Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế năng động với quy mô dân số vượt hơn 9,2 triệu người, tuy nhiên hệ thống hạ tầng thoát nước và xử lý chất thải hiện hữu đang đối mặt với tình trạng quá tải nghiêm trọng. Ba nhà máy xử lý nước thải tập trung đang vận hành gồm Bình Hưng Hòa, Bình Hưng và Tham Lương – Bến Cát chỉ đạt tổng công suất xấp xỉ 200.000 m3/ngày, đáp ứng vỏn vẹn từ 10% đến 20% tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh mỗi ngày. Lượng nước thải chưa qua xử lý lên đến 80% còn lại bị xả trực tiếp ra hệ thống sông ngòi và kênh rạch, kết hợp với các đợt mưa lớn đạt lượng mưa hàng năm từ 1.200 mm đến 1.900 mm và mực nước triều cường trung bình đạt đỉnh +1,4 m tại trạm Phú An, làm xuất hiện tới 129 điểm ngập trên toàn địa bàn đô thị trong năm 2022.

Tại khu vực thành phố Thủ Đức, tình trạng bê tông hóa nhanh chóng cùng với mạng lưới cống thoát nước chưa được đầu tư đồng bộ đã gây ra các điểm ngập cục bộ kéo dài từ 30 phút đến 2 tiếng tại các tuyến giao thông huyết mạch như đường Kha Vạn Cân, Tỉnh lộ 43 và đường Gò Dưa. Hiện tượng ngập lụt đô thị không chỉ làm tê liệt giao thông mà còn cuốn theo các chất ô nhiễm từ cống rãnh tràn vào hệ thống nước mặt tự nhiên.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá định lượng tác động của giải pháp dựa vào tự nhiên thông qua ứng dụng mái nhà xanh đối với việc cải thiện chất lượng nước mặt và giảm thiểu áp lực tiêu thoát nước. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn 12 phường trung tâm của thành phố Thủ Đức bao gồm Bình Chiểu, Tam Bình, Tam Phú, Hiệp Bình Phước, Hiệp Bình Chánh, Linh Đông, Linh Tây, Linh Xuân, Linh Trung, Linh Chiểu, Bình Thọ, Trường Thọ với tổng diện tích 48 km2 và quy mô dân số 530.000 người. Mô hình tập trung vào lưu vực mạng lưới kênh rạch liên thông gồm kênh Ba Bò, rạch Gò Dưa, rạch Dừa, rạch Thủ Đức và suối Cái trong sự kiện mưa điển hình ngày 06/08/2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập cơ sở khoa học để giảm từ 49% đến 96% nồng độ các chất ô nhiễm chính, mở ra hướng đi bền vững cho quy hoạch hạ tầng xanh đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba nền tảng lý thuyết và mô hình chuyên ngành:

  • Lý thuyết quản lý nước đô thị bền vững (Sustainable Urban Drainage Systems - SUDS): Thay thế tư duy thoát nước xám truyền thống bằng việc tích hợp các cấu trúc phân tán giữ nước tại nguồn, mô phỏng chu trình thủy văn tự nhiên nhằm giảm thiểu lưu lượng đỉnh dòng chảy tràn từ 65% đến 77%.
  • Khung tiếp cận giải pháp dựa vào tự nhiên (Nature-based Solutions - NbS theo IUCN): Ứng dụng hệ sinh thái thảm thực vật nhân tạo trên mái nhà nhằm đồng thời xử lý ô nhiễm hữu cơ, cách nhiệt công trình và điều hòa vi khí hậu đô thị.
  • Mô hình động lực học chuyển hóa chất bậc một (First-order reaction kinetics): Mô tả quá trình suy giảm và chuyển hóa sinh hóa của các hợp chất hữu cơ và chu trình nitơ trong môi trường yếm khí/thiếu khí của hệ thống cống dẫn kín.

Các khái niệm chính được làm rõ bao gồm: Mái nhà xanh đa tầng (cấu tạo gồm lớp thực vật, giá thể, lớp lọc, màng thoát nước và chống thấm), Dòng chảy động học 1D/2D trong cống hở và bãi tràn, Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), và Chuỗi quá trình oxy hóa amoniac (N-NH3), nitrit (N-NO2-) thành nitrat (N-NO3-).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng chuỗi dữ liệu đa nguồn gồm: Dữ liệu quan trắc lượng mưa, mực nước thủy văn và biên triều năm 2020 thu thập từ Trạm Khí tượng miền Nam; Bản đồ cao độ số DEM từ Bộ Tài nguyên và Môi trường; Số liệu mặt cắt sông rạch từ Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam; và Bản đồ mạng lưới cống thoát nước từ Công ty Thoát nước đô thị TP.HCM.

Về quy trình thực nghiệm, cỡ mẫu gồm 20 mẫu nước thải sinh hoạt được lấy tại bể điều hòa chung cư Kingdom 101 qua 2 đợt lấy mẫu độc lập vào ngày 04/04/2022 và 14/04/2022. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm thu thập nguồn nước thải sinh hoạt đậm đặc điển hình của cư dân đô thị. Mẫu được bảo quản trong bình tam giác 25 ml bọc giấy bạc đặt trên máy lắc trong phòng tối có nhiệt độ kiểm soát từ 20 đến 25 độ C, phân tích định kỳ liên tục trong 20 ngày theo Tiêu chuẩn Standard Methods (SMEWW) để xác định các hệ số phân hủy nội tại.

Lý do lựa chọn phương pháp mô hình hóa thông qua phần mềm F28 là khả năng ứng dụng phương pháp thể tích hữu hạn (Finite Volume Method), giúp bảo toàn khối lượng tuyệt đối khi giải hệ phương trình vi phân đạo hàm riêng Saint-Venant 1D cho mạng lưới cống - sông và phương trình nước nông 2D cho vùng ngập bề mặt. Quá trình nghiên cứu được triển khai toàn diện từ ngày 06/02/2023 đến ngày 10/12/2023 và hoàn thành bảo vệ chính thức vào tháng 01/2024.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm và chạy mô phỏng 3 kịch bản thủy lực - chất lượng nước trên phần mềm F28 đem lại các kết quả định lượng cụ thể:

  • Xác định bộ thông số động học phân hủy nước thải: Tốc độ phân hủy BOD đạt k1 = 0,082 ngày-1 với hệ số tương quan R2 = 0,92; Tốc độ oxy hóa amoni đạt beta1 = 0,0326 ngày-1 với R2 trên 0,80; Tốc độ thủy phân nitơ hữu cơ beta3 đạt trên 0,08 ngày-1 và quá trình chuyển hóa nitrit sang nitrat diễn ra mạnh mẽ từ ngày thứ 7 của chu kỳ thí nghiệm.
  • Tác động lan truyền ô nhiễm khi xuất hiện mưa (Kịch bản 1 so với Kịch bản 2): Trong điều kiện không mưa, chất ô nhiễm tập trung chủ yếu trong lòng cống. Khi xuất hiện trận mưa ngày 06/08/2020, lưu lượng nước tràn bề mặt tăng cao làm quá tải hệ thống thoát nước, đẩy nồng độ BOD và hợp chất nitơ lan tỏa trên diện rộng qua các hố ga ngập nước tại đường Tam Bình và Kha Vạn Cân.
  • Hiệu quả vượt trội khi tích hợp mái nhà xanh (Kịch bản 3): Tại thời điểm mưa lớn và xả thải đỉnh điểm lúc 18 giờ trên các tuyến tiếp nhận gồm rạch Gò Dưa, rạch Nhỏ và suối Cái, giải pháp mái nhà xanh đã cắt giảm mạnh mẽ tải lượng ô nhiễm. Nồng độ BOD5 giảm xuống còn 84 mg/L (tương đương hiệu suất cắt giảm 49%), nồng độ N-NH3 giảm xuống 2,46 mg/L (giảm 89%), N-NO3- giảm xuống 0,01 mg/L (giảm 80%) và N-NO2- giảm xuống mức 0,002 mg/L (giảm 96%).

Thảo luận kết quả

Hiệu quả làm giảm ô nhiễm vượt bậc của kịch bản ứng dụng mái nhà xanh bắt nguồn từ cơ chế giữ ẩm và làm chậm dòng chảy của lớp giá thể và thảm thực vật. Bằng việc giữ lại từ 65% đến 77% lượng nước mưa ngay trên mái các công trình, mái nhà xanh giúp triệt tiêu dòng chảy tràn cực đại, ngăn ngừa hiện tượng quá tải thủy lực và nước thải trào ngược từ đáy cống lên mặt đường. Đồng thời, một phần nước thải sinh hoạt được tái sử dụng để tưới tiêu sẽ được hệ rễ cây hấp thụ và vi sinh vật đất khoáng hóa trước khi thoát vào kênh rạch.

So sánh với các công bố quốc tế, tốc độ phân hủy BOD k1 = 0,082 ngày-1 nằm trong khoảng tương thích với các nghiên cứu trên sông Nakdong Hàn Quốc (0,4 ngày-1 theo mô hình QUAL2E) và hồ Taihu Trung Quốc (0,477 ngày-1). Tốc độ oxy hóa nitrit trong nghiên cứu này cao hơn nghiên cứu của Dalsgaard năm 2005 (0,08 ngày-1) do nền nhiệt độ khí hậu TP.HCM dao động từ 25 đến 32 độ C tạo môi trường tối ưu thúc đẩy hoạt tính của vi khuẩn Nitrobacter và Nitrosomonas.

Để phục vụ công tác quy hoạch trực quan, toàn bộ kết quả lan truyền chất ô nhiễm và độ sâu ngập úng được trực quan hóa tối ưu thông qua bản đồ số GIS không gian 2D thể hiện gradien màu phân bố nồng độ chất, biểu đồ đường so sánh biến thiên nồng độ theo chuỗi thời gian 24 giờ và bảng ma trận đối chiếu hiệu suất xử lý giữa ba kịch bản vận hành.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Ban hành quy chuẩn xây dựng hạ tầng xanh bắt buộc: UBND Thành phố Hồ Chí Minh cùng Sở Xây dựng cần xây dựng bộ quy chuẩn bắt buộc lắp đặt mái nhà xanh đối với 100% công trình công cộng có diện tích sàn mái từ 250 m2 trở lên và các tòa nhà thương mại tư nhân từ 1.000 m2 trở lên. Mục tiêu giai đoạn 2025 - 2030 đạt diện tích phủ xanh tối thiểu 25% tổng diện tích mái nhà tại 12 phường thuộc thành phố Thủ Đức.
  • Thực thi chính sách ưu đãi tài chính và thuế: Sở Tài chính phối hợp Cục Thuế triển khai chính sách hoàn thuế xây dựng từ 15% đến 20% tổng chi phí đầu tư mái nhà xanh ban đầu, đồng thời giảm trừ 20% phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt cho các tòa nhà và khu dân cư tích hợp giải pháp trữ nước mưa tại chỗ. Lộ trình áp dụng thí điểm từ quý 1/2025 đến quý 4/2027.
  • Ứng dụng bộ công cụ F28 vào hệ sinh thái quản lý đô thị thông minh: Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Trung tâm Quản lý Hạ tầng Kỹ thuật cần số hóa toàn bộ mạng lưới 48 km2 lưu vực Thủ Đức trên phần mềm mô phỏng F28 nhằm thiết lập hệ thống cảnh báo sớm nguy cơ ngập và lan truyền ô nhiễm trước 6 giờ phục vụ công tác điều tiết cống ngăn triều và trạm bơm.
  • Kết hợp đồng bộ hạ tầng xanh và hạ tầng xám: Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng Hạ tầng Đô thị cần lồng ghép việc mở rộng mái nhà xanh với nạo vét 5 trục thoát nước chính gồm kênh Ba Bò, rạch Gò Dưa, rạch Dừa, rạch Thủ Đức và suối Cái. Mục tiêu loại bỏ hoàn toàn 129 điểm ngập úng đô thị và nâng công suất thu gom nước thải sinh hoạt toàn thành phố lên mức 80% vào năm 2030 theo Quyết định 24/QĐ-TTg.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Các chuyên viên thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch - Kiến trúc có thể sử dụng các số liệu thực chứng để xây dựng cơ chế pháp lý, định mức kỹ thuật và chỉ tiêu quy hoạch hạ tầng xanh cho các đô thị loại I và siêu đô thị chịu ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu.
  • Kỹ sư môi trường và chuyên gia tư vấn hạ tầng đô thị: Cung cấp quy trình hoàn chỉnh về việc thiết lập mô hình số trị F28 tích hợp 1D/2D và bộ thông số động học phân hủy nước thải thực tế giúp nâng cao độ chính xác khi tính toán thiết kế mạng lưới thoát nước và các công trình kiểm soát ngập.
  • Kiến trúc sư công trình xanh và chủ đầu tư bất động sản: Nắm bắt các nguyên lý cấu tạo, tải trọng và lợi ích kỹ thuật của mái nhà xanh đa lớp để hiện thực hóa vào các dự án căn hộ cao tầng, khu đô thị sinh thái nhằm đạt các chứng chỉ công trình xanh LOTUS hoặc LEED.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Làm nguồn tài liệu tham khảo học thuật giá trị cao về phương pháp thí nghiệm 20 ngày xác định hằng số suy giảm chất ô nhiễm và kỹ thuật mô hình hóa toán học các quá trình thủy lực - môi trường phức hợp.

Câu hỏi thường gặp

  • Giải pháp mái nhà xanh có ưu điểm gì vượt trội so với xây dựng hồ điều hòa hay đất ngập nước nhân tạo trong đô thị? Trong bối cảnh đô thị hóa dày đặc với mật độ dân cư 530.000 người trên 48 km2 tại Thủ Đức, quỹ đất trống vô cùng khan hiếm và đắt đỏ. Mái nhà xanh tận dụng triệt để diện tích sàn mái sẵn có của các công trình mà không đòi hỏi đền bù giải phóng mặt bằng, đồng thời phân tán lưu lượng dòng chảy tràn ngay tại nguồn phát sinh với tỷ lệ lưu giữ đạt 77,2%.

  • Tại sao phần mềm F28 lại được lựa chọn để mô phỏng lan truyền ô nhiễm thay vì các phần mềm quốc tế khác? Phần mềm F28 do các nhà khoa học Đại học Bách Khoa TP.HCM phát triển sử dụng phương pháp thể tích hữu hạn, giải quyết chính xác bài toán tương tác phức tạp giữa dòng chảy 1D trong cống kín chịu áp và dòng tràn ngập 2D trên mặt đường. Mô hình được tinh chỉnh đặc thù phù hợp hoàn hảo với hệ thống thủy văn chịu ảnh hưởng bán nhật triều của miền Nam Việt Nam.

  • Việc xác định các hệ số phân hủy k1, beta1, beta2 trong phòng thí nghiệm 20 ngày có ý nghĩa khoa học như thế nào? Thí nghiệm 20 ngày trên mẫu nước thải chung cư Kingdom 101 giúp thiết lập chính xác các hằng số động học phản ứng bậc một đặc trưng cho chất lượng nước thải sinh hoạt đô thị tại TP.HCM. Việc này loại bỏ sai số lớn khi phải sử dụng các giả định thông số lý thuyết từ các quốc gia ôn đới vốn có điều kiện nhiệt độ và hệ vi sinh hoàn toàn khác biệt.

  • Mái nhà xanh có khả năng chịu tải và giảm ô nhiễm như thế nào trong các trận mưa rào nhiệt đới lớn? Thực nghiệm và mô phỏng chỉ ra rằng hệ thống thảm thực vật và giá thể dày từ 4 đến 12 inch của mái nhà xanh hoạt động như một bọt biển sinh học, hấp thụ nước mưa và lọc lắng chất bẩn. Tại thời điểm mưa đỉnh điểm lúc 18 giờ ngày 06/08/2020, mô hình chứng minh mái nhà xanh giúp cắt giảm tới 89% amoni và 49% BOD5 tại các điểm tiếp nhận.

  • Nghiên cứu này có thể mở rộng ứng dụng cho các khu vực đô thị khác ngoài thành phố Thủ Đức hay không? Khung phương pháp luận, chuỗi phương trình truyền chất và quy trình thiết lập mô hình F28 hoàn toàn có thể nhân rộng cho các quận nội thành TP.HCM như Quận 7, Bình Thạnh hay các đô thị thuộc lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn. Chỉ cần cập nhật bản đồ cao độ DEM, mạng lưới cống và dữ liệu khí tượng cục bộ là có thể vận hành mô phỏng hiệu quả.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã định lượng hóa thành công hiệu quả bảo vệ môi trường nước mặt của mái nhà xanh, giúp giảm tới 49% nồng độ BOD5, 89% Amoni, 80% Nitrat và 96% Nitrit tại các kênh rạch chính ở Thủ Đức.
  • Xác lập bộ thông số động học phân hủy nội tại có độ tin cậy cao với R2 đạt từ 0,80 đến 0,92 qua chuỗi thí nghiệm 20 ngày liên tục trên mẫu nước thải sinh hoạt thực tế.
  • Ứng dụng thành công phần mềm F28 để mô phỏng liên kết đồng thời thủy lực mạng sông 1D, cống thoát nước và dòng tràn ngập 2D trên quy mô lưu vực 48 km2.
  • Cung cấp luận cứ khoa học then chốt chứng minh tính vượt trội và khả thi của giải pháp dựa vào tự nhiên so với các công trình thoát nước xám truyền thống vốn đắt đỏ và tốn quỹ đất.
  • Thiết lập lộ trình khuyến nghị cụ thể từ giải pháp chính sách, tiêu chuẩn kỹ thuật đến ưu đãi thuế tài chính hướng tới mục tiêu phủ xanh đô thị bền vững giai đoạn 2025 - 2030.

Để tiếp tục phát triển đề tài, các bước tiếp theo cần tập trung nghiên cứu đo đạc thực nghiệm trên các mô hình mái nhà xanh pilot thực địa tại TP.HCM trong giai đoạn 2024 - 2025 nhằm hoàn thiện ngân hàng dữ liệu thực tế. Các nhà quản lý đô thị, doanh nghiệp phát triển bất động sản và các nhà khoa học hãy chủ động liên hệ và ứng dụng ngay các kết quả của luận văn vào thực tiễn quy hoạch công trình để cùng kiến tạo một đô thị xanh, sạch và thích ứng bền vững với biến đổi khí hậu.