MỞ ĐẦU Theo quan điểm sinh thái học, thảm thực vật là tấm gƣơng phản ánh khách quan các điều kiện tự nhiên, nhân tố môi trƣờng. Đồng thời là thành phần quan trọng của sinh quyển. Thực vật không những là một nhóm yếu tố tự nhiên quan trọng của lớp vỏ địa lý mà còn là nguồn tài nguyên có giá trị, cung cấp nguyên vật liệu đáp ứng nhu cầu sống của con ngƣời. Vì vậy, những năm gần đây, bên cạnh những nghiên cứu cơ bản, thảm thực vật còn là đối tƣợng của các hƣớng nghiên cứu ứng dụng nhằm đề xuất các hƣớng sử dụng hợp lý, bền vững thảm thực vật, bảo tồn đa dạng sinh học và quy hoạch môi trƣờng.
Sự phát triển hƣớng nghiên cứu này đặc biệt đƣợc quan tâm trong các khu bảo tồn và các VQG, nơi nguồn gen tự nhiên còn phong phú, đa dạng. Vƣờn Quố c Gia Bidoup - Núi Bà thu ộc địa bàn Tây Nguyên là mô ̣t trong nhƣ̃ng khu bảo tồ n quan tr ọng của Viê ̣t Nam v ới diê ̣n tić h 64. Kết quả nghiên cứu đã xác đinh ̣ đƣ ợc 1.475 loài thực vật b ậc cao có mạch và 398 loài động vâ ̣t. VQG Bidoup – Núi Bà đƣợc các nhà khoa học đánh giá là một trong 221 trung tâm chim đặc hữu của thế giới và là một trong bốn trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam (Khu vực núi cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, khu vực rừng mƣa ở Bắc Trung Bộ và cao nguyên Lâm Viên ở phía Nam).
Trong chƣơng trình bảo tồn hệ sinh thái dãy Trƣờng Sơn, khu vực Bidoup - Núi Bà đƣợc xác định nằm trong khối núi chính thuộc Nam Trƣờng Sơn và là khu vực ƣu tiên số một trong công tác bảo tồn (khu vực SA3). Với 91% diện tích của VQG Bidoup - Núi Bà là rừng và đất rừng, trong đó chủ yếu là rừng nguyên sinh với rất nhiều loài động - thực vật khác nhau. Trong số gần 1.500 loài thực vật có mặt ở VQG Bidoup - Núi Bà, đã thống kê đƣợc 62 loài quý hiếm thuộc 29 họ nằm trong cấp đánh giá về mức độ quý hiếm của sách Đỏ Việt Nam và danh lục IUCN nhƣ Thông đỏ (Taxus wallichiana), Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Pơ mu (Fokienia hodginsi)i, Thông năm lá Pinus dalatensis, Thông hai lá dẹt (Pinus krempfii). Riêng về các loài thực vật có tính đặc hữu hẹp, đã thống kê đƣợc 91 loài phân bố hẹp ở Lâm Đồng và các vùng phụ cận.
Có 28 loài đƣợc la tinh hoá nhƣ mẫu chuẩn gồm: dalatensis có 9 loài, langbianensis có 14 loài, bidoupensis có 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tại đây cũng đã phát hiện đƣợc rất nhiều loài động vật quý hiếm có tên trong sách đỏ nhƣ Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), Voọc vá chân đen (Pygathrix nigripes), Vƣợn đen má hung (Hylobates gabriellae), Gấu chó (Ursus malayanus), Gấu ngựa (Ursus thibetanus), Báo lửa (Catopuma temminckii), Voi (Elephas maximus), Sói lửa (Cuon alpinus), Bò tót (Bos gaurus), Trâu rừng (Bubalus arnee), Sơn dƣơng (Naemorhedus sumatraensis), Hổ (Panthera tigris). VQG Bidoup - Núi Bà còn đƣợc đánh giá là vƣơng quốc của các loài lan rừng Việt Nam với thống kê chƣa đầy đủ đã tới 250 loài. Tuy nhiên, tính đa dạng sinh học, sự phong phú và giá tri ̣của VQG Bidoup - Núi Bà đang đối m ặt với các đe do ̣a t ừ tự nhiên và con ngƣời.
Nhƣ̃ng lý do dẫn đế n áp lực lên thảm thực vật và hệ sinh thái rừng VQG Bidoup - Núi Bà là vi ệc khai thác tài nguyên không hợp lý (chặt phá, đốt nƣơng làm rẫy, khai thác đất trồng cà phê, mở các tuyến giao thông, các khu vực nuôi trồng thuỷ sản nƣớc lạnh…). Trong khi đó, bản thân các nhà quản lý, các nhà bảo tồn vẫn còn lúng túng trong đề xuất chính sách bảo tồn do còn thiếu những nghiên cứu, những điều tra cơ bản và cụ thể về đối tƣợng bảo tồn – đó là thiếu những nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc thảm thực vật, là sự phân hoá theo đai cao, theo hƣớng phơi sƣờn núi, theo chế độ thuỷ văn của đất rừng. Rõ ràng, những yếu tố này có vai trò quan trọng, nhiều khi mang tính quyết định đến sự phát sinh, phát triển, tái sinh của thảm thực vật rừng, trong đó có những loài quí hiếm, những loài đặc hữu, đặc hữu hẹp VQG Bidoup – Núi Bà. Vì lẽ đó nghiên cứu về đa dạng sinh học và đặc biệt là nghiên cứu cấu trúc, đặc trƣng sinh thái thảm thực vật rừng VQG Bidoup - Núi Bà là rất cần thiết, cung cấp các thông tin cơ bản, các giá trị khoa học làm cơ sở đánh giá một đầy đủ và khách quan mối quan hệ giữa các loài thực vật, giữa chúng với môi trƣờng dƣới những tác động của tự nhiên và con ngƣời nhằm đƣa ra những giải pháp bảo tồn, sử dụng hợp lý, bền vững nguồn tài nguyên và cảnh quan thiên nhiên đặc sắc không chỉ riêng khu vực Tây Nguyên mà còn của cả nƣớc.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc trưng sinh thái thảm thực vật Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà và đề xuất giải pháp bảo tồn”. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm về sinh thái thảm thực vật và quản lý tài nguyên rừng 1. Khái niệm thảm thực vật Thảm thực vật là một khái niệm chung cho đời sống thực vật, chƣa đề cập cụ thể đến đơn vị phân loại đặc biệt, các dạng sống, cấu trúc, phạm vi không gian, hoặc bất kỳ đặc điểm thực vật hoặc địa lý cụ thể khác.
Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định nghĩa kèm theo nhƣ: Thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn, thảm thực vật VQG Bidoup - Núi Bà. Theo quan điểm hệ sinh thái, thảm thực vật là tấm gƣơng phản ánh khách quan các điều kiện tự nhiên, nhân tác của môi trƣờng và là một thành phần quan trọng của sinh quyển. Chúng không những là yếu tố tự nhiên quan trọng của lớp vỏ địa lý mà còn chứa nhiều giá trị tài nguyên, cung cấp nguyên vật liệu đáp ứng nhu cầu sống của con ngƣời [26]. Vì vậy, những năm gần đây, bên cạnh các nghiên cứu cơ bản, thảm thực vật còn là đối tƣợng của các hƣớng nghiên cứu ứng dụng nhằm đề xuất các hƣớng sử dụng hợp lý, bền vững thảm thực vật, bảo tồn đa dạng sinh học và quy hoạch môi trƣờng.
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, con ngƣời đã biết phân loại loài cây này với loài cây khác, loài cỏ này với loài cỏ khác. Đồng thời cũng nhận thức đƣợc khu hệ thực vật bao gồm các loài cây, loài cỏ phân bố ở một phạm vi nhất định nào đó. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nƣớc về thảm thực vật và đƣa ra các khái niệm khác nhau. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Trần Đình Lý và cộng sự (1997): Thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thực vật ở trên toàn bộ bề mặt của trái đất [11].
Cũng theo Trần Đình Lý (2008): Sự khác nhau giữa thảm thực vật và rừng dựa trên sự có mặt của một lƣợng cây gỗ có chiều cao và độ lớn nhất định. Các thông số này đƣợc khái quát bằng tỷ lệ độ tán che của cây gỗ có chiều cao từ 5m trở lên so với đất rừng (k: Độ tán che ) k < 0,3 chƣa có rừng; k: 0,3 – 0,6 rừng thƣa; k > 0,6 rừng kín [12]. Khái niệm sinh thái học Theo nghĩa thông thƣờng, sinh thái học là khoa học về quan hệ của các sinh vật với môi trƣờng xung quanh chúng. Sinh thái học là một môn học của khoa học sinh vật, nghiên cứu sự phân bố, mật độ, chức năng của các sinh vật, sự tƣơng tác qua lại giữa các sinh vật với nhau và giữa các sinh vật với môi trƣờng vô cơ của chúng.
Đây là môn khoa học tƣơng đối trẻ so với khoa học vật lý và hóa học. Theo Odum (1971), sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu cấu trúc và chức năng của tự nhiên. Krebs (1978) định nghĩa sinh thái học là khoa học về những sự tƣơng tác ấn định sự phân bố và mật độ của các sinh vật. Mặc dù còn có nhiều định nghĩa khác nhau về sinh thái học, nhƣng chúng ta cần lƣu ý rằng: “Mục tiêu cơ bản của sinh thái học là nghiên cứu mối liên hệ qua lại giữa các sinh vật và giữa chúng với môi trường vô cơ”, [13; 14].
Các nhân tố sinh thái Ngƣời ta gọi nhân tố sinh thái là những thành phần bất kỳ nào của môi trƣờng có ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của các sinh vật, hoặc đến đặc tính của mối quan hệ giữa các sinh vật. Song theo mức độ tác động đến sinh vật, các nhân tố sinh thái có vai trò không nhƣ nhau. Vì thế, khi phân tích các nhân tố sinh thái, ngƣời ta thƣờng phân biệt chúng thành: (1) nhân tố sinh tồn, (2) nhân tố sinh thái chủ đạo, (3) nhân tố sinh thái giới hạn, (4) nhân tố sinh thái độc lập, (5) nhân tố sinh thái phụ thuộc… 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những nhân tố sinh thái tối cần thiết cho sự tồn tại của sinh vật đƣợc gọi là nhân tố sinh tồn. Ví dụ: Đối với thực vật, nhân tố sinh tồn là ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, CO2 và O2 không khí, chất khoáng của đất.
Nhân tố sinh thái chủ đạo là nhân tố sinh thái có ảnh hƣởng lớn nhất đối với đời sống sinh vật, hoặc sự biến đổi của nó kéo theo sự biến đổi của các nhân tố khác. Ví dụ: Trong điều kiện dƣới tán rừng, ánh sáng là nhân tố sinh thái chủ đạo, bởi vì sự thay đổi của nó kéo theo sự thay đổi của độ ẩm đất, quá trình khoáng hóa vật rụng, đặc tính đất… Nhân tố sinh thái giới hạn là nhân tố sinh thái nằm ở mức thấp hơn hoặc cao hơn tính chống chịu của sinh vật/hoặc khi nó vắng mặt. Nhân tố sinh thái độc lập là nhân tố mà đặc tính và sự biến đổi của nó là độc lập với quần xã sinh vật. Ví dụ: Địa hình, chế độ ánh sáng và mƣa ở mặt trên tán rừng là những nhân tố sinh thái độc lập, bởi vì sự biến đổi của chúng là độc lập với quần xã sinh vật rừng.