MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên có hệ thực vật phong phú và đa dạng.Hiện nay, hệ thực vật Việt Nam đã thống kê có hơn 16.000 loài thực vật. Trong đó, gần 1/3 số loài đƣợc con ngƣời dùng để sử dụng trong đời sống hàng ngày [32]. Họ Long não (Lauraceae) trên thế giới là một họ lớn trong ngành Ngọc lan có khoảng 55 chi và trên 2.
Ở Việt Nam, họ Long não có khoảng 21 chi và 270 loài [11]. Các loài trong họ Long não có nhiều giá trị sử dụng khác nhau nhƣ làm thuốc, lấy gỗ, cho tinh dầu, cho gia vị,. Trong đó, một số loài chủ yếu là Quế thanh (Cinnamomum cassia), Re hƣơng (C. camphora), Màng tang (Litsea cubeba), … Vƣờn quốc gia (VQG) Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh, nằm ở dãy Bắc Trƣờng Sơn đƣợc đánh giá là vùng có tính đa dạng sinh học cao.
Tuy nhiên, nghiên cứu về các taxon thực vật bậc họ chƣa đƣợc quan tâm nhiều. Một số công trình nghiên cứu tại khu vực này chủ yếu theo hƣớng nghiên cứu sự đa dạng thực vật của các taxon bậc cao nhƣ lớp, ngành của tác giả Đỗ Ngọc Đài và cs (2012) [], Nguyễn Thị Thanh Nga (2011) [20], Lê Thị Hƣơng và cs (2015) [16],. Để tiếp tục góp phần vào việc nghiên cứu tính đa dạng và giá trị về hệ thực vật ở Vƣờn Quốc giaVũ Quang, Hà Tĩnh, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng họ Long não (Lauraceae) ở Vườn Quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh” nhằm góp phần cung cấp thêm dẫn liệu về họ thực vật này tại khu vực nghiên cứu. Mục tiêu Xác định và đánh giá đƣợc tính đa dạng về thành phần loài, yếu tố địa lý, dạng sống, giá trị sử dụng và bảo tồn của các loài trong họ Long nãoở Vƣờn Quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nghiên cứu về họ Long não (Lauraceae) 1. Trên thế giới Họ Long não (Lauraceae) trên thế giới có khoảng 50 chi với 2.000 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Châu á và châu Mỹ. Đây là một trong những họ đại diện cho rừng mƣa nhiệt đới nên ít gặp các đại diện ở châu Phi và châu Âu.
Các chi của họ ở Châu úc ít nhƣng số loài lại tập trung ở một số chiCasytha, Endiandra. Ở Việt Nam, họ Long não hiện biết có 21 chi, 270 loài, 29 thứ và 2 dạng phân bố giảm dần từ Bắc xuống Nam. Một số chi (Potameia, Cinnadenia, Caryodaphnopsis, Endiandra) ít gặp ở phía Nam [32]. Đây là một họ có giá trị thực tiễn lớn, nhiều loài cho gỗ lớn, tốt đƣợc sử dụng trong xây dựng ở các chi: Re, Kháo, Chắp, Nô, Bời lời.
Nhiều loài đƣợc sử dụng làm thuốc, cho tinh dầu, dầu béo dùng trong công nghệ định hƣơng, công nghệ xà phòng, thực phẩm, cho quả ăn đƣợc (Bơ). Nhiều loài đƣợc sử dụng trồng rừng nhằm cải tạo môi trƣờng. Ngay từ đầu thế kỷ 18, họ Long não đã đƣợc Linneaus (1753) đặt tên cho 2 chi: Chi Laurus với 11 loài đƣợc xếp vào nhóm 9 nhị và 1 nhuỵ (Enneandriamonogyria), chi Cassytha với 1 loài xếp trong nhóm 3 nhị và 1 nhuỵ cùng với các chi trong các họ khác có chung đặc điểm này. Sắp xếp theo kiểu của Linneaus cũng còn một số tác giả khác nhƣ Adanson (1763), Loureiro (1790).
Jussieu (1789) chính thức thành lập họ Long não (Lauraceae) lấy từ tên chi Laurus L. từ đây các taxon của họ Long não mới đƣợc sắp xếp theo trật tự nhất định. Sau khi họ Long não đƣợc thành lập, có nhiều hệ thống phân loại về họ này xuất hiện, song thƣờng theo 2 kiểu chính là: Kiểu thứ nhất: họ đƣợc chia thành các tông (tribus), từ tông đến các phân tông (subtribus) và đến các chi. Tiêu biểu cho cách phân chia này là các tác giả Nees (1836), Baillon (1870), Bentham và Hooker (1880-1886), Hutchinson (1964).
Trong các hệ thống phân chia theo kiểu trên, hệ thống Bentham và Hooker (1880-1886) đƣợc thịnh hành 3 rất lâu. Họ Long não ở ấn Độ (1880). Ở Việt Nam (1913) sắp xếp theo hệ thống này. Kiểu phân chia thứ 2: họ đƣợc chia thành các phân họ (subfam.) đến tông (tribus), phân tông (subtribus) và đến các chi.
Tiêu biểu cho cách phân chia này là Meisner (1864) với 3 phân họ: Lauroideae, Gyrocarpoideae và Casythoideae. Sau đó là các hệ thống của Mez (1889) gồm 2 phân họ Lauroideae và Casythoideae, phân họ Gyrocarpoideae không còn trong hệ thống này và đã chuyển thành họ Gyrocarpaceae. Đặc biệt phải kể đến hệ thống của Kostermans (1957) đã phân chia họ Lauraceae thành 2 phân họ Lauroideae và Casythoideae với 6 tông và 8 phân tông. Sau khi xem xét các hệ thống phân loại chúng tôi cho rằng hệ thống của Kostermans (1957) lá tƣơng đối phù hợp nên chúng tôi chọn hệ thống này cho việc sắp xếp các taxon của họ Lauraceae ở Việt Nam [11].
Họ Long não (Lauraceae) đã đƣợc nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm bởi tính đa dạng, phong phú của nó. Ngƣời đầu tiên nghiên cứu về taxon này là Jussieu (1789-1824). Tiếp theo đã có nhiều công trình nghiên cứu và công bố về các loài họ Long não (Lauraceae)trong các bộ sách Thực vật chí Ấn Độ với 16 chi và 250 loài, Trung Quốc có 18 chi và 500 loài, Malaixia 12 chi và 200 loài, Đông Dƣơng có 12 chi và 50 loài,.Họ Long não trên thế giới có khoảng 55 chi và trên 2.500 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á và Braxin [32]. Ở Việt Nam Nghiên cứu về họ Long não ở Việt Nam có các công trình của Loureiro J.
Nghiên cứu đầy đủ nhất về họ Long não là công trình của Nguyễn Kim Đào (2003). Tác giả đã nghiên cứu về đa dạng và 4 phân bố của các loài trong họ Lauraceae ở các khu vực khác nhau trên cả nƣớc. Kết quả đƣợc tổng hợp và giới thiệu trong Danh lục các loài thực vật Việt Nam với 265 loài thuộc 21 chi [11], [12]. Ngoài ra còn có một số công trình nghiên công bố trong các bảng danh lục thực vật của các VQG, khu BTTN ở các khu vực khác nhau trên cả nƣớc nhƣ: Hoàng Liên, Xuân Sơn, Ba Vì, Bến En, Xuân Liên, Pù Luông, Pù Mát, Vũ Quang, Bạch Mã,.
Năm 2016, Phạm Hồng Ban và cộng sự đã công bố họ Long não ở Thanh Chƣơng với 11 chi và 48 loài đƣợc xác định [1]. Gần đây, Đỗ Ngọc Đài và cs (2017), khi nghiên cứu họ Long não ở VQG Pù Mát đã xác định đƣợc 13 chi và 90 loài [9]. Phạm Hồng Ban và Nguyễn Anh Dũng khi nghiên cứu họ Long não ở Khu BTTN Pù Hoạt xác định đƣợc [2]. Đậu Bá Thìn và cộng sự (2018), công bố họ Long não ở VQG Bến En với 13 chi và 57 loài [23].
Năm 2018, Lê Thị Thủy và cs khi nghiên cứu họ Long não ở Khu BTTN Xuân Liên, công bố với 65 loài [29]. Theo Nguyễn Thị Kim Đào (2017) [11] thì họ Long não (Lauraceae) có những đặc điểm sau: - Dạng sống: Các chi thuộc họ này thƣờng gặp là những cây gỗ lớn (Cinnamomum parthenoxylon), gỗ trung bình hay gỗ nhỏ (Lindera aggregata), có khi là cây bụi (L. viridis), ít khi là dây leo ký sinh (chi Cassytha). Cây thƣờng sống lâu năm.
- Dạng thân: Thân gỗ, hiếm khi thân bò (chỉ có 2 loài Cassytha capillaris, C. filiformis), thƣờng có thân tròn, rất hiếm khi gặp thân vuông hay có cạnh. Cây có thể phân cành nhiều hay ít. Nhánh và cành non thƣờng tròn, không có lông, một số có lông (L.
glutinosa), hay có cạnh (Endiandra firma). Lông bao phủ thƣờng là màu nâu xám, sôcôla, hoặc lông mịn lúc non. Cành non màu xanh, thƣờng có chồi ngủ đông. Trong thân có tế bào tiết dầu thơm, vì thế vỏ thƣờng có mùi thơm.
- Lá: Thƣờng gặp là lá đơn nguyên, mọc cách, ít khi mọc đối, kích thƣớc lớn nhỏ khác nhau, có nhiều hình dạng nhƣ hình bầu dục tròn dài (C. 5 magnificum), bầu dục dài (Persea mollis) hay thon hẹp (Beilschmiedia poilanei, L. elongata); gốc lá chót buồm hay hình tròn hoặc nhọn; chóp lá có thể nhọn hay tù hay dạng kéo dài; lá thƣờng chụm ở chót nhánh, mép lá nguyên; gân lá hình lông chim (L.umbellata) hay có 3 gân chính từ gốc giống nhƣ gân hình cung (C. sericans) hay hệ gân đơn giản; lá nhẵn hay chỉ có lông ở một mặt hoặc có lông ở cả 2 mặt, thƣờng có màu nâu; không có lá kèm; lá có tế bào tiết dầu thơm.
- Cụmhoa: Hoa nhỏ mọc thành cụm, hình chùy hay hình xim, tán giả ở đầu cành hay ở nách lá (C. Hoa thƣờng hƣớng lên ngọn. - Hoa: Thƣờng gặp là hoa đều, mẫu 3, lƣỡng tính, có khi đơn tính. Bao hoa 6 mảnh, xếp 2 vòng (P 3+3).
Nhị 9 xếp 3 vòng (A 3+3+3), đôi khi có thêm 1 vòng nhị lép ở gốc chỉ nhị, nhị thƣờng mang 2 túi mật. Bao phấn 2-4 ô, mở bằng lỗ nắp đậy. Bộ nhụy thƣờng có một lá noãn (đôi khi 3 dính lại) tạo thành bầu 1 ô (G-1). - Quả: Thuộc loại quả hạch hay quả mọng, thƣờng có đài dính liền phát triển thành dạng đấu dƣới quả, hay đế hoa lớn bao quanh lấy quả trông nhƣ bầu dƣới; quả thƣờng không lông, xoan hoặc tròn.
Nhiều loài trong họ Long não có giá trị, đƣợc khai thác và sử dụng vào các mục đích khác nhau, có thể nhóm chúng vào các nhóm công dụng nhƣ: - Nhóm cây làm thuốc: Quế thanh (Cinnamomum cassia), Quế rừng (C. iners), Bộp lá xoan ngƣợc (Actinodaphne obovata), Bời lời chanh (Litsea cubeba),… - Nhóm cây cho gỗ: Quế bời lời (C. polydelphum), Bời lời trung bộ (L. annamensis), Quế thanh (C.
cassia), Re hƣơng (C. - Nhóm cây cho tinh dầu: khá phong phú với một số đại diện nhƣ: Re cuống dài (C. longepetiolatum), Quế thanh (C. camphora), Bời lời nhớt (L.
glutinosa), Bời lời đắng (L.umbellata), Re trắng mũi mác (Phoebe lanceolata), Re hƣơng (C. Nghiên cứu đa dạng về yếu tố địa lý thực vật Mỗi hệ thực vật bao gồm nhiều yếu tố địa lý thực vật khác nhau, các yếu tố này thể hiện ở yếu tố đặc hữu và yếu tố di cƣ, các loài thuộc yếu tố đặc hữu thể hiện ở sự khác biệt giữa các hệ thực vật với nhau, còn các loài thuộc yếu tố di cƣ sẽ chỉ ra sự liên hệ giữa các hệ thực vật đó.