Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về mức độ đa dạng tài nguyên sinh vật, sở hữu khoảng 10% tổng số loài sinh vật được ghi nhận trên toàn cầu, với hệ sinh thái rừng đặc dụng gồm 164 khu bảo tồn bao phủ hơn 2.744.000 ha tính đến năm 2014. Nằm ở trung tâm tỉnh Đắk Nông thuộc khu vực Nam Tây Nguyên, Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung giữ vai trò phòng hộ đầu nguồn đặc biệt xung yếu cho hệ thống thủy điện và sản xuất nông nghiệp trên lưu vực sông Ea Krông Nô - sông Sêrêpốk. Tuy nhiên, trước sức ép từ tình trạng khai thác lâm sản trái phép, biến đổi khí hậu và tập quán canh tác nông nghiệp xâm lấn tại vùng đệm, nguồn tài nguyên thực vật quý giá nơi đây đang đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là điều tra toàn diện hiện trạng đa dạng sinh học hệ thực vật, đánh giá cấu trúc lâm học của các thảm thực vật rừng theo đai cao từ 500 m đến đỉnh Nam Jer Bri 1.580 m, đồng thời xác lập danh mục và bản đồ phân bố của 75 loài thực vật quý hiếm. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ diện tích 21.850,27 ha của Khu bảo tồn và 9.307 ha vùng đệm thuộc địa bàn các huyện Krông Nô, Đắk Glong và Đắk Song trong giai đoạn 2011 - 2016. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng chuẩn xác về 881 loài thực vật bậc cao có mạch, mật độ tầng cây tái sinh đạt 5.600 cây/ha và độ tàn che rừng dao động từ 0,7 đến 0,9. Đây là căn cứ khoa học trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch phân khu chức năng, xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và thiết lập chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng hiệu quả cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng thuyết "Sinh vật địa quần lạc" của V. Sukachev kết hợp lý thuyết "Hệ sinh thái rừng nhiệt đới" của Arthur Tansley, làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố đất đai feralit phát triển trên đá bazan, chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên và tổ thành loài thực vật. Đề tài vận dụng học thuyết phân loại thảm thực vật của Giáo sư Thái Văn Trừng (1978, 1998) dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể, kết hợp nguyên lý cấu trúc ngoại mạo thảm thực vật của UNESCO (1973). Hệ thống phân loại taxon thực vật bậc cao có mạch được chuẩn hóa theo hệ thống phát sinh chủng loại của Armen Takhtadjan (1973), tích hợp tiêu chí đánh giá mức độ bị đe dọa của Sách Đỏ Việt Nam (2007) và 8 cấp phân hạng nguy cấp của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế IUCN (1994). Ba khái niệm cốt lõi định hình khung phân tích gồm: đa dạng sinh học 3 cấp độ (nguồn gen, loài, hệ sinh thái), thảm thực vật rừng và hệ thực vật cụ thể theo quy luật phân bố địa lý sinh vật của A. Tolmachev (1974).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của công trình được tổng hợp từ các đợt khảo sát thực địa chuyên sâu kết hợp kế thừa có chọn lọc các báo cáo kiểm kê tài nguyên của Viện Điều tra Quy hoạch Rừng và Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên VCF. Phương pháp chọn mẫu được tiến hành theo quy trình điều tra tuyến điển hình kết hợp thiết lập ô tiêu chuẩn (OTC) cố định. Tổng chiều dài của 8 tuyến điều tra thực địa đạt 98 km, cắt ngang các dải địa hình chia cắt phức tạp từ thung lũng 500 m đến đỉnh núi cao 1.580 m. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 30 ô tiêu chuẩn điển hình với diện tích 2.000 m2 mỗi ô (kích thước 40 m x 50 m), nâng tổng diện tích điều tra chuyên sâu lên 60.000 m2 phân bố đồng đều tại các trạng thái rừng IIIA1, IIIA2, IIIA3, IVA và IIB.

Lý do lựa chọn phương pháp ô tiêu chuẩn 2.000 m2 kết hợp 5 ô dạng bản 25 m2 ở bốn góc và tâm ô là nhằm đảm bảo thu thập đầy đủ chỉ số sinh trắc học của tầng cây gỗ lớn (đường kính ngang ngực D1.3 ≥ 6 cm) cũng như định lượng chính xác tầng cây tái sinh, cây bụi và thảm tươi. Số liệu ngoại nghiệp được phân tích thống kê toán học, tính toán công thức tổ thành theo tỷ lệ phần trăm số cây Ki = 100 x (Ni / N) và biên tập bản đồ số hóa bằng phần mềm MapInfo 11.5 trong khung thời gian nghiên cứu hoàn thành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, khu hệ thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung có mức độ đa dạng loài rất cao với 881 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 541 chi và 175 họ của 6 ngành thực vật. Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) giữ vai trò thống trị tuyệt đối với 799 loài (chiếm 90,69% tổng số loài), trong đó lớp Ngọc lan có 645 loài và lớp Hành có 154 loài. Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) xếp thứ hai với 66 loài (chiếm 7,49%), ngành Hạt trần (Pinophyta) có 10 loài (chiếm 1,14%), các ngành còn lại gồm Thông đất, Mộc tặc và Khuyết lá thông chiếm tỷ lệ dưới 1%.

Thứ hai, cấu trúc thảm thực vật có sự phân hóa rõ nét theo hai kiểu rừng chính dựa trên đai độ cao. Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phân bố ở độ cao dưới 1.000 m chiếm gần 70% diện tích, bao gồm 6 trạng thái phục hồi sau khai thác. Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp phân bố ở độ cao từ 1.000 m đến 1.580 m, được chia thành hai kiểu phụ: kiểu phụ cây lá rộng và kiểu phụ cây lá rộng xen cây lá kim với sự hiện diện đặc trưng của loài Thông nàng (Podocarpus imbricatus).

Thứ ba, các chỉ số cấu trúc lâm học phản ánh tiềm năng phục hồi tự nhiên mạnh mẽ. Tầng tán cây gỗ lớn duy trì mật độ bình quân từ 500 đến 1.000 cây/ha, độ tàn che đạt mức cao từ 0,7 đến 0,9 và mật độ cây tái sinh đạt 5.600 cây/ha. Chiều cao vút ngọn trung bình của tầng tán A1 đạt 20 - 25 m với đường kính thân 30 - 40 cm.

Thứ tư, nghiên cứu đã thống kê được 75 loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng được ghi danh trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN. Các loài gỗ quý nhóm IA và IIA như Cẩm lai, Giáng hương, Gõ mật, Gõ đỏ, Sao đen cùng các loài dược liệu quý như Hoàng đằng, Vàng đắng, Bình vôi đều ghi nhận tình trạng suy giảm nghiêm trọng về số lượng cá thể thành thục.

Thảo luận kết quả

Sự biến đổi sâu sắc trong cấu trúc rừng tại Nam Nung bắt nguồn từ lịch sử khai thác chọn kiệt của các lâm trường trước đây, kết hợp với áp lực canh tác nương rẫy, trồng cà phê và cao su của hàng ngàn cư dân vùng đệm 9.307 ha. Tại đai nhiệt đới dưới 1.000 m, rừng nguyên sinh nguyên vẹn không còn tồn tại, thay vào đó là sự bùng nổ của các loài cây tiên phong ưa sáng như Rè vàng, Kháo cuống đỏ, Thành ngạnh, Ba soi và thảm cỏ tranh, le, lồ ô.

So với các vùng sinh thái khác ở Tây Nguyên, hệ thực vật Nam Nung có sự tương đồng lớn về ưu thế của họ Dầu (Dipterocarpaceae) và họ Dẻ (Fagaceae), nhưng lại sở hữu nét sinh thái độc bản: hoàn toàn vắng bóng loài Thông ba lá (Pinus kesiya) dù địa hình có độ cao trên 1.000 m. Toàn bộ cơ cấu phân bố taxon và các thông số lâm học có thể được trực quan hóa thông qua bảng cấu trúc tổ thành loài theo đai cao, biểu đồ cột so sánh mật độ cá thể ưu thế và bản đồ không gian GIS tích hợp định vị các quần thể thực vật nguy cấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết lập ranh giới và tăng cường năng lực quản lý bảo vệ nghiêm ngặt toàn bộ 21.850,27 ha diện tích Khu bảo tồn. Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung cần chủ trì triển khai hệ thống tuần tra thông minh ứng dụng máy định vị GPS và ảnh vệ tinh, đặt mục tiêu ngăn chặn 100% các vụ vi phạm chặt phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp tại các tiểu khu 1309, 1314, 1315 và 1609 trong giai đoạn 2026 - 2028.

Thứ hai, triển khai giải pháp kỹ thuật lâm sinh khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung làm giàu rừng. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông cần phối hợp với các tổ chức khoa học phục hồi 100% diện tích rừng nghèo kiệt (trạng thái IIIA1, IIB), nâng độ che phủ rừng duy trì ổn định trên 98% và tăng trữ lượng gỗ bình quân từ 100 - 200 m3/ha lên trên 250 m3/ha trong khung thời gian 2026 - 2030.

Thứ ba, xây dựng chương trình phát triển sinh kế bền vững và đẩy mạnh chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tại vùng đệm 9.307 ha. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần tổ chức giao khoán bảo vệ rừng gắn với chi trả tiền DVMTR lưu vực sông Krông Nô cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hỗ trợ kỹ thuật thâm canh cà phê và bời lời nhằm giảm 80% áp lực khai thác lâm sản ngoài gỗ trái phép trước năm 2028.

Thứ tư, thực hiện đề án bảo tồn nguyên vị (In-situ) và nhân giống bảo tồn chuyển vị (Ex-situ) đối với 75 loài thực vật nguy cấp. Các cơ sở nghiên cứu lâm nghiệp cần hợp tác xây dựng vườn ươm giống bản địa, tiến hành nhân giống và tái di thực tối thiểu 2.000 cá thể cây gỗ quý (Cẩm lai, Giáng hương, Du sam núi đất) vào sinh cảnh tự nhiên mỗi năm, hoàn thành mạng lưới ô định vị giám sát đa dạng sinh học vào năm 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu là tài liệu chuyên khảo giá trị cho các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm và Ban Quản lý rừng đặc dụng trong việc hoạch định chính sách lâm nghiệp, xây dựng đề án quy hoạch phân khu bảo tồn và phân bổ ngân sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Công trình cung cấp khung phương pháp luận điều tra thực địa, phân tích tổ thành và xử lý dữ liệu ô tiêu chuẩn (OTC) chuẩn mực cho giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Sinh thái học tại các trường đại học khối nông lâm.

Tài liệu là cơ sở dữ liệu thực chứng quan trọng giúp các tổ chức phi chính phủ và quỹ tài trợ quốc tế (như WWF, IUCN, FFI) thẩm định hiện trạng sinh cảnh, thiết kế các chương trình bảo tồn nguồn gen nguy cấp và phát triển mạng lưới hành lang đa dạng sinh học vùng Tây Nguyên.

Nghiên cứu mang lại nguồn thông tin hữu ích cho các doanh nghiệp du lịch sinh thái và hợp tác xã dược liệu trong việc định hướng khai thác cảnh quan (như tuyến thác Bảy Tầng, thác Gấu) và phát triển các mô hình trồng cây thuốc dưới tán rừng mà không gây tác động tiêu cực đến cấu trúc hệ sinh thái nguyên bản.

Câu hỏi thường gặp

Khu hệ thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung có quy mô và cấu trúc phân loại như thế nào? Hệ thực vật Nam Nung ghi nhận tổng cộng 881 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 541 chi và 175 họ của 6 ngành. Trong đó, ngành Ngọc lan chiếm ưu thế lớn nhất với 799 loài, tiếp đến là ngành Dương xỉ với 66 loài, ngành Hạt trần có 10 loài, khẳng định tính phong phú sinh học vượt trội của khu vực Tây Nguyên.

Vì sao kiểu rừng nhiệt đới dưới độ cao 1.000 m tại Nam Nung không còn trạng thái nguyên sinh nguyên vẹn? Toàn bộ diện tích rừng dưới 1.000 m đã trải qua quá trình khai thác gỗ chọn kiệt của các lâm trường trong lịch sử kết hợp với tập quán đốt nương làm rẫy của cư dân địa phương. Điều này làm biến đổi cấu trúc tầng tán nguyên thủy, hình thành các trạng thái rừng thứ sinh phục hồi với sự gia tăng mạnh của cây ưa sáng.

Khả năng tự phục hồi của hệ sinh thái rừng Nam Nung được chứng minh qua những thông số lâm học nào? Kết quả điều tra thực nghiệm tại 30 ô tiêu chuẩn cho thấy rừng có độ tàn che cao đạt từ 0,7 đến 0,9, mật độ cây gỗ lớn đạt 500 - 1.000 cây/ha và đặc biệt mật độ cây tái sinh tự nhiên đạt 5.600 cây/ha. Đây là cơ sở sinh thái vững chắc bảo đảm rừng có khả năng tự phục hồi mà không cần can thiệp nhân tạo phức tạp.

Nghiên cứu đã ghi nhận bao nhiêu loài thực vật quý hiếm cần được ưu tiên bảo tồn? Luận văn đã thống kê chính xác 75 loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng thuộc Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ thế giới IUCN. Tiêu biểu gồm các loài gỗ quý nhóm IA, IIA như Cẩm lai, Giáng hương, Gõ đỏ, Sao đen cùng các loài dược liệu giá trị như Vàng đắng, Hoàng đằng, Đẳng sâm và Lan kim tuyến.

Thảm thực vật rừng tại Nam Nung được phân chia thành những kiểu chính nào theo độ cao? Thảm thực vật được phân thành hai kiểu sinh thái chính: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phân bố ở độ cao dưới 1.000 m (chiếm gần 70% diện tích) và kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp phân bố ở đai cao từ 1.000 m đến 1.580 m (gồm kiểu phụ cây lá rộng và kiểu phụ hỗn giao lá rộng - lá kim).

Kết luận

  • Luận văn đã kiểm kê và xác lập danh lục đầy đủ 881 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 541 chi, 175 họ của 6 ngành thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung.
  • Làm rõ cấu trúc phân tầng và quy luật phân bố của hai kiểu rừng nhiệt đới và á nhiệt đới núi thấp theo đai cao địa hình từ 500 m đến 1.580 m.
  • Xác định hiện trạng phân bố và mức độ đe dọa của 75 loài thực vật quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN.
  • Đánh giá định lượng tiềm năng lâm sinh với mật độ tái sinh tự nhiên đạt 5.600 cây/ha và độ tàn che đạt 0,7 - 0,9 trên diện tích rừng chiếm 95% Khu bảo tồn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp bảo tồn nghiêm ngặt, khoanh nuôi phục hồi, sinh kế vùng đệm 9.307 ha và chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cơ sở dữ liệu thực vật học định lượng và bản đồ số hóa hiện trạng tài nguyên rừng chuẩn xác cho tỉnh Đắk Nông. Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi các cơ quan chức năng hoàn thiện việc phân định ranh giới chức năng giai đoạn 2026 - 2030 và thiết lập chu kỳ giám sát đa dạng sinh học 3 năm một lần. Các nhà hoạch định chính sách, tổ chức bảo tồn và cộng đồng khoa học hãy cùng chung tay bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá, biến Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung thành trung tâm bảo tồn nguồn gen mẫu mực của vùng Tây Nguyên.