Luận án nghiên cứu ứng dụng công nghệ địa không gian trong quản lý tài nguyên rừng tại khu vực vườn quốc gia nam ka đinh nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào

Tài liệu nghiên cứu Luận án nghiên cứu ứng dụng công nghệ địa không gian trong quản lý tài nguyên rừng tại khu vực vườn, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Quản Lý Tài Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

168
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Định nghĩa về Vườn quốc gia, rừng, mất rừng, thêm rừng và suy thoái rừng

Kết luận, tồn tại, khuyến nghị

Danh mục các bài báo có liên quan đến đề tài luận án

Tài liệu tham khảo và các phụ lục của luận án

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Trên thế giới hiện còn khoảng 3,2 tỷ ha rừng, nhưng rừng thứ sinh nghèo chiếm khoảng 80%. Việt Nam có khoảng 10,24 triệu ha rừng, trong đó rừng thứ sinh chiếm trên 90%. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào có 9 triệu ha rừng, với rừng thứ sinh chiếm trên 85%. Biến động rừng đang là mối quan ngại toàn cầu. Từ năm 2000 đến nay, diện tích rừng bị mất và suy thoái khoảng 14,6 triệu ha mỗi năm. Lào, với diện tích đất lâm nghiệp chiếm 47%, có tỷ lệ biến động rừng cao hơn mức bình quân chung. Để quản lý bền vững tài nguyên rừng, Chính phủ Lào đã thành lập nhiều vườn quốc gia, trong đó có Vườn Quốc gia Nam Ka Đinh. Tuy nhiên, diện tích rừng tự nhiên tại đây vẫn đang giảm dần do mất rừng và suy thoái. Việc phát hiện và đánh giá biến động tài nguyên rừng cần được cải thiện thông qua ứng dụng công nghệ địa không gian.

1.1. Tình hình biến động rừng

Biến động rừng tại Lào diễn ra mạnh mẽ, với tỷ lệ mất rừng và suy thoái rừng cao. Chính phủ đã có những nỗ lực trong việc quản lý tài nguyên rừng, nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Việc áp dụng công nghệ GIScông nghệ viễn thám trong giám sát và quản lý tài nguyên rừng là cần thiết. Các công nghệ này giúp phát hiện sớm các vấn đề liên quan đến mất rừng và suy thoái rừng, từ đó đưa ra các giải pháp kịp thời. Việc sử dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) cho phép phân tích không gian và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng một cách hiệu quả.

II. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là xây dựng quy trình kỹ thuật ứng dụng công nghệ địa không gian nhằm phát hiện mất rừng, suy thoái và khu vực thêm mới rừng. Mục tiêu cụ thể bao gồm xác định đặc điểm hiện trạng rừng, xác định ngưỡng chỉ số thực vật kháng khí quyển (ARVI) trên ảnh vệ tinh Sentinel 2, và đề xuất quy trình kỹ thuật ứng dụng công nghệ địa không gian trong quản lý tài nguyên rừng. Những mục tiêu này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ rừng mà còn góp phần vào việc phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên tại khu vực Vườn Quốc gia Nam Ka Đinh.

2.1. Đặc điểm hiện trạng rừng

Đặc điểm hiện trạng rừng tại Vườn Quốc gia Nam Ka Đinh cần được xác định rõ ràng để có cơ sở cho việc quản lý. Việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài nguyên rừng là rất quan trọng. Các yếu tố này bao gồm điều kiện tự nhiên, hoạt động của con người và chính sách quản lý. Sử dụng công nghệ thông tincông nghệ địa không gian sẽ giúp thu thập và phân tích dữ liệu một cách chính xác, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp cho việc bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận án không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn cao. Việc thiết lập ngưỡng chỉ số tương đối với chỉ số thực vật kháng khí quyển (ARVI) trên ảnh vệ tinh Sentinel 2 sẽ là cơ sở khoa học cho việc phát hiện sớm mất rừng và suy thoái rừng. Các kết quả nghiên cứu sẽ giúp đề xuất quy trình kỹ thuật ứng dụng công nghệ địa không gian trong quản lý tài nguyên rừng, từ đó nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng tại khu vực Vườn Quốc gia Nam Ka Đinh. Điều này không chỉ có lợi cho Lào mà còn có thể áp dụng cho các khu vực khác có điều kiện tương tự.

3.1. Đóng góp mới của luận án

Luận án đã đóng góp vào việc thiết lập quy trình kỹ thuật ứng dụng công nghệ địa không gian trong quản lý tài nguyên rừng. Việc phát hiện sớm mất rừng và suy thoái rừng sẽ giúp các cơ quan chức năng có những biện pháp kịp thời. Các giải pháp này không chỉ giúp bảo vệ tài nguyên rừng mà còn góp phần vào phát triển bền vững môi trường sống. Sự kết hợp giữa công nghệ và quản lý sẽ tạo ra những bước tiến mới trong việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Định nghĩa về Vườn quốc gia, rừng, mất rừng, thêm rừng và suy thoái rừng Đã có một số định nghĩa về Vườn Quốc gia, về rừng, mất rừng, thêm rừng và suy thoái rừng được chấp nhận bởi một số quốc gia, tổ chức chính trị, môi trường và các cơ quan quản lý, nghiên cứu về lâm nghiệp như sau: 1. Rừng Theo Công ước của Liên hợp quốc về Đa dạng sinh học rừng (UNEF) (UNEF/CBD/SBSTTA, 2001), rừng được định nghĩa là diện tích đất lớn hơn 0,5 ha, có độ tàn che trên 10%, cây phải có khả năng đạt chiều cao 5 m. Theo Công ước khung về biến đổi khí hậu (FCCC) (FCCC, 2001) [35],rừng được định nghĩa là diện tích đất tối thiểu 0,05-1,0 ha với độ tàn che trên 10-30% với những cây có khả năng đạt chiều cao tối thiểu 2-5 m.

Rừng có thể bao gồm một trong hai dạng rừng kín (nơi cây cối nhiều tầng) hoặc rừng thưa. Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) (FAO, 2020), rừng được định nghĩa là diện tích đất có độ tàn che trên 10% và diện tích lớn hơn 0,5 ha. Các cây phải có thể đạt chiều cao tối thiểu là 5 m khi trưởng thành, hàng cây rộng trên 20 m. Có thể bao gồm một trong hai kiểu rừng: rừng kín, nơi cây có nhiều tầng và tầng sinh trưởng chiếm tỷ lệ cao trên mặt đất; hoặc rừng thưa, có độ tàn che trên 10%.

Theo Luật Lâm nghiệp Việt Nam, năm 2017 (Quốc hội, 2017) [18] , rừng được định nghĩa là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liền vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên. 7 Theo Phụ lục I - Phân chia trạng thái rừng tại Thông tư số 33/2018/TT- BNNPTNT (Bộ NN&PTNTVN, 2018) quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng thì đất quy hoạch cho lâm nghiệp được chia thành đất có rừng và đất chưa có rừng. Đất có rừng là diện tích được xác định là có rừng theo Luật Lâm nghiệp 2017. Và đất chưa có rừng bao gồm: đất có cây gỗ tái sinh (trữ lượng gỗ nhỏ hơn hoặc bằng 10 m3/ha), đất đã trồng nhưng chưa thành rừng (trữ lượng gỗ nhỏ hơn hoặc bằng 10 m3/ha) và đất khác (đất trống, đất trồng cây nông nghiệp, mặt nước, đất có cây lâm nghiệp khác).

Theo Luật Lâm nghiệp Quốc gia Lào năm 2019 (National Assembly, 2019) [45]. Rừng là diện tích đất có độ tàn che trên 10% và diện tích lớn hơn 0,5 ha. Các cây phải có thể đạt chiều cao tối thiểu là 5 m khi trưởng thành, chiều dài, rộng hàng cây trên 20 m. Có thể bao gồm một trong hai kiểu rừng: rừng kín, nơi cây có nhiều tầng và tầng sinh trưởng chiếm tỷ lệ cao trên mặt đất; hoặc rừng thưa, có độ tàn che trên 10%; (ii).

Đất: đất được quy hoạch cho lâm nghiệp được chia thành đất có rừng và đất chưa có rừng. Đất có rừng là diện tích được xác định là có rừng (ở phần i). Và đất chưa có rừng bao gồm: đất có cây gỗ tái sinh (trữ lượng gỗ nhỏ hơn hoặc bằng 10 m3/ha), đất đã trồng nhưng chưa thành rừng (trữ lượng gỗ nhỏ hơn hoặc bằng 10 m3/ha) và đất khác (đất trống, đất trồng cây nông nghiệp, mặt nước, đất có cây lâm nghiệp khác). Các quốc gia, tổ chức quốc tế khác nhau đã đưa ra những định nghĩa về rừng khác nhau.

Tuy nhiên, điểm chung là dựa trên một, hai hay cả 3 tiêu chí: diện tích tối thiểu, độ tàn che và chiều cao cây gỗ. Với luận án này, rừng được hiểu theo định nghĩa về rừng của Luật Lâm nghiệp quốc gia Lào năm 2019 (National Assembly, 2019) [45]. Mất rừng Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO, 2020), mất rừng là việc chuyển đổi đất rừng sang đất sử dụng vào mục đích khác hoặc làm giảm độ 8 tàn che của cây rừng dưới ngưỡng tối thiểu 10%. Mất rừng có hàm ý là việc mất độ che phủ rừng lâu dài hoặc vĩnh viễn hoặc chuyển sang mục đích sử dụng đất khác.

Theo Công ước khung về biến đổi khí hậu (FCCC, 2001) [35],mất rừng là sự chuyển đổi trực tiếp từ đất có rừng sang đất không có rừng bởi con người. Theo Trung tâm Nông lâm nghiệp thế giới (ICRAF, 2017), mất rừng là việc thay đổi từ trạng thái có rừng sang trạng thái không rừng tùy thuộc vào định nghĩa về rừng, liên quan đến cả 2 khía cạnh thể chế và độ che phủ. Theo Luật Lâm nghiệp Quốc gia Lào năm 2019 (National Assembly, 2019) [45]. Ở Lào, mất rừng là việc chuyển đổi đất đã có rừng sang đất sử dụng vào mục đích khác hoặc làm giảm độ tàn che của cây rừng dưới ngưỡng tối thiểu 10%.

Diện tích đất có rừng mất trên một khu vực có diện tích bằng hay lớn hơn 0,5 ha. Có thể thấy, các quốc gia, các tổ chức khác nhau có những định nghĩa khác nhau về mất rừng nhưng đều liên quan đến 2 yếu tố là: chuyển đổi sử dụng đất có rừng và độ che phủ rừng. Trong đó, chỉ tiêu độ che phủ rừng có liên quan đến định nghĩa về rừng (căn cứ để xác định 1 diện tích nào đó còn đủ tiêu chuẩn là rừng hay không). Với luận án này, mất rừng được hiểu theo định nghĩa về rừng của Luật Lâm nghiệp quốc gia Lào năm 2019, với diện tích đất đã có rừng bị mất, hay bị suy giảm độ tàn che dưới ngưỡng tối thiểu 10% ≥ 0,5ha (National Assembly, 2019) [45].

Suy thoái rừng Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO, 2020), suy thoái rừng là việc giảm độ che phủ hoặc trữ lượng rừng do việc khai thác, đốt cháy hoặc các sự kiện khác, với điều kiện độ tàn che của cây rừng trên 10% (để đảm bảo theo định nghĩa về rừng). Theo nghĩa chung hơn, suy thoái rừng là giảm dài 9 hạn nguồn cung cấp tổng thể các lợi ích từ rừng, bao gồm: gỗ, đa dạng sinh học và sản phẩm hoặc dịch vụ khác. Theo Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP, 2001) [50], suy thoái rừng là rừng bị mất đi cấu trúc, chức năng, thành phần loài hoặc năng suất bởi các hoạt động của con người. Do đó, rừng bị suy thoái làm giảm khả năng cung cấp hàng hóa và dịch vụ và chỉ duy trì đa dạng sinh học ở mức hạn chế.

Đa dạng sinh học của rừng bị suy thoái bao gồm nhiều thành phần phi cây, có thể chiếm ưu thế trong thảm thực vật dưới tán. Theo Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC, 2000) [36], suy thoái rừng là do con người trực tiếp gây ra (kéo dài trong X năm trở lên) gây tổn thất dài hạn ít nhất Y% trữ lượng các-bon rừng (và giá trị rừng) kể từ thời điểm T và chưa đủ tiêu chuẩn để được gọi là mất rừng. Theo Luật Lâm nghiệp Việt Nam 2017 (Quốc hội, 2017) [18], suy thoái rừng được định nghĩa là sự suy giảm về hệ sinh thái rừng, làm giảm chức năng của rừng. Theo Luật Lâm nghiệp Quốc gia Lào năm 2019 (National Assembly, 2019) [45].

Ở Lào, suy thoái rừng là rừng bị mất đi cấu trúc, chức năng, thành phần loài hoặc năng suất bởi các hoạt động của con người hay thảm họa tự nhiên (bão, lửa rừng, ngập úng, v. Các định nghĩa, cách tiếp cận khác nhau về suy thoái rừng ở trên đã cho thấy, xác định suy thoái rừng phức tạp hơn so với xác định mất rừng, đặc biệt có những khía cạnh của suy thoái rừng là rất khó định lượng. Với luận án này, suy thoái rừng được hiểu theo định nghĩa của Luật Lâm nghiệp quốc gia Lào năm 2019 (National Assembly, 2019) [45]. Theo luật này, suy thoái rừng thường được hiểu là các vụ phá rừng có quy mô nhỏ (là một phần của mất rừng) hoặc là sự chuyển đổi từ trạng thái rừng có trữ lượng gỗ cao xuống trạng thái rừng có trữ lượng gỗ thấp hơn.

Trong khi đó, các khía cạnh của suy thoái rừng như suy giảm đa dạng sinh học, suy giảm chức năng phòng hộ của rừng vẫn còn ít được đề cập đến. Thêm rừng Theo Tổ chức Gỗ nhiệt đới thế giới (ITTO, 2019) [37], khu vực được coi là thêm rừng là những khu vực hiện tại rừng đã và đang trong quá trình hình thành và phát triển, có thể là ở giai đoạn đầu: tái sinh phục hồi tự nhiên hay nhân tạo hoặc ở đoạn 2, 3 v.v, mà trước đây là những khu đất trống. Diện tích tối thiểu khu thêm rừng mới ≥ 0,5ha. Lịch sử hình thành khu rừng mới từ khu đất trống trước đây có thể bắt nguồn từ: (i).

Đất hoang, sa mặt; (ii). Đất đã có rừng như bị khai thác trắng, bị cháy rừng hoàn toàn, thiên tai, dịch bệnh; (iii). Đất từ canh tác nông nghiệp, canh tác nương rẫy, từ các nông trại, trang trại chăm nuôi gia súc bỏ hóa; (iv). Đất bồi mới tại các cửa sông, suối của các lưu vực sông lớn, v.

Theo Luật Lâm nghiệp Quốc gia Lào năm 2019 (National Assembly, 2019) [45], khu vực được coi là thêm rừng là những khu vực hiện tại rừng đã và đang trong quá trình hình thành và phát triển, có thể là ở giai đoạn đầu: tái sinh phục hồi tự nhiên hay nhân tạo hoặc ở đoạn 2, 3 v.v, mà trước đây là những khu đất trống. Diện tích tối thiểu khu thêm rừng mới ≥ 0,3ha. Lịch sử hình thành khu rừng mới từ khu đất trống trước đây có thể bắt nguồn từ: (i). Đất đã có rừng như bị khai thác trắng, bị cháy rừng hoàn toàn, thiên tai, dịch bệnh; (ii).

Đất từ canh tác nông nghiệp, canh tác nương rẫy, từ các nông trại, trang trại chăm nuôi gia súc bỏ hóa; (iii). Đất Quốc phòng thuộc các thao trường trước đây; (iv). Đất nông nghiệp được chuyển đổi sang trồng cây công nghiệp như: trồng Cao su, v. Với luận án này, thêm rừng được hiểu theo định nghĩa của Luật Lâm nghiệp quốc gia Lào năm 2019 (National Assembly, 2019) [45].

Phát hiện “sớm” mất rừng, suy thoái rừng và thêm rừng. Phát hiện “sớm” được hiểu là khả năng phát hiện sớm nhất kể từ khi xảy ra sự kiện mất rừng, suy thoái rừng hoặc thêm rừng. Phát hiện sớm ở đây 11 bao gồm các khía cạnh: về thời gian phát hiện (sớm nhất có thể), diện tích phát hiện (không gian-nhỏ nhất có thể, thông thường từ 0,3 ha trở lên).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu ứng dụng công nghệ địa không gian trong quản lý tài nguyên rừng tại vườn quốc gia Nam Ka Đinh, Lào" tập trung vào việc áp dụng công nghệ địa không gian để cải thiện quản lý tài nguyên rừng, đặc biệt là trong bối cảnh bảo tồn và phát triển bền vững. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp hiện đại trong quản lý rừng mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng công nghệ để theo dõi và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách thức công nghệ có thể hỗ trợ trong việc quản lý và bảo tồn rừng, từ đó nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý tài nguyên rừng, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Tăng cường quản lý tài nguyên rừng tại huyện Nông Sơn, Quảng Nam, nơi nghiên cứu các biện pháp quản lý tài nguyên rừng hiệu quả, và Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng trồng keo và bạch đàn tại Ba Vì và Thạch Thất, Hà Nội, cung cấp cái nhìn về tác động kinh tế và môi trường của các loại rừng trồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên rừng.