan đào phân bố tại các khu rừng tự nhiên còn sót lại, ít bị tác động (http://www.net/, http://tropical.php?id= Prunus+arborea). Theo Bibian Michael Diway và Paul P. Chai (2004) trong công trình nghiên cứu thực vật tại Vườn quốc gia Batang Al, tỉnh Sarawak, Malaysia đã cho thấy loài Xoan đào thường tồn tại trong các rừng già thứ sinh, các kiểu rừng này thường có độ tuổi xấp xỉ 40 năm, cấu trúc thường có 3 tầng, trong đó Xoan đào thường xuất hiện trong tầng cao nhất với chiều cao trung bình khoảng 30m và mọc cùng với các loài như Koopassia malaccensis, Cratoxylum arborescens, Baccaurea hookeri… Gỗ Xoan đào có màu hồng đến nâu đỏ, được dùng rộng rãi trong xây dựng và làm đồ gia dụng.
Xoan đào cũng được cho là cây có khả năng trồng cảnh quan (Lim và Gan 2009). Trong lá, hạt và vỏ Xoan đào chứa chất có vị đắng. Chất này được cho là có tác dụng đối với cải thiện hộ hấp và tiêu hóa và chống bệnh ung thư nhưng nếu dùng quá liều có thể gây nguy hiểm đến tính mạng (Wiart, 2006). Hoạt chất phytosterol chiết xuất từ Xoan đào có công hiệu tốt trong điều trị bệnh tiền liệt tuyến (Hyde và cộng sự, 1997).
Trong nghiên cứu về phục hồi rừng sau canh tác nương rẫy tại Indonesia, Soedjito (2015) đã chỉ ra rằng Xoan đào đóng vai trò quan trọng đối với tái sinh và phục hồi rừng. Do Xoan đào là cây ưa sáng, dễ tái sinh tự nhiên nên Xoan đào có mật độ cao nhất với hệ số tổ thành loài IV = 27%. Mặc dù theo thời gian phục hồi, mật độ Xoan đào có giảm đi nhưng vẫn có giá trị IV% cao nhất sau khi rừng phục hồi 30 năm. Điều này cho thấy Xoan đào có tiềm năng lớn trong công tác phục hồi rừng.
Các nghiên cứu khác về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật trồng loài cây Xoan đào trên thế giới gần như chưa được quan tâm. Theo Flora in Thailand và Useful Tropical Plants Database, Xoan đào thường được nhân giống bằng hạt. Luan van 8 Mặc dù đã tìm kiếm các tài liệu về cây Xoan đào trên mạng internet và từ thư viện của các Viện nghiên cứu và các Trường đại học ở một số nước trên thế giới như Úc, Nhật, Hàn Quốc, Malaysia, … nhưng không có nhiều tài liệu nghiên cứu về loài cây này. Như vậy có thể thấy rằng, đến nay nghiên cứu về cây Xoan đào trên thế giới còn rất ít, mới chỉ có một số nghiên cứu bước đầu về phân loại, đặc điểm hình thái và phân bố của loài như đã nêu trên.
Tổng quan các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 1. Tên gọi, phân loại Xoan đào hay còn được gọi với các tên như Vỏ hôi, Mạy Thoong, có tên khoa học Pygeum arboreum Endl. thuộc họ Hoa Hồng (Rosaceae) (Tên cây rừng Việt Nam, 2000; Phạm Hoàng Hộ, 2003). Đặc điểm chung của họ này là cây lớn, cây nhỏ hoặc cây bụi, có khi là dây leo.
ở cây bụi và dây leo thân thường có gai. Lá đơn nguyên hoặc xẻ thùy sâu giống như một lá kép, mép lá thường có răng cưa nhỏ. Lá kèm rõ, đôi khi dính vào cuống lá tạo thành bẹ nhỏ. Hoa đơn ít khi lưỡng tính.
Đài 5, tràng 5, nhị 5 hoặc nhiều. Bầu trên hoặc dưới do 1 hoặc nhiều lá noãn rơi hoặc hợp tạo thành. Mỗi mô chứa 1 đến nhiều noãn. Quả hạch, quả mọng hoặc quả kép.
Họ hoa hồng có khoảng 115 chi với 3.200 loài, trong đó Việt Nam có 20 chi với khoảng 140 loài (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2006). Mô tả đặc điểm hình thái, phân bố, sinh thái Xoan Đào là cây gỗ lớn, cao 20-25m, đường kính có thể tới 80cm. Thân tròn, thẳng. Vỏ nhẵn màu xám tro.
Cành non phủ dầy lông mịn màu gỉ sắt; sau nhẵn màu nâu đen, rải rác các nốt sần nhạt. Toàn thân có mùi hôi bọ xít. Lá đơn mọc cách, hình trái xoan, đầu có mũi lồi tù, đuôi hình nêm rộng hoặc gần tròn, dài 6-7cm, rộng 2,5-3cm. Mép lá nguyên hơi quặt về sau.
Gân lá lõm ở mặt trên, có 2 tuyến dẹt màu lục bóng ở phía đuôi lá, mặt dưới thường phủ lông màu gỉ sắt. Lá kèm hình kim. Hoa tự chùm hoặc xim ở nách. Hoa lưỡng tính: Đài hình chuông, mép có 5-15 thùy không đều; tràng màu trắng, cánh tràng nhỏ phủ nhiều lông.
Bầu trên do 1 lá noãn làm thành, 1 ô, hình thận, chứa 2 noãn Luan van 9 cheo. Quả hạch, hình thận, đường kính 2cm (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2006). a) Thân cây b) Vỏ cây Hình 1.1: Hình thái vỏ, thân cây Xoan đào Cây quả ra thành từng chùm, dạng quả hạch, hình dạng giống quả chè, kích thước 0,6-1,2 cm x 0,3-0,7 cm. Quả khi chín màu tím và có mùi thơm.
Hạt khi chín có màu nâu, hạt có hình giống quả chè có kích thước chiều rộng từ 0,2-0,6 cm, chiều dài từ 0,5-1,1cm, nhân màu trắng có tinh dầu và có mùi hôi bọ xít, 1kg có từ 2.400 hạt Nguyễn Trung Hiếu, 2017). a) Mặt trên b) Mặt dưới c) Lá non Hình 1. Hình thái mặt trên, mặt dưới và lá non cây Xoan đào Luan van 10 a) Nụ hoa b) Hoa Hình 1. Hình thái nụ và hoa Xoan đào Hình 1.4: Hình thái quả non, quả trưởng thành và quả già Xoan đào Cây sinh trưởng tương đối nhanh.
Cây 10 tuổi đạt chiều cao trung bình 13,5m, đường kính 12cm. Sinh trưởng tốt ở nơi có nhiệt độ bình quân năm 20 - 270C, lượng mưa năm 1. Cây sống được ở các loại đất feralit màu vàng, vàng đỏ phát triển trên các loại đá mẹ phiến thạch, sa thạch. Xoan đào ưa sáng nhưng trong khoảng 2-3 năm đầu cần độ tàn che 0,5 - 0,6.
Mùa ra hoa tháng 5-6, quả chín tháng 10-12. Khả năng tái sinh hạt và chồi tốt (Trần Hợp, 2002; Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2006; Nguyễn Thị Nhung, 2009). Xoan đào có phân bố rộng, có thể gặp ở hầu hết các tỉnh từ miền Bắc đến miền Trung, thường gặp trong rừng thứ sinh vùng Đông Bắc (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2006). Cây có mặt ở hầu hết các tỉnh phía Bắc và là loài cây triển vọng trong phục hồi rừng bị suy thoái (Triệu Thái Hưng và cộng sự, 2010).
Các tỉnh có Xoan đào phân bố có thể kể tới như Lào Cai, Phú Thọ, Hòa Bình, Luan van 11 Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Quảng Ninh,… và một số tỉnh của Tây Nguyên (Nguyễn Thị Nhung, 2009). Ở các tỉnh miền Bắc, Xoan đào có phân bố từ độ cao tuyệt đối 500 - 600m. Cây mọc trên đất sâu, thoát nước.