CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1. Giới thiệu ĐBSCL là phần cuối cùng của lưu vực sông Mê Kông với tổng diện tích tự nhiên là 3,96 triệu ha (bằng 5% diện tích toàn lưu vực) bao gồm 13 tỉnh, chiếm khoảng 12% diện tích tự nhiên và 22% dân số cả nước. Nguồn nước được cung cấp từ 2 nguồn chính là từ sông Mekong và nước mưa. Vùng ĐBSCL hàng năm bị ngập lũ là hạn chế lớn đối với canh tác, trồng trọt và gây nhiều khó khăn cho đời sống của dân cư.
Tuy nhiên, ngập lũ cũng tạo nên những điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản. Vào những năm cuối của thập niên 90, Chính phủ đã có những đầu tư quan trọng nằm tạo điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt đối với vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Từ năm 2000, nuôi thuỷ sản nước ngọt, lợ đã chuyển mạnh từ phương thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh. Nhiều mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp đã được áp dụng, các vùng nuôi tôm, cá basa, cá tra lớn mang tính chất sản xuất hàng hoá được hình thành, sản phẩm nuôi đã mang lại giá trị xuất khẩu rất cao cho nền kinh tế quốc dân và thu nhập đáng kể cho người lao động.
Tuy nhiên, vẫn còn một số loài có giá trị kinh tế cao mà nguồn cung hiện nay chủ yếu dựa vào đánh bắt tự nhiên như cá Cam, cá Kèo, cá Ngát,. Bên cạnh đó, nhằm giảm bớt rủi ro trong quá trình nuôi do gặp phải những biến động về giá cả, thị trường đầu ra, bệnh tật,. người dân đang có xu hướng đa dạng hóa đối tượng nuôi thủy sản. Các loài cá có giá trị thương phẩm cao ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đang được người nuôi chú ý.
Cá Ngát (Plotosus canius) là một trong những loài cá đặc sản ở vùng ĐBSCL, kích cỡ lớn và thịt thơm ngon nên được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức mô tả và phân loại. Cá Ngát sống chủ yếu ở môi trường nước lợ nhưng cũng phân bố rộng ở vùng nước ngọt. Hiện nay, nguồn lợi cá tự nhiên ngày càng suy giảm nghiêm trọng do việc khai thác quá mức, đối với một số nước đây là loài cá thuộc danh sách đỏ cần được bảo vệ (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2007).
Từ tình hình thực tế trên, được sự phân công của khoa Thủy Sản, trường Đại học Cần Thơ đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cá Ngát (Plotosus canius Hamilton, 1822)” được thực hiện. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục tiêu của đề tài: Đề tài được thực hện nhằm mục tiêu cung cấp thêm dẫn liệu về một số đặc điểm sinh trưởng của cá Ngát, từ đó làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp về đối tượng này trong tương lai. Nội dung của đề tài: 1.
Khảo sát sự tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá. Biến động kích cỡ cá qua các tháng thu mẫu. Xác định các tham số tăng trưởng của cá (K, L¥, t0). Nghiên cứu mối quan hệ giữa tuổi và chiều dài của cá.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Hệ thống phân loại cá Ngát theo tài liệu trích dẫn từ Itis (2008) và Fishbase (2008) được xác định như sau: Giới: Animalia Linnaeus, 1758 – animals Nhánh: Deuterostomia Grobben, 1908 – deuterostomes Ngành: Chordata Bateson, 1885 – chordates Lớp: Osteichthyes Huxley, 1880 Lớp phụ: Actinopterygii - ray-finned fishes Bộ: Siluriformes (catfish) Họ: Plotosidae (Eeltail catfishes) Giống: Plotosus Lacepède, 1803 Loài: Plotosus canius Hamilton, 1822 Tên tiếng Anh: Gray eel-catfish Tên tiếng Việt: cá Ngát, cá Ngát Nanh, cá Ngát Chó Ngoài ra cá Ngát còn có các đồng danh (theo Fishbase, 2008) sau: + Plotosus canius Hamilton, 1822 + Plotosus horridus Bleeker, 1846 + Plotosus multiradiatus Bleeker, 1846 + Plotosus unicolor Valenciennes, 1840 + Potosus viviparus Bleeker, 1846 Trong đó Plotosus canius Hamilton, 1822 được sử dụng phổ biến trên thế giới. Đến năm 2009 đã có 66 tài liệu nghiên cứu liên quan đến loài Plotosus canius được công bố (theo Fishbase, 2009) Theo kết quả nghiên cứu của Rainboth (1996), Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) họ Plotosidae chỉ có một giống Plotosus.
Tuy nhiên, Fishbase (2009), Nguyễn Loan Thảo (2009) thì họ Plotosidae có 10 giống là: Anodontiglanis, Cnidoglanis, Euristhmus, Neosiluroides, Neosilurus, Oloplotosus, Paraplotosus, Plotosus, Porochilus, Tandanus. Trong đó Plotosus có 9 loài đã được nhận dạng là: 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Plotosus abbreviatus + Plotosus brevibarbus + Plotosus canius + Plotosus fisadoha + Plotosus japonicus + Plotosus limbatus + Plotosus lineatus + Plotosus nkunga + Plotosus papuensis Ở Việt Nam giống Plotosus chỉ mới có hai loài được phân loại là Plotosus canius được tìm thấy ở miền nam Việt Nam thuộc hạ lưu sông Mêkông và Plotosus lineatus được tìm thấy ở vịnh Bắc Bộ, Miền Trung, Nam Bộ Việt Nam (Theo Nguyễn Hữu Phụng và Nguyễn Nhật Thi, 1994). Họ Plotosidae (Cá ngát) là một họ cá da trơn có thân giống như lươn. Đuôi của chúng nhọn hoặc tròn tù.
Phần lớn các loài có 4 râu. Chúng không có vây mỡ. Phần đuôi được tạo ra từ sự kết hợp của vây lưng thứ hai, vây đuôi và vây hậu môn để tạo ra một vây liên tục duy nhất. Một số loài trong họ này có thể gây ra những vết thương nguy hiểm cho con người, nọc độc của Plotosus lineatus có thể gây ra tử vong.
Chúng là các loài cá ăn đáy và thường sử dụng râu để phát hiện thức ăn.org, 2009) Theo Mohsin và Ambak (1996), Mai Đình Yên và ctv (1992), Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì cá Ngát được mô tả như sau: D1. 106 Dài chuẩn = 5,2 (4,8 -5,5) Dài đầu Dài chuẩn = 6,5 (5,9 – 7,6) Cao thân Dài đầu = 10,9 (9,5 – 11,9) Đường kính mắt Dài đầu = 2,9 (2,6 – 3,3) Khoảng cách hai mắt 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cá Ngát Cá Ngát có thân dài gần giống hình trụ, vuốt nhọn hướng về phía đuôi. Phần trước tròn, phần sau dẹp bên, mỏng và mền mại.
Thân không vảy. Có một đường bên chạy từ mép lổ mang đến điểm giữa gốc vi đuôi (Mohsin và Ambak, 1996) Đầu to, rộng, dẹp bằng, chiều cao đầu ngắn hơn chiều dài đầu và chiếm khoảng 1/7 chiều dài tổng. Miệng dưới, rộng, không co duỗi được. Môi dày mềm có viền rua.
Răng hình nón cứng chắc, xếp thành từng nhóm, hình lưỡi liềm. Răng hàm dưới mọc trên xương lá mía (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993). Có 4 đôi râu: râu mũi dài đến sau mắt, râu hàm trên dài đến vây ngực, râu hàm dưới và râu cằm ngắn. Có 2 vây lưng: vây thứ nhất ngắn, vây thứ hai dài nối liền với vây đuôi nhọn và vây hậu môn.
Ở vây lưng thứ nhất và vây ngực có gai độc nhọn cạnh trước và cạnh sau có răng cưa rất sắc (Mohsin và Ambak, 1996, Mai Đình Yên và ctv, 1992, Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993). Điểm đặc biệt là có dendrictic ở phần lõm sau bên cạnh hậu môn (Mohsin và Ambak, 1996). Phần đầu và lưng có màu nâu đậm, nhạt dần về phía bên dưới, bụng hơi trắng. Cá nhỏ hơn 30cm thường có màu xám và có những chấm lốm đốm trên thân (Anglingdirectholidays, 2009).
Râu màu xám, vây xám, vây lưng thứ nhất và vây ngực tối hơn các vây còn lại (Mohsin và Ambak, 1996). Cá Ngát ngoài tự nhiên cỡ kích cỡ khá lớn, ngư dân đã phát hiện cá Ngát đực có chiều dài lên tới 150cm, nhưng thông thường có kích cỡ trung bình từ 50-80 cm (Fishbase, 2008). Ngư dân Thái Lan đã phát hiện cá Ngát nặng 8,5 kg. Trung bình cá 2 năm tuổi có khối lượng từ 2–3 kg/con (theo Google, 2009).
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân bố và môi trường sống. Về đặc điểm hình thái bên ngoài của cá Trơn rất đa dạng và có nhiều biến đổi để thích nghi với môi trường sống. Điểm chung nhất của bộ Siluriformes đó là da trơn, vẩy bị thoái hóa, chúng có cơ quan hô hấp phụ và có khả năng hô hấp qua da.
Vì thế chúng có khả năng sống rất lâu trong bùn hay môi trường thiếu oxy chỉ cần duy trì đủ độ ẩm cho da (Hội thảo nghiên cứu cá da trơn ở ĐBSCL, 1997). Bộ Siluriformes có môi trường phân bố rất rộng, người ta đã tìm thấy chúng ở Bắc, Trung và Nam Phi, Châu Mỹ, Châu Âu, Đông Nam Á…ngoại trừ 2 họ (Arriidae và Plotosidae) phân bố ở nước lợ nhưng di cư vào nước ngọt để tìm mồi. Cho nên có thể nói bộ Siluriformes là bộ cá nước ngọt. Theo tài liệu nghiên cứu được công bố của Fishbase (2009) thì bộ Siluriformes có 36 họ, 447 giống, 3088 loài cá phân bố trên thế giới.
Các loài cá da trơn còn sinh tồn sống trong các vùng nước nội địa hay ven biển của mọi châu lục, ngoại trừ châu Nam Cực. Cá da trơn là loài đa dạng nhất tại khu vực nhiệt đới Nam Mỹ, châu Phi và châu Á. Trên một nửa số loài cá da trơn sinh sống tại châu Mỹ. Cá da trơn chủ yếu được tìm thấy tại các môi trường sống nước ngọt, mặc dù phần lớn sinh sống trong các môi trường nước nông và lưu thông (nước chảy).
Các đại diện của ít nhất là 8 họ là các loài sinh sống ngầm dưới đất với 3 họ có khả năng sinh sống trong các hang hốc. Một loài, Phreatobius cisternarum, sinh sống trong môi trường nước ngầm. Nhiều loài từ các họ Ariidae và Plotosidae, cùng vài loài từ các họ Aspredinidae và Bagridae, có thể sinh sống tốt trong môi trường biển (Google, 2009). Theo kết quả nghiên cứu của Lê Hoàng Yến (1994, trích bởi Hội thảo nghiên cứu cá da trơn ở ĐBSCL, 1997) cho thấy ở Việt Nam bộ cá Trơn có 51 loài, 18 giống và 7 họ.
Trong khi đó Mai Đình Yên và ctv (1992) tìm thấy 72 loài. Nhưng Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì tìm thấy ở ĐBSCL bộ cá Trơn có 7 họ, 16 giống, 40 loài. Họ Plotosidae đã được tìm thấy chúng ở Ấn Độ Dương và miền tây Thái Bình Dương, từ Nhật Bản tới Australia và Fiji. Khoảng một nửa số loài là cá nước ngọt, có mặt ở khu vực Australia và New Guinea (Fishbase, 2009).
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân bố cá Ngát trên thế giới. Theo Fishbase, 2008 cá Ngát được tìm thấy ở Đông Dương, Tây Thái Bình Dương từ tây nam vùng duyên hải của Ấn Độ và Sri Lanka, đi dọc theo vùng duyên hải phía đông của Bangladesh và Myanmar, thông qua các quần đảo Đông Dương, Úc và Philippines kéo dài tới Papua New Guinea.