Đặt vấn đề Cây khoai lang (Ipomoea batatas.L) là loại cây có địa bàn phân bố rộng, có khả năng thích ứng với điều kiện của nhiều vùng sinh thái khác nhau đặc biệt là vùng nhiệt đới, ôn đới và Châu Á như: Trung Quốc, Việt Nam, Philipines, Indonesia, India là những nước sản xuất nhiều khoai lang. Ngoài việc dùng làm lương thực khoai lang còn được sử dụng làm nguyên liệu chế biến tinh bột, rượu, cồn, xiro, nước giải khát, bánh kẹo…. Cây khoai lang rất dễ trồng, nhân giống bằng dây, ít bị sâu bệnh,chi phí đầu tư trên đơn vị trồng khoai lang thấp, trồng được trên nhiều loại đất, thời gian sinh trưởng ngắn có thể trồng nhiều vụ trên năm, có khả năng chống chịu tốt, có tiềm năng cho năng suất cao nên thích hợp với những hộ nông dân nghèo trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình hiện nay. Trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay cây khoai lang chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất lương thực, đứng thứ 3 sau cây lúa và ngô.
Khoai lang là cây có củ, chứa nhiều tinh bột, có vị ngọt có thể sử dụng để ăn tươi, thái lát phơi khô, chế biến tinh bột làm lương thực, thức ăn chăn nuôi, thân non có thể làm rau xanh. Ngoài ra khoai lang có thể chế biến các sản phẩm tinh bột biến tính, các sản phẩm lên men thủy phần được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp thực phẩm, dệt, giấy, vật liệu xây dựng, cao su nhân tạo… Hiệu suất sản xuất Ethanol sinh học từ cây khoai lang cao hơn mía đường, ngô, sắn, khoai tây, cao lương. Với những ưu việt như vậy, nên cây khoai lang ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm góp phần đẩy cây khoai lang lên một tầm cao, trở thành cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp. 2 Thành phần củ khoai lang tươi chứa 28,5 % gluxit, 68% nước, 0,8% protit, 50 mg phốt - pho, 34 mg canxi, 23 mg vitamin C.
Thành phần khoai lang khô: 80% gluxit, 11% nước, 2,2% protit. Những nghiên cứu gần đây cho thấy, giống khoai lang tím có polyphennol chứa anthocyamin có tác dụng khoáng oxy hóa rất mạnh, có khả năng kiềm chế đột biến của tế bào ung thư, hạ huyết áp, phòng ngừa bệnh tim mạch, có tác dụng làm đẹp. Cây khoai lang có sắc tố tế bào chất nhuộm màu thực phẩm thiên nhiên thay sắc tố tổng hợp nhân tạo. Khoai lang chứa nhiều loại vitamin A, B, C, E và các khoáng chất K, Ca, Mg, Fe, Se… giàu chất xơ thực phẩm.
Tổ chức FAO của Liên Hợp Quốc đánh giá khoai lang là thực phẩm bổ dưỡng tốt nhất của thế kỷ 21, đang được thị trường thế giới ưa chuộng. Vùng Trung Du và Miền núi phía Bắc là vùng có tiềm năng lớn về phát triển nông lâm nghiệp. Cây khoai lang từ xưa đã gắn liền với người dân nghèo ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Đặc biệt từ xưa người dân đã đánh giá cây khoai lang có khả năng thích ứng rộng, kỹ thuật trồng đơn giản, có thể phát triển tốt trong vụ Đông và vụ Xuân.
Tuy nhiên để đạt được năng suất cao, chất lượng tốt cần phải đánh giá, lựa chọn được quy trình kỹ thuật canh tác phù hợp điều kiện từng vùng sinh thái cũng như lựa chọn được lượng phân bón cho giống khoai lang mới. Mặc dù, diện tích trồng khoai lang của vùng trung Du và miền núi phía Bắc đứng thứ 2 trong 6 khu vực trồng khoai lang của cả nước (34.800ha) nhưng vẫn mang tính chất nhỏ lẻ, chủ yếu mang tính tự cung tự cấp. Năng suất khoai lang của vùng rất thấp (đạt 67,2 tạ/ha, đứng thứ 5/6 vùng), bằng 66,8% năng suất bình quân của cả nước, bằng 28,8% năng suất của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đây là những thách thức lớn trong phát triển cây khoai lang.
Nhiều nghiên cứu khẳng định: Năng suất khoai lang thấp chủ yếu là do chưa có chế độ dinh dưỡng phù hợp, các biện pháp thâm canh tổng hợp chưa được chú trọng đúng mức. 3 Vì vậy để tăng năng suất và sản lượng khoai lang ở các tỉnh miền núi phía Bắc ngoài việc đánh giá các yếu tố kinh tế xã hội, thị trường để quy hoạch thì cần phải xác định một tổ hợp phân bón cho phù hợp với điều kiện sinh thái của từng địa phương nhằm tăng thu nhập và đạt hiệu quả kinh tế cao của cây khoai lang là việc làm cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón NPK đến sinh trưởng và năng suất khoai lang trong vụ Xuân năm 2015 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích Nhằm nghiên cứu để tìm ra tổ hợp phân bón NPK thích hợp với sự sinh trưởng và năng suất khoai lang Đỏ Phú Lương vụ Xuân 2015 tại trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên. Yêu cầu - Theo dõi đặc điểm sinh trưởng phát triển của giống khoai lang Đỏ Phú Lương ở các công thức thí nghiệm. - Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của khoai lang ở các công thức - Tình hình sâu bệnh hại ở các công thức thí nghiệm. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Qua nghiên cứu đề tài sẽ xác định được tổ hợp phân bón NPK thích hợp với sinh trưởng và năng suất khoai lang Đỏ Phú Lương vụ Xuân 2015 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Đánh giá hiệu quả kinh tế từ các tổ hợp phân bón NPK để từ đó có thể khuyến cáo cho bà con nông dân sản xuất với mức phân bón phù hợp. 4 Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy cũng như nghiên cứu về khoai lang ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc của nước ta. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất Qua kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ xác định được công thức bón phân phù hợp với sản xuất khoai lang Đỏ Phú Lương vụ Xuân ở Thái Nguyên và đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức bón khác nhau.
Từ đó khuyến cáo ra sản xuất nhằm đạt được năng suất và hiệu quả cao nhất. 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc,lịch sử và giá trị sử dụng của cây khoai lang 2. Nguồn gốc, phân bố và phân loại khoai lang Khoai lang (Ipomoea batatas (L.) Lam) là cây hai lá mầm thuộc chi Ipomoea, họ Convolvuaceae (Purseglove J.
Trong số đó gồm 50 tộc và hơn 1000 loài thuộc họ này thì Ipomoea batatas là loài có ý nghĩa kinh tế quan trọng và được sử dụng làm lương thực và thực phẩm. Số lượng loài trong chi Ipomoea đã được xác định là hơn 400 loài, nhưng Ipomoea batatas là một loài cây trồng không được tìm thấy ở dạng hoang dại. Cho đến nay, nguồn gốc khoai lang vẫn còn nhiều tranh cãi. Song các bằng chứng về khảo cổ học, ngôn ngữ học và lịch sử học đã cho phép xác định nguồn gốc khoai lang là ở Châu Mỹ, ở vùng Trung Mỹ hay Nam Mỹ.,1977 cho rằng khoai lang có nguồn gốc ở giữa vùng phía Bắc là quần đảo Yucatan và phía Nam là sông Orinoco với các trung tâm thứ cấp có sự đa dạng cao ở Guatemala và Nam Peru.
Yen, 1982, khi nghiên cứu về sự biến động ở Ipomoea batatas đã chỉ ra vùng có sự đa dạng cao bao gồm Colombia, Equador và Bắc Peru. Cây khoai lang tuy có nguồn gốc ở Châu Mỹ nhiệt đới nhưng được phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và vùng ôn đới ẩm. Khoai lang được trồng rộng rãi ở Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Á, Châu Âu. từ 40° vĩ Bắc xuống 32° Nam.
Ở vùng xích đạo khoai lang còn được trồng ở độ cao 3000 m so với mặt biển (Woolfe J. Khoai lang được phổ biến rất sớm trong khu vực này, bao gồm cả khu vực Caribe. Nó cũng đã được biết tới trước khi có sự thám hiểm của người phương tây tới Polynesia. Nó được đưa 6 tới đây như thế nào là chủ đề của các cuộc tranh luận dữ dội, có sự tham gia của các chứng cứ từ khảo cổ học, ngôn ngữ học và di truyền học.
- Phân loại Khoai lang (Ipomoea (L) Lam) là cây hai lá mầm, thuộc họ Bìm bìm Convolvulaceae, chi Ipomoea. Trong số hõn 1000 loài thuộc họ Convolvulaceae thì loài Ipomoea batatas ðýợc trồng và sử dụng làm lýõng thực và thực phẩm trên khắp thế giới, Võ Vãn Chi và CS (1998) [2] Các giống khoai lang trồng phổ biến hiện nay là thuộc loài Ipomoea batatas, thuộc thể lục bội có bộ nhiễm sắc thể 2n = 6X = 90, với bộ nhiễm sắc thể cõ bản là X = 15, Mai Thạch Hoành (2004) [5] 2. Lịch sử phát triển Vào nãm 1492 trong chuyến výợt biển ðầu tiên Christopher Columbus ðã tìm ra Tân thế giới (Châu Mỹ) và phát hiện ra Khoai lang ðýợc trồng ở Hispaniola và CuBa. Từ ðó Khoai lang mới thực sự lan rộng ở Châu Mỹ và sau ðó ðýợc di thực ði khắp thế giới, Nguyễn Viết Hýng và CS (2010) [4] Ðầu tiên Khoai lang ðýợc ðýa về Tây Ban Nha, tiếp ðó lan tới một số nýớc Châu Âu và ðýợc gọi là batatas (hoặc padada) sau ðó là spanish Potato (hoặc Sweet potato).
Các nhà thám hiểm Bồ Ðào Nha ðã du nhập cây Khoai lang vào Châu Phi (có thể bắt ðầu từ Môdãmbic hoặc Ãnggôla), theo hai con ðýờng từ Châu Âu và trực tiếp từ vùng bờ biển Trung Mỹ, sau ðó lan sang Ấn Ðộ, Nguyễn Viết Hýng và CS (2010) [4] Các thýõng gia Tây Ban Nha ðã du nhập cây Khoai lang vào Philippin (Yen 1982) và từ Philippin vào Phúc Kiến (Trung Quốc) nãm 1594. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng Khoai lang vào Trung Quốc có thể sớm hõn từ Ấn Ðộ hoặc Myanma. 7 Ngýời Anh ðã ðýa Khoai lang ðến Nhật Bản vào nãm 1615 nhýng ðã không phát triển ðýợc. Ðến nãm 1674 cây Khoai lang ðã ðýợc tái nhập vào Nhật Bản từ Trung Quốc, Nguyễn Viết Hýng và CS (2010) [4] Những ngýời Tây Ban Nha ðã du nhập cây khoai lang vào các quần ðảo Nam Thái Bình Dýõng qua chuyến ði vòng quanh thế giới của Magenlãng 1521.
Những ngýời thám hiểm ðầu tiên ðã ðặt chân lên ðảo Tân Tây Lan, Ha - oai và những ðảo về phía Tây có những vị trí rất tách biệt và từ ðó trở thành cây lýõng thực cực kỳ quan trọng (Dixõn 1932).