MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Côn trùng chiếm một vị trí quan trọng số một trong đa dạng sinh học và cân bằng của một hệ sinh thái. Côn trùng là lớp động vật có nhiều loài lớn nhất, có số loài và số cá thế từng loài nhiều, phân bố rộng và chiếm khoảng 1/3 tổng số loài sinh vật trên hành tinh.Theo số liệu điều tra từ năm 1999 – 2006 của IUCN: Côn trùng trên thế giới có số loài đã được mô tả là 950.000 loài, chiếm 76,06% tổng số loài động vật và 60,79 % tổng số các loài động thực vật, có 1192 loài đã được đánh giá, trong đó có 623 loài bị đe dọa (Wikipedia, 2007). Côn trùng có khả năng thích nghi với nhiều loại môi trường sống, với sự đa dạng cả về thành phần cá thể cũng như số lượng loài, côn trùng phân bố rộng khắp trên thế giới tác động vào mọi hoạt động quá trình sống trên trái đất, trong đó có cả đời sống của con người.
từ trước đến nay có rất nhiều nghiên cứu về côn trùng, tuy vậy chúng ta vẫn cần có nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa về đề tài côn trùng này. Nhằm xây dựng một cách chi tiết hơn nữa về hệ thống côn trùng. Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Căng Chải được thành lập theo Quyết định số 513/QĐ-UB ngày 09/10/2006 của Ủy bạn nhân dân tỉnh Yên Bái với diện tích 20.108,2 ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 15.128 ha, diện tích phân khu phục hồi tái sinh là 4. Khu Bảo tồn nằm trên địa bàn của 5 xã, trong đó có xã Chế Tạo nằm trong vùng lõi , vùng đệm trải rộng trên các xã púng luông ,Nậm Khăn, Lao Chải và Dê Su Phình.
Thảm thực vật trong Khu bảo tồn chủ yếu là các loài cây lá rộng thường xanh và cây lá kim như: pơ mu, thông tre. Đặc biệt trên phần đỉnh núi phía đông có một thung lũng rộng gần 1km2, rất bằng phẳng kiểu rừng hỗn giao lá rộng, lá kim á nhiệt c 2 đới với một số loài cây ưu thế như: thiết sam, bông sứ, re hương, sồi Lào có đường kính 2 - 3m. KBT loài và sinh cảnh Mù Cang Chải có tính đa dạng và đặc hữu cao về thực vật. Qua kết quả 3 đợt điều tra của Tổ chức bảo tồn động thực vật quốc tế (FFI), bước đầu đã thống kê được ở đây có 788 loài thực vật bậc cao, trong đó có 33 loài thuộc diện quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam và thế giới; động vật có 241 loài, trong đó có 54 loài thú, 132 loài chim, 26 loài bò sát, 26 loài lưỡng thể, đáng chú ý có 42 loài quý hiếm cho Việt Nam và 28 loài ở mức độ bị đe dọa toàn cầu, đặc biệt là 4 loài: diệc cổ hung, gà lôi tía, vượn đen, voọc xám.
Có rất nhiều nghiên cứu tại khu bảo tồn nhưng chủ yếu nghiên cứu hiện trạng các loài thực vật quý hiếm rừng nguy cấp, quý hiếm; nghiên cứu tính đa dạng thực vật có mạch hoặc các nghiên cứu về động vật. Nghiên cứu về côn trùng chưa được quan tâm dẫn đến số liệu về đa dạng côn trùng trong khu bảo tồn còn chưa đáp ứng được nhu cầu trong đời sống người dân cũng trong công tác bảo tồn. Vì vậy, tôi đề xuất đề tài “ Đa dạng sinh học côn trùng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái” để thực hiện điều tra thành phần các loài côn trùng, sự phân bố của các loài côn trùng và đề xuất một số giải pháp quản lý các loài côn trùng tại khu bảo tồn nhằm góp phần quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học côn trùng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục đích Đánh giá sự đa dạng phong phú về thành phần, góp phần quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học côn trùng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái. Mục tiêu Xác định được thành phần và phân bố của một số bộ côn trùng tại khu vực nghiên cứu. Đặc điểm nhận dạng của một số loại côn trùng tại khu vực nghiên cứu. Đề xuất một số giải pháp quản lý các loại côn trùng tại khu bảo tồn.
Ý nghĩa đề tài Nghiên cứu được thực hiện với mong muốn làm rõ sự đã dạng về thành phần hệ côn trùng của một số bộ côn trùng cũng như góp phần nào đó hoàn thiện cơ sở khoa học cho việc quản lý bảo tồn và sử dụng bền vững các loại côn trùng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái. Ý nghĩa trong học tập Áp dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn, vận dụng tốt các kĩ năng đã học. Biết cách sử dụng các biện pháp phương pháp điều tra điều tra trong nghiên cứu một đề tài. Biết cách thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như các kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng.
Ý nghĩa thực tiễn Bổ sung các dẫn liệu khoa học về sự đa dạng sinh học của các loài Côn trùng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cho địa phương hoạch định các chính sách, phương pháp/giải pháp quản lý đa dạng sinh học trong khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải. c 4 Phần II: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Côn trùng có vai trò rất quan trọng với môi trường, hệ sinh thái cũng như các hoạt động trong đời sống của con người, côn trùng có thể gây ảnh hưởng tới nông lâm nghiệp theo hai hướng cả tích cực và tiêu cực, chúng có thể phá hại mùa màng, cây trồng ảnh hưởng đến chất lượng nông lâm sản.
Tuy nhiên không phải tất cả côn trùng đều gây hại đến con người rất nhiều loại trong số chúng có vai trò quan trọng trong việc thụ phấn làm tăng sản lượng nông lâm sản, một só loại còn tiêu diệt các loại côn trùng gây hại khác. Vì thế con người đã tiến hành nghiên cứu đặc tính sinh học, sinh thái của các loài côn trùng nhằm nắm được đặc điểm hình thái và tập tính sống của mỗi loài côn trùng. Qua các nghiên cứu chúng ta đã biết côn trùng là lớp phong phú và đa dạng nhất trong thế giới động vật, trong số hơn 1,2 triệu loài động vật mà con người biết đến thì côn trùng đã có đến hơn 1 triệu loài và chiếm 1/2 tổng số các loài sinh vật cư ngụ trên hành tinh. Côn trùng phân bố khắp nơi trên trái đất ở những điều kiện vô cùng khắc nhiệt mà các loài khác không thể sinh sống được, có thể tìm thấy côn trùng trong không khí ở độ cao 15km, trong những tảng băng lạnh ở vùng Bắc cực, ở trong nước, trong đất, trong các rễ cây, thân cây, lá cây.
Các nghiên cứu đã chỉ ra các đặc điểm hình thái khác nhau của côn trùng là cơ sở để nhận biết, phân loại côn trùng giúp cho công tác điều tra chính xác và đề xuất biện pháp phòng trừ chúng một cách hiệu quả. Các nghiên cứu cũng chỉ ra được tuỳ theo điều kiện sống mà cơ thể côn trùng có sự thay đổi để thích nghi vì vậy lớp côn trùng được phân ra làm nhiều bộ, họ, chi, loài, loài chính, loài phụ. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Côn trùng đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển.
Trong một cuốn sách cổ của Xêri viết vào năm 3000 TCN đã nói tới những cuộc bay khổng lồ và sự phá hại rất lớn của những đàn châu chấu sa mạc. Trong các tác phẩm nghiên cứu của ông nhà triết học Hy Lạp Aristoteles (384 – 322 TCN) đã hệ thống hóa được hơn 60 loài động vật chân có đốt (Cedric Gillot , 1982). Nhà tự nhiên học vĩ đại người Thụy Điển Carl von Linné được coi là người đầu tiên đã đưa ra đơn vị phân loại và đã tập hợp xây dựng một bảng phân loại về động vật và thực vật trong đó có côn trùng. Sách phân loại thiên nhiên của ông đã xuất bản tới 10 lần.
Liên tiếp các thế kỉ sau như thế kỉ XIX có Lamarck, thế kỷ XX có Handlirick, Krepton 1904, Ma–tư–nốp 1928 , Weber 1938 tiếp tục đưa ra những bảng phân loại Côn trùng của họ. Ở Trung Quốc môn học Côn trùng lâm nghiệp đã được chính thức giảng dạy trong các trường Đại học Lâm nghiệp từ năm 1952 , từ đó việc nghiên cứu về Côn trùng được đẩy mạnh. Năm 1959, Trương Chấp Trung đã cho ra đời cuốn “ Sâm lâm Côn trùng học “ liên tiếp từ năm 1965 giáo trình “ Sâm lâm Côn trùng học “ được viết lại nhiều lần. Trong các tác phẩm đó giới thiệu hình thái ,tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều bọ lá phá hoại nhiều loài cây rừng.
Năm 1987 Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm đã xuất bản cuốn “Côn trùng rừng Vân Nam đã xây dựng một bảng điều tra của ba họ phụ của họ Bọ lá (Chrysomelidae) cụ thể họ phụChrysomelidae đã giới thiệu 35 loài, họ phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loại và họ phụ Galirucinae đã giới thệu 93 loài. Công trình nghiên cứu liên quan đến côn trùng. c 6 Năm 1987 Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm đã xuất bản cuốn “Côn trùng rừng Vân Nam đã xây dựng một bảng điều tra của ba họ phụ của họ Bọ lá (Chrysomelidae) cụ thể họ phụ Chrysomelidae đã giới thiệu 35 loài, họ phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loại và họ phụ Galirucinae đã giới thệu 93 loài. Tình hình nghiên cứu trong nước Năm 1897 , đoàn nghiên cứu tổng hợp người Pháp tên là “ Mission Parie” đã điều tra Côn trùng Đông Dương, đến năm 1904 kết quả đã được phân bố.
Về Côn trùng đã phát hiện được 1020 loài trong đó có 541 loài thuộc Bộ Cánh cứng, 168 loài Chuồn chuồn, 59 loài mối, 55 loài Bộ Cánh màng, 9 loài Bộ 2 cánh và 49 loài thuộc các bộ khác. Các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thế Nhã (2000), Đào Xuân Trường (2000 – 2001) về sâu ăn lá Keo tai tượng, Keo lá tràm thực hiện ở khu vực phía Bắc Việt Nam. Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu: Phương pháp điều tra quan sát trực tiếp, xác định các địa bàn có sâu, diện tích có sâu, mức độ sâu hại lá và thiên địch hại tại rừng trồng trên phạm vi toàn huyện.