Tổng quan nghiên cứu
Sông Bảo Định giữ vị trí huyết mạch trong cấu trúc không gian đô thị và phát triển kinh tế xã hội của thành phố Mỹ Tho cũng như các huyện Châu Thành, Chợ Gạo thuộc tỉnh Tiền Giang. Với tổng chiều dài 27 km nối liền rạch Mỹ Tho từ sông Tiền đến sông Vàm Cỏ tại thành phố Tân An (trong đó đoạn chảy qua tỉnh Tiền Giang dài 19 km), tuyến sông đóng vai trò trọng yếu trong việc tiêu thoát nước, giao thông thủy, tưới tiêu nông nghiệp và tạo cảnh quan đặc trưng cho đô thị sông nước Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng dân số đô thị đạt khoảng 3,89%/năm cùng áp lực từ hơn 242.000 cư dân thành phố Mỹ Tho đang tạo ra thách thức lớn đối với môi trường thủy vực.
Vấn đề nghiên cứu cốt lõi xuất phát từ thực trạng sông Bảo Định là nơi tiếp nhận trực tiếp nhiều nguồn thải chưa qua xử lý đồng bộ, kết hợp tác động vận hành cống ngăn mặn Bảo Định và cống Tân An nhằm kiểm soát độ mặn trung bình 1,5 g/L trong mùa khô. Việc đóng cống ngăn mặn làm cản trở lưu thông thủy lực, gây tù đọng nguồn nước, làm suy giảm khả năng tự làm sạch tự nhiên của dòng chảy vốn có lưu lượng mùa khô đạt 172 m3/s và mùa lũ đạt 234 m3/s.
Mục tiêu cụ thể của luận văn là điều tra, định lượng toàn diện các nguồn thải chính, đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt và ứng dụng mô hình toán MIKE 11 để mô phỏng, dự báo diễn biến chất lượng nước theo 8 kịch bản phát triển đến năm 2020. Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi không gian đoạn sông Bảo Định chảy qua thành phố Mỹ Tho trong khoảng thời gian 12 tháng, từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở định lượng để các nhà quản lý hoạch định chính sách kiểm soát nguồn thải, hướng tới mục tiêu thu gom và xử lý 40.000 m3/ngày đêm nước thải sinh hoạt đô thị.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thủy động lực học dòng chảy một chiều không ổn định và quá trình lan truyền chất ô nhiễm trong môi trường nước mặt. Khung lý thuyết trọng tâm bao gồm hệ phương trình Saint-Venant kết hợp giữa phương trình liên tục (bảo toàn khối lượng) và phương trình động lượng (bảo toàn động lượng), được giải bằng sơ đồ sai phân hữu hạn 6 điểm xen kẽ nhằm mô tả biến thiên mực nước và lưu lượng theo không gian và thời gian. Quá trình truyền tải và khuếch tán chất ô nhiễm tuân theo định luật Fick, xem xét hệ số phân hủy sinh hóa bậc một đối với các chất hữu cơ.
Mô hình thủy văn mưa dòng chảy NAM với cấu trúc 4 bể chứa ẩm liên hoàn được tích hợp nhằm mô phỏng dòng chảy gia nhập từ lưu vực sông Bảo Định. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng các khái niệm nền tảng bao gồm: chỉ số chất lượng nước mặt, sức chịu tải môi trường nước, nhu cầu oxy sinh hóa trong 5 ngày, nhu cầu oxy hóa học và tổng chất rắn lơ lửng. Việc đối sánh chất lượng nước dựa trên hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia bao gồm quy chuẩn nước mặt và quy chuẩn kỹ thuật về nước thải sinh hoạt, công nghiệp, y tế.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập đồng bộ từ các cơ quan quản lý chuyên ngành kết hợp khảo sát thực địa thực nghiệm. Quy mô cỡ mẫu khảo sát bao gồm: 10 vị trí xả thải sinh hoạt chính đại diện cho mạng lưới thoát nước đô thị, 14 cơ sở kinh doanh thương mại và dịch vụ ẩm thực, 11 trang trại chăn nuôi gia súc quy mô từ 10 đến 159 con, 5 cơ sở y tế điều trị nội trú quy mô từ 31 đến 1.100 giường bệnh, cùng 7 vị trí quan trắc chất lượng nước mặt phân bố dọc tuyến sông Bảo Định từ thượng lưu cống Bảo Định đến hạ lưu cống Tân An.
Phương pháp chọn mẫu được tiến hành theo nguyên tắc chọn mẫu đại diện không gian và đại diện thời gian. Các điểm quan trắc nước mặt được bố trí tại các khu vực nhạy cảm, điểm hợp lưu và khu vực giáp nước chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều biển Đông trong 2 đợt khảo sát điển hình: mùa khô vào tháng 4 năm 2013 và mùa mưa vào tháng 8 năm 2013. Mẫu nước thải được lấy theo phương pháp tổ hợp để phản ánh đúng tính chất dao động lưu lượng theo chu kỳ hoạt động ngày đêm.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn quốc gia và quy chuẩn quốc tế là nhằm đảm bảo độ chính xác cao và tính pháp lý vững chắc cho bộ số liệu đầu vào. Việc lựa chọn phần mềm mô hình hóa chuyên dụng do Viện Thủy lực Đan Mạch phát triển xuất phát từ khả năng mô phỏng vượt trội đối với mạng lưới sông ngòi chằng chịt, giải quyết chính xác bài toán điều tiết công trình thủy lợi phức tạp. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả phân tích mẫu nước thải sinh hoạt tại 10 vị trí cống thoát nước đô thị thành phố Mỹ Tho cho thấy nồng độ ô nhiễm hữu cơ và vi sinh đều vượt ngưỡng xả thải cho phép đối với nguồn tiếp nhận không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt. Cụ thể, hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng dao động từ 71 đến 163 mg/l (vượt từ 1,02 đến 1,63 lần quy chuẩn tại nhiều điểm), nhu cầu oxy sinh hóa đạt mức 86 đến 186 mg/l (vượt từ 1,72 đến 3,72 lần), amoniac vượt 1,2 đến 3,5 lần và lượng vi sinh vật chỉ thị Coliforms đạt từ 1,2 x 10^5 đến 3,9 x 10^6 MPN/100ml (vượt từ 24 đến 120 lần ngưỡng giới hạn).
Đối với nguồn thải từ dịch vụ và chăn nuôi, ô nhiễm hữu cơ diễn biến rất nghiêm trọng. Nước thải tại một số nhà hàng ẩm thực có nhu cầu oxy sinh hóa lên tới 2.290 mg/l (vượt ngưỡng tới 25,8 lần) và hàm lượng Coliforms đạt 9,3 x 10^8 MPN/100ml. Các cơ sở chăn nuôi gia súc có hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng dao động từ 147 đến 182 mg/l (vượt 1,5 đến 1,8 lần), amoniac đạt từ 15 đến 41 mg/l (vượt 1,5 đến 4,1 lần). Nước thải từ 5 cơ sở y tế ghi nhận nồng độ nhu cầu oxy hóa học cao nhất đạt 215 mg/l (vượt 2,2 lần) và Coliforms đạt tới 23 x 10^4 MPN/100ml (vượt 46 lần).
Hiện trạng nước mặt sông Bảo Định tại 7 vị trí quan trắc cho thấy nguồn nước chỉ đáp ứng mục đích tưới tiêu nông nghiệp và giao thông thủy, ngoại trừ chỉ tiêu nitrit vượt chuẩn tại toàn bộ các điểm đo và Coliforms vượt chuẩn tại vị trí giáp ranh. Tuy nhiên, khi đối chiếu với tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt yêu cầu công nghệ xử lý phù hợp, tất cả 7 vị trí quan trắc đều vượt ngưỡng giới hạn về hàm lượng hữu cơ và chất dinh dưỡng. Kết quả mô phỏng bằng mô hình toán cho thấy vào mùa mưa theo kịch bản mở cống Bảo Định, khả năng tiếp nhận tải lượng tối đa của đoạn sông đạt mức cao nhất với tổng chất rắn lơ lửng là 48.459,47 kg/năm, nhu cầu oxy hóa học là 78.695,92 kg/năm, nhu cầu oxy sinh hóa là 53.463,08 kg/năm, amoniac là 9.083,83 kg/năm, tổng nitơ là 4.992,84 kg/năm và tổng phốt pho là 12.417 kg/năm.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy thoái chất lượng nước sông Bảo Định là do thành phố Mỹ Tho chưa hoàn thiện nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tập trung. Hệ thống thoát nước dài 71,6 km chủ yếu là hệ thống cống chung, thu gom nước mưa lẫn nước thải từ các hộ dân và cơ sở kinh doanh dịch vụ chỉ qua xử lý sơ bộ bằng bể tự hoại rồi xả thẳng ra các rạch nhánh trước khi chảy vào sông chính. Bên cạnh đó, việc vận hành đóng cống ngăn mặn Bảo Định và cống Tân An trong mùa khô làm triệt tiêu lưu tốc dòng chảy, biến dòng sông thành khu vực tù đọng, ngăn chặn quá trình pha loãng và trao đổi oxy tự nhiên từ sông Tiền.
Khi so sánh với các nghiên cứu chất lượng nước tại lưu vực hệ thống sông Đồng Nai hay sông Vàm Cỏ Đông, diễn biến ô nhiễm trên sông Bảo Định mang tính chất đặc thù của vùng đồng bằng chịu ảnh hưởng thủy triều mạnh kết hợp công trình kiểm soát mặn. Tại các vị trí giáp nước như khu vực xã Phú Kiết với độ sâu chỉ từ 2 đến 3 mét, hiện tượng lắng đọng bùn đáy và tích tụ chất ô nhiễm diễn ra nhanh hơn so với các đoạn sâu từ 6 đến 9 mét gần cửa sông Tiền. Dữ liệu mô phỏng từ mô hình có thể được biểu diễn trực quan qua các biểu đồ phân bố không gian dọc 7 trạm quan trắc và bảng cân bằng tải lượng ô nhiễm qua 8 kịch bản, làm nổi bật sự suy giảm đột ngột của oxy hòa tan khi các cống kiểm soát mặn bị đóng hoàn toàn.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm phục hồi và bảo vệ chất lượng nước sông Bảo Định, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ với các mục tiêu định lượng cụ thể:
Thứ nhất, đẩy nhanh tiến độ đầu tư và đưa vào vận hành 02 nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tập trung cho thành phố Mỹ Tho với tổng công suất xử lý 40.000 m3/ngày đêm. Dự án cần hoàn thành hệ thống mạng lưới thu gom riêng biệt, đảm bảo xử lý đạt quy chuẩn quốc gia cột A trước khi xả ra nguồn tiếp nhận, giảm thiểu ít nhất 80% tải lượng chất hữu cơ đô thị trong giai đoạn 2014 đến 2020. Chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân thành phố Mỹ Tho phối hợp với Sở Xây dựng tỉnh Tiền Giang.
Thứ hai, áp dụng bắt buộc công nghệ xử lý nước thải phân tán không tập trung đối với 100% các cơ sở dịch vụ nhà hàng, khách sạn và các trang trại chăn nuôi gia súc ven sông. Yêu cầu các cơ sở chăn nuôi xây dựng hầm Biogas hoặc bể lắng lọc sinh học kỵ khí có nắp đậy, xử lý triệt để hàm lượng amoniac và vi sinh vật gây bệnh, hoàn thành trước năm 2016 dưới sự giám sát trực tiếp của Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Tiền Giang.
Thứ ba, thiết lập quy chế vận hành khoa học liên hồ và hệ thống cống ngăn mặn giữa tỉnh Tiền Giang và tỉnh Long An. Cần xây dựng lịch trình đóng mở cống Bảo Định linh hoạt theo chu kỳ con nước triều cường nhằm thau rửa dòng sông định kỳ, kết hợp dự án nạo vét 19 km lòng sông đoạn qua Tiền Giang để duy trì lưu lượng dòng chảy tối thiểu đạt 172 m3/s trong các tháng mùa khô. Đơn vị chủ trì là Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi Tiền Giang và Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Thứ tư, tăng cường thực thi công cụ kinh tế và thanh tra môi trường định kỳ. Thực hiện thu đúng, thu đủ phí bảo vệ môi trường đối với nước thải của 1.055 cơ sở sản xuất kinh doanh tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thành phố, đồng thời lắp đặt trạm quan trắc chất lượng nước tự động liên tục tại vị trí hợp lưu và cống ngăn mặn để phát hiện sớm các sự cố tràn đổ chất thải độc hại.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho nhiều nhóm độc giả chuyên môn:
Nhóm cán bộ quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân các cấp có thể sử dụng kết quả tính toán sức chịu tải môi trường (với định mức tải lượng nhu cầu oxy hóa học 78.695,92 kg/năm và tổng chất rắn lơ lửng 48.459,47 kg/năm) làm căn cứ cấp phép xả thải vào nguồn nước và xây dựng quy hoạch đô thị bền vững đến năm 2020.
Nhóm kỹ sư môi trường và chuyên gia tư vấn công nghệ có thể khai thác bộ dữ liệu chi tiết về đặc tính dòng thải từ 10 điểm xả sinh hoạt, 14 cơ sở kinh doanh dịch vụ và 5 bệnh viện nhằm thiết kế các module xử lý nước thải phân tán phù hợp với điều kiện địa hình trũng thấp và mật độ dân cư cao tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Nhóm nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Thủy văn có thể tham khảo quy trình tích hợp mô hình thủy văn NAM và bộ công cụ MIKE 11 để mô phỏng dòng chảy một chiều có điều tiết cống ngăn mặn làm tài liệu giảng dạy và mở rộng nghiên cứu sang các lưu vực sông lân cận.
Nhóm doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh dịch vụ và chủ trang trại chăn nuôi trong lưu vực sông Bảo Định nắm bắt được các thông số xả thải thực tế, từ đó chủ động cải tiến quy trình công nghệ, giảm phát thải ô nhiễm và tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường nước mặt.
Câu hỏi thường gặp
Nguyên nhân chính khiến chất lượng nước sông Bảo Định bị ô nhiễm nghiêm trọng trong mùa khô là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do cống ngăn mặn Bảo Định và cống Tân An phải đóng kín để ngăn độ mặn trung bình 1,5 g/L xâm nhập vào nội đồng. Việc đóng cống làm triệt tiêu lưu lượng dòng chảy tự nhiên 172 m3/s, biến lòng sông thành khu vực tù đọng, trong khi hàng ngày vẫn tiếp nhận nước thải sinh hoạt chưa xử lý từ hơn 242.000 cư dân thành phố Mỹ Tho.
Nguồn phát thải nào đóng góp tải lượng ô nhiễm hữu cơ lớn nhất vào dòng sông?
Nước thải sinh hoạt đô thị là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất do mạng lưới thu gom chung xả thẳng ra sông với nhu cầu oxy sinh hóa dao động 86 đến 186 mg/l (vượt tới 3,72 lần tiêu chuẩn) và lượng Coliforms lên đến 3,9 x 10^6 MPN/100ml. Kế đến là nguồn thải từ 14 cơ sở kinh doanh nhà hàng, khách sạn và các trại chăn nuôi gia súc.
Mô hình MIKE 11 giải quyết bài toán quản lý chất lượng nước sông Bảo Định như thế nào?
Mô hình MIKE 11 kết hợp các module thủy lực và tải khuếch tán dựa trên hệ phương trình Saint-Venant và định luật Fick để mô phỏng 8 kịch bản đóng mở cống theo hai mùa mưa và khô. Mô hình giúp định lượng chính xác khả năng lan truyền chất ô nhiễm và dự báo sức chịu tải môi trường nước của dòng sông đến năm 2020.
Nước sông Bảo Định hiện nay có thể sử dụng trực tiếp cho mục đích cấp nước sinh hoạt hay không?
Nước sông Bảo Định hiện tại không thể sử dụng trực tiếp cho sinh hoạt do toàn bộ 7 vị trí quan trắc dọc tuyến sông đều vượt ngưỡng cho phép tại cột A2 của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, đặc biệt là nồng độ nitrit và vi sinh vật chỉ thị Coliforms vượt mức an toàn.
Sức chịu tải tối đa của sông Bảo Định đối với các chất ô nhiễm chính là bao nhiêu?
Theo kịch bản vận hành mở cống vào mùa mưa, sức chịu tải tối đa của đoạn sông chảy qua thành phố Mỹ Tho đối với tổng chất rắn lơ lửng đạt 48.459,47 kg/năm, nhu cầu oxy hóa học đạt 78.695,92 kg/năm, nhu cầu oxy sinh hóa đạt 53.463,08 kg/năm và tổng phốt pho đạt 12.417 kg/năm.
Kết luận
- Đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng nước sông Bảo Định qua 7 vị trí quan trắc thực địa, xác định nguồn nước chỉ đạt tiêu chuẩn tưới tiêu nông nghiệp và không đạt tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt.
- Định lượng chi tiết mức độ phát thải từ 10 điểm xả thải sinh hoạt, 14 cơ sở kinh doanh dịch vụ, 11 trại chăn nuôi và 5 bệnh viện với nồng độ chất hữu cơ và Coliforms vượt quy chuẩn từ hàng chục đến hàng trăm lần.
- Ứng dụng thành công bộ mô hình thủy lực và chất lượng nước MIKE 11 kết hợp mô hình thủy văn NAM để mô phỏng 8 kịch bản vận hành cống ngăn mặn trong mùa mưa và mùa khô.
- Xác định sức chịu tải môi trường lớn nhất của đoạn sông trong mùa mưa với khả năng tiếp nhận tổng chất rắn lơ lửng đạt 48.459,47 kg/năm và nhu cầu oxy hóa học đạt 78.695,92 kg/năm.
- Đề xuất hệ thống giải pháp liên ngành đồng bộ, trọng tâm là xây dựng trạm xử lý nước thải 40.000 m3/ngày đêm và thiết lập quy chế điều tiết đóng mở cống khoa học trước năm 2020.
Luận văn đã đóng góp cơ sở dữ liệu khoa học và công cụ tính toán tin cậy cho công tác quản lý tài nguyên nước mặt tại tỉnh Tiền Giang. Các bước triển khai tiếp theo cần tập trung vào việc bố trí nguồn vốn đầu tư hạ tầng xử lý nước thải đô thị và ban hành quy chế phối hợp liên tỉnh Tiền Giang - Long An trong giai đoạn 2015 đến 2020. Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng hành động để kiểm soát nguồn ô nhiễm, bảo vệ nguồn nước sông Bảo Định phục vụ phát triển kinh tế xã hội bền vững.