Đặt vấn đề Trong vài năm trở lại đây quả dưa lê đã trở nên quen thuộc với người dân Việt Nam. Dưa lê (Cucumis melo L.) thuộc họ bầu bí là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao. Dưa lê có nguồn gốc từ Châu Phi, sau đó được trồng ở Ai Cập, Trung Quốc, Ấn Độ và ngày nay dưa lê được trồng ở nhiều nơi trên thế giới (Milne and milne, 1975). Dưa lê là loại quả dễ ăn, có thể dùng để ăn tươi, làm salad, làm nước ép hoa quả., giá thành hợp lý, chất lượng quả, màu sắc, hình thái đa dạng.
Trong quả dưa có chứa nhiều hàm lượng vitamin A, B, C và chất khoáng. Khi chín trong quả có thành phần dinh dưỡng cao gồm nước chiếm 95%, đạm chiếm 0,6%, chất béo 0,11%, tinh bột 3,72%, chất xơ 0,33%, vitamin A (25000-30000 đơn vị), vitamin B 0,03 mg, vitamin C 1,5-2 mg và nhiều khoáng chất ( P 30 mg, Ca 20 mg, Fe 0,4 mg) Trong những năm gần đây diện tích trồng dưa không ngừng tăng lên, năm 2016 diện tích trồng dưa lê trên thế giới khoảng 1.841 nghìn ha với năng suất đạt 25,02 tấn/ha, sản lượng đạt 31.900 tấn (FAO, 2018) Ở nước ta dưa lê được trồng ở nhiều nơi như ở tỉnh Hải Dương, Vĩnh Phúc,.tuy nhiên so với nhu cầu sử dụng thì diện tích trồng vẫn còn ít. Các giống dưa trồng chính của nước ta hiện nay là các giống địa phương như dưa lê trắng Hà Nội, dưa mật Bắc Ninh, dưa lê vàng Hải dương.để làm phong phú hơn cho những giống dưa trong nước một số giống dưa nước ngoài được nhập vào nước ta, với lợi thế cho năng suất cao song giá giống khá đắt nên hiệu quả của sản xuất giảm. Đặc biệt các giống này thường bị nhiễm bệnh sương mai từ trung bình đến nặng (Vũ Văn Liết, 2012).
Chúng ta thấy rằng, h 2 việc sản xuất dưa lê hiện nay cũng gặp phải rất nhiều khó khăn, bởi vì đại đa số người dân vẫn sản xuất theo quy mô nhỏ lẻ mang tính tự cung tự cấp là chủ yếu. Mặc dù nhiều nơi đã hình thành các vùng sản xuất dưa lê tập trung, nhưng hiệu quả kinh tế vẫn chưa cao. Do chất lượng của giống và cũng như kỹ thuật canh tác mà chưa đáp ứng được hết thị hiếu thị người tiêu dùng. Thành phố Thái nguyên có lượng dân số khá đông dân số tăng từ 317.
Hơn nữa tỉnh Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng cao 12,6% so với năm 2016, vượt 0,6% so với kế hoạch, GRDP bình quân đầu người đạt 65 triệu đồng/người. Cơ cấu kinh tế của tỉnh tiếp tục chuyển dịch mạnh sang công nghiệp - dịch vụ, tỷ trọng chiếm 77,4%, Nông, lâm nghiệp, thủy sản chỉ còn 12,6% GRDP của tỉnh [29]. Vì vậy nơi đây tập trung lượng dân cư đông là nơi có tiềm năng về phát triển các loại rau quả an toàn vô cùng lớn.
Mặt khác, đây là tỉnh có điều kiện khí hậu thời tiết ôn hòa thích hợp cho nhiều loại rau sinh trưởng, phát triển. Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người việc nghiên cứu tuyển chọn các giống dưa lê mới sẽ góp phần chủ động nguồn giống chất lượng cao phục vụ cho sản xuất, cho nên chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống dưa lê Hàn Quốc trong vụ Thu – Đông 2017 tại Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu 1.1 Mục đích: Xác định được giống dưa lê Hàn Quốc đạt chất lượng cao để không chỉ phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng trong nước mà còn phù hợp để làm mặt hàng xuất khẩu giúp tăng giá trị kinh tế, trong điều kiện vụ Thu - Đông tại Thái Nguyên.2 Yêu cầu: - Đánh giá được tình hình sinh trưởng và phát triển của các giống dưa lê tham gia thí nghiệm. - Đánh giá đặc điểm ra hoa và đậu quả của các giống dưa lê thí nghiệm.
- Đánh giá tình hình nhiễm sâu bệnh hại chính trên đồng ruộng của các giống dưa lê tham gia thí nghiệm. - Đánh giá năng suất, chất lượng các giống dưa lê tham gia thí nghiệm. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học • Đánh giá được khả năng sinh trưởng và năng suất của một số giống dưa lê Hàn Quốc nhập nội • Giúp sinh viên củng cố kiến thức, kinh nghiệm thực tế trong quá trình trồng và chăm sóc cây trồng mà từ đó góp phần củng cố lý thuyết đã học và hiểu sâu hơn các vấn đề khi chưa làm, thêm vào đó là biết cách thực hiện một đề tài khoa học.
Ý nghĩa thực tiễn • Xác định được giống dưa lê Hàn Quốc sinh trưởng tốt với điều kiện khí hậu trong vụ Thu – Đông tại Thái Nguyên. • Giúp xây dựng cơ cấu cây trồng, bổ sung giống dưa lê Hàn Quốc mới vào cơ cấu cây trồng của những vùng có khí hậu tương đồng với Thái Nguyên. Nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học 2.1 Nguồn gốc, phân loại , đặc điểm cây dưa lê 2.1 Nguồn gốc Dưa lê (Cucumis melo) có nguồn gốc ở Châu Phi, nơi các giống hoang dã tìm thấy, tuy nhiên sự phân bố chính xác của các giống hoang dã không rõ ràng.
Dưa lê được thuần dưỡng ở miền đông Địa Trung Hải, Trung Đông và Tây Á hơn 4000 năm trước [10]. Tên dưa lê đã xuất hiện trong ngôn ngữ văn chương của nhiều dân tộc trên thế giới như: Ả Rập, tiếng Phạm, tiếng Tây Ban Nha. Dưa lê được đưa đến Ấn Độ, Trung Quốc, Afganistan và phổ biến ở Tây Ban Nha vào thế kỉ thứ 15. Dưa lê được trồng ở Anh vào thế kỷ 17 và đến thế kỷ 18 được trồng ở Châu Mỹ.
Theo Kerje và Grum năm 2000 và nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng dưa lê là cây trồng nhiệt đới. Những đoàn khách lữ hành đã mang dưa đến các vùng ấm áp của Châu Phi. Các thương gia Châu phi đã mang hạt dưa đến bán ở nhiều vùng của Châu Mỹ. Ở nước ta lịch sử trồng dưa đã có từ rất lâu và được trồng rộng rãi cho đến ngày nay.
Theo nghiên cứu đa hình phân tử cho thấy các giống dưa Hàn Quốc có nguồn gốc từ dưa hấu loại nhỏ ở Đông Ấn Độ. Người ta cũng cho rằng các giống này có nguồn gốc từ dưa hấu hoang dã ở Trung Quốc (Walters, 1989). Giống dưa lê này hiện nay đã được thuần hóa ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản [14].2 Phân loại Dưa lê (Cucumis melo) thuộc: Bộ (Cucurbitales), họ (Cucurbitaceae), chi (Cucumis), loài (Cucumis melo L. Đã có rất nhiều tác giả tiến hành phân loại dưa lê trên nhiều quan điểm khác nhau.
Có tác giả phân loại chi Cucumis gồm 3 loại phân bố ở 2 vùng riêng biệt đó là: h 5 1. Vùng Đông Nam Hymalayas, đây là vùng của nhóm dưa chuột Châu Á với số nhiễm sắc thể cơ bản là n=7 2. Vùng Châu Phi và Trung Á gồm Châu Phi, Trung Đông, Trung Á trải dài từ Pakistan đến Nam Ả Rập với số lượng nhiễm sắc thể cơ bản là n=12. Vùng Châu Phi, một số loài đa bội (tứ bội, lục bội) trong đó có dưa thơm (musk melon) và dưa chuột bao tử (gherkin).
Theo Munger và Roninson (1991) sử dụng mô tả của Naudin (1959), Grebenscikove (1953), Pangalo(1929), Hammer và cộng sự (1986) nghiên cứu và sắp xếp các mẫu nguồn gen dưa lê vào bảy nhóm như sau [9]: 1. Agrestis : thân mảnh, lá cây đơn tính cùng gốc, đều có hoa đực và hoa cái trên cùng một thân, phát triển như cỏ dại ở Châu Phi và các nước Châu Á. Quả rất nhỏ (<5cm) và không ăn được, cùi rất mỏng và hạt rất nhỏ. Cantalupensis : quả có kích thước trung bình lớn, bóng, mịn, màu sắc vỏ biến động có vảy hoặc vân.
Quả có mùi thơm, vị ngọt khi chín. Gồm có dạng reliculatus. Hoa đơn tính đực và lưỡng tính ở hầu hết các kiểu gen, có lông ở bầu nhụy. Inodorus : dưa lê mùa đông quả lớn, không thơm, bảo quản dài, cùi dày, mịn hay vân đốm.
Bao gồm các loại dưa ngọt Châu Á và Tây Ban Nha như giống dưa ruột xanh và dưa vàng, thường đơn tính và lưỡng tính, có lông trên bầu nhụy. Flexuosus : quả dài, không ngọt, ăn non như dưa chuột. Được tìm thấy ở Trung Đông và Châu Á, thường có hoa đơn tính cùng gốc. Makuwa : các giống vùng Viễn Đông, vỏ trơn, thịt mỏng, trắng, quả có vân nhỏ cùng gồm loại ngọt và loại ăn xanh giòn.
Hoa đơn tính đực và lưỡng tính. Lá có lông, nhụy có lông rất mịn. Chito và dudaim : được mô tả bởi Naudin nhưng được nhóm lại với nhau bởi Munger và Robinson. Có nguồn gốc hoang dại ở Châu Mỹ, quả nhỏ, hoa và quả thơm, dây leo, hoa đơn tính cùng gốc, có lông mịn ở bầu nhụy.
Momordica : là nhóm do Munger và Robinson bổ sung thêm năm 1991 gồm các mẫu có nguồn gen Ấn Độ, dây leo, hoa đơn tính cùng gốc, quả to, không ngọt, vỏ mỏng.Lim (2012) - Edible Medicinal and Non- Medicinal Plants [17]dưa lê được chia thành 6 nhóm sau: 1. Cucumis melo cantalupensis: có nguồn gốc ở Châu Âu (Italya, Pháp), dưa có da thô và có nốt sần, được người Mỹ gọi là dưa đỏ. Cucumis melo makuwa: dưa lê Hàn Quốc. Cucumis melo conomon: gồm dưa gang, dưa gang trái tròn, dưa gang trái dài.
Cucumis melo reticulatus: dưa tây vàng, dưa cantaloupe. Cucumis melo indorus: dưa hoàng yến, dưa mật, dưa tây xanh, dưa tây, dưa xanh. Cucumis melo reticulatus: dưa vàng hami. Đặc điểm thực vật học - Rễ: Dưa lê có nguồn gốc từ Châu Phi nên hệ rễ của chúng có thể ăn sâu, hút nước ở tầng đất sâu, có khả năng chịu hạn.
- Thân: Thân dưa lê là cơ quan dinh dưỡng quan trọng của cây, làm nhiệm vụ vận chuyển các chất hữu cơ từ lá xuống rễ và vận chuyển các chất khoáng các chất dinh dưỡng từ rễ lên các bộ phận của cây. Các mẫu giống tham gia thí nghiệm đều có nguồn gốc Hàn Quốc đều thuộc dạng thân bò. Trên thân có nhiều lóng, các mẫu giống khác nhau thì có số lượng lóng khác nhau. Chiều dài của lóng quyết định chiều cao của cây.
Dưa lê có khả năng phân nhánh ở ngay nách lá. Vị trí bắt đầu phân nhánh thường bắt đầu từ đốt thứ 2 của thân. Các nhánh trên thân chính được gọi là nhánh cấp 1.