Nghiên cứu đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo copepoda trong nƣớc ngầm thuộc một số địa điểm của tỉnh quảng nam và đà nẵng

Nghiên cứu đa dạng sinh học giáp xác chân chèo copepoda trong nước ngầm tại Quảng Nam và Đà Nẵng, khám phá sự phong phú và vai trò sinh thái.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

60
7
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về đối tượng nghiên cứu

1.2. Giới thiệu về Copepoda

1.3. Tổng quan về nước ngầm

1.4. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

1.5. Tổng quan về khu vực nghiên cứu

1.5.1. Tỉnh Quảng Nam

1.5.2. Thành phố Đà Nẵng

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.2.1. Đánh giá mức độ đa dạng sinh học của phân lớp Copepoda

2.2.2. Đánh giá các thông số môi trường nước ngầm

2.2.3. Đánh giá mối tương quan giữa các thông số môi trường với mức độ đa dạng sinh học Copepoda

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp lấy mẫu ngoài thực địa

2.3.2. Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm

2.3.3. Phương pháp phân loại Copepoda

2.3.4. Phương pháp đếm mật độ cá thể

2.3.5. Chỉ số chất lượng nước ngầm (Ground Water Quality Index)

2.3.6. Phương pháp phân tích số liệu

2.3.7. Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử Atomic Absorbtion Spectrometric (AAS)

2.3.8. Chỉ số đa dạng Shannon – Wiener và chỉ số đa dạng sinh học Simpson

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN

3.1. Thành phần Copepoda

3.2. Danh mục thành phần loài Copepoda

3.3. Mối tương đồng giữa sự xuất hiện loài tại các khu vực lấy mẫu

3.4. Chỉ số đa dạng Shannon và Simpson

3.5. Thông số môi trường nước tại các địa điểm nghiên cứu

3.6. Số liệu môi trường. Tương quan giữa các thông số môi trường

3.7. Chỉ số chất lượng nước GWQI

3.8. Mối tương quan giữa chất lượng nước GWQI với mật độ loài

3.9. Mối tương quan chất lượng môi trường nước đến sự phân bố loài

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Giáp Xác Chân Chèo Copepoda Ngầm

Nghiên cứu về giáp xác chân chèo (Copepoda) đã sớm phát triển do vai trò quan trọng của chúng trong hệ sinh thái dưới nước. Copepoda là một nhóm động vật giáp xác nhỏ, phân bố rộng rãi trong nhiều môi trường, từ nước ngọt đến nước mặn, kể cả môi trường khắc nghiệt như nước ngầm. Copepoda là thành phần quan trọng của lưới thức ăn, chuyển năng lượng từ bậc thấp hơn (thực vật, mùn bã hữu cơ) lên bậc cao hơn. Nghiên cứu này tập trung vào đa dạng sinh học Copepoda trong nước ngầm tại Quảng Nam và Đà Nẵng, một lĩnh vực còn ít được khám phá tại Việt Nam. Hiện nay trên thế giới đã có khoảng 24.400 giống và 210 họ đã đƣợc mô tả, trong đó có khoảng 2.800 loài sống ở các thủy vực nƣớc ngọt. Với hơn 900 loài đƣợc biết đến từ các tầng nƣớc ngầm lục địa (Galassi, 2001).

1.1. Giới Thiệu Chi Tiết Phân Lớp Giáp Xác Chân Chèo

Phân lớp Copepoda (chân chèo) thuộc nhóm Crustacea (giáp xác), ngành Arthropoda (chân khớp). Phân lớp Copepoda phân chia thành 3 bộ: Bộ Calanoida, bộ Cyclopoida và bộ Harparticoida sống tự do. Copepoda thích nghi cao với môi trường sống trong trầm tích nước ngầm. Copepoda có thân hình trụ ngắn hoặc hình dài được chia thành 3 phần: đầu, ngực, bụng. Thức ăn chủ yếu là thực vật phù du, luân trùng và Ciliates. Hầu hết Copepoda có một mắt kép, thường là màu đỏ tươi, giữa đầu; loài dưới lòng đất mắt có thể tiêu biến. Chiều dài biến động, thường nhỏ hơn 2mm.

1.2. Vai Trò Quan Trọng Của Copepoda Trong Hệ Sinh Thái

Copepoda tham gia vào chu trình vật chất trong thủy vực, đóng vai trò quan trọng trong bậc dinh dưỡng. Chúng là nguồn thức ăn chính cho nhiều loài động vật không xương sống và có xương sống lớn hơn. Copepoda ăn phấn hoa, thực vật phù du, động vật không xương sống khác, và thậm chí cả ấu trùng cá. Tùy theo nhóm sinh vật mà có cách lấy thức ăn và lựa chọn loại thức ăn thích hợp. Phần miệng của bộ Harpacticoida thích nghi với kiểu lấy thức ăn là cào lấy, sàng lọc và tìm kiếm thức ăn từ đáy thủy vực.

II. Vấn Đề Thiếu Dữ Liệu Đa Dạng Sinh Học Copepoda Ngầm

Nghiên cứu đa dạng sinh học Copepoda ở Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt là ở môi trường nước ngầm. Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào đa dạng sinh học nói chung, thiếu đánh giá mối tương quan giữa đa dạng sinh học và yếu tố môi trường. Nước ngầm từ giếng và lớp cát ven bờ sông suối chưa được quan tâm đầy đủ. Nghiên cứu này nhằm bổ sung dữ liệu về đa dạng sinh học Copepoda trong nước ngầm tại khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng, cung cấp nền tảng cho các nghiên cứu ứng dụng sau này. Trước đây, các nghiên cứu thường tập trung ở khu vực Bắc Trung Bộ, đối với nƣớc ngầm ông đã có những nghiên cứu và phát hiện đƣợc loài Hadodiaptomus dumonti n. thuộc bộ Calanoida ở khu vực núi đá vôi Quảng Bình (Trần Đức Lƣơng, 2013).

2.1. Hạn Chế Nghiên Cứu Về Copepoda Trong Nước Ngầm Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) đã được quan tâm nhiều hơn so với trước đây nhưng chỉ tập trung nghiên cứu về đa dạng sinh học chứ vẫn chưa có nghiên cứu đánh giá mối tương quan giữa đa dạng sinh học và các yếu tố môi trường. Tiến sĩ Trần Đức Lương là người có nhiều nghiên cứu về đa dạng trong lĩnh vực này. Các nghiên cứu của Ông đa phần tập trung ở khu vực Bắc Trung Bộ.

2.2. Tầm Quan Trọng Nghiên Cứu Copepoda Tại Quảng Nam Đà Nẵng

Nước ngầm từ các giếng và nước ngầm dưới các lớp cát ven bờ sông, suối hầu như chưa được quan tâm, các nghiên cứu về Copepoda trong các hệ sinh thái này tại Việt Nam đang bị thiếu hụt. Vì vậy, chúng tôi tiến hành chọn đề tài “Nghiên cứu đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) trong nước ngầm thuộc một số địa điểm của tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng”. Đề tài này sẽ bổ sung dữ liệu về đa dạng sinh học Copepoda trong nước ngầm ở khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng và khu hệ giáp xác Việt Nam nói chung.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đa Dạng Copepoda Thu Mẫu Phân Tích

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu mẫu tại 27 địa điểm thuộc Quảng Nam và Đà Nẵng, chia thành khu vực nước giếng và sinh cảnh cát. Mẫu được phân tích trong phòng thí nghiệm để xác định thành phần loài Copepoda và các thông số môi trường nước ngầm. Sử dụng phương pháp phân loại Copepoda tiêu chuẩn và phương pháp đếm mật độ cá thể. Chỉ số chất lượng nước ngầm (GWQI) được sử dụng để đánh giá chất lượng nước. Áp dụng phương pháp phân tích số liệu thống kê để đánh giá mối tương quan. Nghiên cứu ghi nhận đƣợc 15 loài, trong đó 7 loài mới cho khu hệ giáp xác nƣớc ngọt của Việt Nam

3.1. Quy Trình Thu Mẫu Thực Địa Và Xử Lý Mẫu Copepoda

Nghiên cứu thực hiện thu mẫu tại 27 điểm, chia thành 2 khu vực: nước giếng và sinh cảnh cát. Phương pháp lấy mẫu ngoài thực địa tuân thủ quy trình chuẩn, đảm bảo tính đại diện của mẫu. Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm sử dụng các thiết bị hiện đại, đảm bảo độ chính xác của kết quả. Phương pháp phân loại Copepoda dựa trên các tài liệu khoa học uy tín, đảm bảo nhận diện đúng loài.

3.2. Đánh Giá Chất Lượng Nước Ngầm Bằng Chỉ Số GWQI

Chỉ số chất lượng nước ngầm (Ground Water Quality Index - GWQI) được sử dụng để đánh giá chất lượng nước ngầm tại các địa điểm nghiên cứu. GWQI là chỉ số tổng hợp, dựa trên nhiều thông số môi trường nước khác nhau, giúp đánh giá chất lượng nước một cách toàn diện. Nghiên cứu sử dụng GWQI để so sánh chất lượng nước ngầm giữa các khu vực khác nhau và đánh giá tác động của các hoạt động sinh hoạt đến chất lượng nước.

IV. Kết Quả Thành Phần Loài Copepoda và Thông Số Môi Trường

Nghiên cứu ghi nhận 15 loài Copepoda, trong đó có 7 loài mới cho hệ giáp xác nước ngọt Việt Nam: Nitokra quadriseta, Nitocra fallaciosa, Themocyclops dybowski, Phyllognathopus camptoides, Diacyclops disjunctus, Elaphoidella cuspidata, Mesocyclops leuckarti. Phân tích các thông số môi trường cho thấy sự khác biệt giữa khu vực nước giếng và sinh cảnh cát về nhiệt độ, pH, độ đục, DO, Nitrat, Amoni. Mô hình tương quan đa biến (CCA) cho thấy các thông số môi trường như Sal, EC, Cl-, TDS tương quan thuận với N.

4.1. Danh Mục Các Loài Copepoda Được Xác Định

Nghiên cứu đã xác định được 15 loài Copepoda, trong đó có 7 loài mới cho khu hệ giáp xác nước ngọt của Việt Nam. Danh mục các loài được trình bày chi tiết, bao gồm tên khoa học, đặc điểm hình thái và phân bố của từng loài. Kết quả này góp phần làm phong phú thêm dữ liệu về đa dạng sinh học Copepoda ở Việt Nam.

4.2. Phân Tích Thông Số Môi Trường Nước Ngầm

Nghiên cứu tiến hành phân tích các thông số môi trường nước ngầm như nhiệt độ, pH, độ đục, DO, Nitrat, Amoni. Kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa khu vực nước giếng và sinh cảnh cát về các thông số này. Sự khác biệt này có thể ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài Copepoda trong nước ngầm.

4.3. Mối Tương Quan Giữa Các Thông Số Môi Trường

Mô hình tương quan đa biến (Canonical Correspondence Analysis - CCA) cho thấy các thông số môi trường của nước ngầm như Sal (độ mặn), EC (độ dẫn điện), Cl- (Clorua), TDS (tổng chất rắn hòa tan) tương quan thuận với N. Điều này cho thấy các thông số môi trường này có ảnh hưởng đến sự phân bố và mật độ của các loài Copepoda trong nước ngầm.

V. Ứng Dụng Đánh Giá Chất Lượng Nước Ngầm Bằng GWQI

Phân tích GWQI cho thấy chất lượng nước tốt (<50) chiếm 44.44%, chất lượng trung bình chiếm 40.74%, chất lượng xấu chiếm 14%. Kết quả này cho thấy cần có biện pháp quản lý và bảo vệ nguồn nước ngầm tại khu vực nghiên cứu. Thông qua bảng phân tích các thông số môi trƣờng thì nhận thấy có sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 khu vực nƣớc giếng và sinh cảnh cát ở cả 2 tỉnh đối với các thông số nhiệt độ, pH, độ đục, DO, Nitrat, Amoni.

5.1. Phân Hạng Chất Lượng Nước Ngầm Theo GWQI

Kết quả phân tích GWQI từ 27 điểm lấy mẫu so sánh với bảng phân hạng chất lượng (GWQI) cho thấy tỷ lệ chất lượng nước khác nhau. Chất lượng nước tốt chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là chất lượng nước trung bình và cuối cùng là chất lượng nước xấu. Điều này cho thấy chất lượng nước ngầm ở khu vực nghiên cứu đang ở mức trung bình.

5.2. Giải Pháp Bảo Vệ Nguồn Nước Ngầm Tại Quảng Nam Đà Nẵng

Dựa trên kết quả nghiên cứu, cần có các biện pháp quản lý và bảo vệ nguồn nước ngầm tại khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng. Các biện pháp này bao gồm kiểm soát các nguồn ô nhiễm, xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường, tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ nguồn nước.

VI. Kết Luận Hướng Phát Triển Nghiên Cứu Copepoda Nước Ngầm

Nghiên cứu đã cung cấp thông tin quan trọng về đa dạng sinh học Copepoda trong nước ngầm tại Quảng Nam và Đà Nẵng. Kết quả này có ý nghĩa trong công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học và giám sát môi trường. Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về mối tương quan giữa đa dạng sinh học Copepoda và các yếu tố môi trường, cũng như tiềm năng ứng dụng Copepoda trong sản xuất thức ăn thủy sản và chỉ thị sinh học. Đề tài sẽ góp phần vào công tác điều tra, quản lý bảo tồn đa dạng sinh học trong nƣớc ngầm cho khu vực Quảng Nam và Đà Nẵng đồng thời hỗ trợ công cụ đánh giá trong quan trắc giám sát môi trƣờng.

6.1. Giá Trị Khoa Học Và Thực Tiễn Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu này có giá trị khoa học trong việc bổ sung kiến thức về đa dạng sinh học Copepoda trong nước ngầm. Nó cũng có giá trị thực tiễn trong việc cung cấp thông tin cho công tác quản lý và bảo tồn nguồn nước ngầm.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Copepoda Việt Nam

Hướng nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào mối tương quan giữa đa dạng sinh học Copepoda và các yếu tố môi trường, cũng như tiềm năng ứng dụng Copepoda trong sản xuất thức ăn thủy sản và chỉ thị sinh học. Cần có thêm các nghiên cứu về Copepoda ở các vùng khác nhau của Việt Nam để có cái nhìn toàn diện về đa dạng sinh học của nhóm sinh vật này.

24/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trên thế giới những nghiên cứu về động vật phù du đã phát triển rất sớm vì đây là một mắc xích thức ăn vô cùng quan trọng trong các hệ sinh thái dƣới nƣớc. Một nhóm sinh vật trong số đó đƣợc các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý bởi sự phổ biến của chúng trong các thủy vực đó là phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda). Copepoda là một nhóm động vật giáp xác kích thƣớc nhỏ phân bố rộng ở hầu hết các môi trƣờng khác nhau từ nƣớc ngọt đến nƣớc mặn, kể cả những môi trƣờng khắc nghiệt nhƣ nƣớc ngầm, suối nƣớc nóng hay vùng nƣớc băng tan (Pierre Marmonier et al.

Copepoda đƣợc biết đến là một thành phần quan trọng của lƣới thức ăn trong hệ sinh thái dƣới nƣớc từ vùng nƣớc ngọt đến vùng nƣớc mặn (Bostock, 2010). Copepoda là thức ăn thiết yếu đối với con non của nhiều sinh vật biển, Copepoda đóng vai trò chuyển tiếp năng lƣợng từ các bậc thức ăn thấp hơn (thực vật, mùn bã hữu cơ) đến mắt xích thức ăn cao hơn trong hệ sinh thái. Ngoài ra Copepoda còn đƣợc sử dụng làm sinh vật chỉ thị môi trƣờng khá hiệu quả (Wojciech Piasecki1 et al. Hiện nay trên thế giới đã có khoảng 24.400 giống và 210 họ đã đƣợc mô tả, trong đó có khoảng 2.800 loài sống ở các thủy vực nƣớc ngọt.

Với hơn 900 loài đƣợc biết đến từ các tầng nƣớc ngầm lục địa (Galassi, 2001). Nƣớc ngầm là nguồn nƣớc quan trọng đóng vai trò là nguồn nƣớc chính lƣu trữ nƣớc ngọt trong chu trình thủy văn (Mark Louie D. Lopez et al. Cấu trúc của nƣớc ngầm có thể đƣợc xác định bởi một số khía cạnh chẳng hạn nhƣ địa mạo,thủy văn, hóa học, thành phần cơ chất, thực phẩm nguồn và quần xã sinh vật (Galassi, 2001).

Copepoda là thành phần chính của động vật nƣớc ngầm, chúng có mặt hầu hết các môi trƣờng nƣớc ngầm, trong đó Cyclopoida và Harpacticoida là hai bộ chiếm ƣu thế hơn hẳn đối với nƣớc ngầm bởi đặc điểm hình thái của chúng dễ thích nghi với kiểu môi trƣờng này (Galassi, 2001). Trong đó bộ Cyclopoida đã ghi nhận đƣợc 12 họ, 80 chi và 450 loài còn đối với bộ Harpacticoida đã ghi nhận đƣợc 54 họ, 460 chi và 3. Các nghiên cứu về đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) cũng nhƣ mối tƣơng quan giữa đa dạng sinh học này với các yếu tố môi trƣờng ở trên thế giới cũng bắt đầu xuất hiện nhiều hơn. Các nghiên cứu này bắt đầu rất sớm, hiện nay đã đƣợc lan rộng ra nhiều khu vực và đạt đƣợc nhiều thành tựu khi phát hiện ra nhiều loài mới, cùng với đó là phát triển các nghiên cứu ứng dụng Copepoda đặc biệt là trong sản xuất thức ăn thủy sản.

Ở khu vực Jura của Pháp năm 2009 thì đã phát hiện ra 62 loài, trong đó chủ yếu là thuộc Cladocera, Cyclopoida, Harpacticoida, Ostracoda, Amphipoda, Isopoda 1 và Bathynellacea đồng thời đánh giá đƣợc các thông số môi trƣờng nhƣ pH, DO, Mg2+,Cl-,… tƣơng quan với đa dạng sinh học (Marie-Jose´ et al. Một nghiên cứu mới hơn vào năm 2017 ở Philippines đã phát hiện 21 loài gồm Cladocera và Copepoda và họ cho rằng sự phân bố của động vật giáp xác bị ảnh hƣởng bởi nhiệt độ, oxy hòa tan và độ cao (Mark Louie D. Lopez et al. Ở Việt Nam thì nghiên cứu đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) đã đƣợc quan tâm nhiều hơn so với trƣớc đây nhƣng chỉ tập trung nghiên cứu về đa dạng sinh học chứ vẫn chƣa có nghiên cứu đánh giá mối tƣơng quan giữa đa dạng sinh học và các yếu tố môi trƣờng.

Tiến sĩ Trần Đức Lƣơng là ngƣời có nhiều nghiên cứu về đa dạng trong lĩnh vực này. Các nghiên cứu của Ông đa phần tập trung ở khu vực Bắc Trung Bộ, đối với nƣớc ngầm ông đã có những nghiên cứu và phát hiện đƣợc loài Hadodiaptomus dumonti n. thuộc bộ Calanoida ở khu vực núi đá vôi Quảng Bình (Trần Đức Lƣơng, 2013). Nƣớc ngầm từ các giếng và nƣớc ngầm dƣới các lớp cát ven bờ sông, suối hầu nhƣ chƣa đƣợc quan tâm, các nghiên cứu về Copepoda trong các hệ sinh thái này tại Việt Nam đang bị thiếu hụt.

Vì vậy, chúng tôi tiến hành chọn đề tài “Nghiên cứu đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) trong nước ngầm thuộc một số địa điểm của tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng”. Đề tài này sẽ bổ sung dữ liệu về đa dạng sinh học Copepoda trong nƣớc ngầm ở khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng và khu hệ giáp xác Việt Nam nói chung. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng sẽ là nghiên cứu nền tảng cho các nghiên cứu ứng dụng sau này. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá đa dạng sinh học của phân lớp Copepoda trong nƣớc ngầm tại một số địa điểm ở Quảng Nam và Đà Nẵng.

- Đánh giá đƣợc chất lƣợng nƣớc ngầm tại một số huyện của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. - Đánh giá đƣợc mối tƣơng quan giữa đa dạng sinh học các loài Copepoda và các thông số môi trƣờng nƣớc ngầm tại khu vực. Ý nghĩa của đề tài - Đề tài sẽ góp phần vào công tác điều tra, quản lý bảo tồn đa dạng sinh học trong nƣớc ngầm cho khu vực Quảng Nam và Đà Nẵng đồng thời hỗ trợ công cụ đánh giá trong quan trắc giám sát môi trƣờng. - Bổ sung dữ liệu khoa học cho phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) cho Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.

Nội dung nghiên cứu - Đánh giá mức độ đa dạng sinh học của phân lớp Copepoda - Đánh giá các thông số môi trƣờng nƣớc ngầm - Đánh giá mối tƣơng quan giữa các thông số môi trƣờng với mức độ đa dạng sinh học Copepoda 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về đối tƣợng nghiên cứu: 1. Giới thiệu về Copepoda 5. Phân lớp Copepoda (chân chèo) thuộc nhóm Crustacea (giáp xác), ngành Arthropoda (chân khớp).

Phân lớp Copepoda phân chia thành 3 bộ: Bộ Calanoida, bộ Cyclopoida và bộ Harparticoida sống tự do (Hình 1. Phân lớp Copepoda chia thành hai bộ là EuCopepoda và Branchiura trong đó có 6 bộ phụ là Caligoida, Lernaeopodoida, Arguloida (sống ký sinh) và Calanoida, Cyclopoida, Harpacticoida (sống tự do) (Dƣơng Trí Dũng, 2001) 7. Copepoda thích nghi cao với môi trƣờng sống trong trầm tích nƣớc ngầm, hiện có khoảng 2.800 loài sống trong thủy vực nƣớc ngọt (Galassi, 2001) Bộ Cyclopoida Bộ Harpacticoida Bộ Calanoida Hình 1.1: Ba bộ của phân lớp giáp xác chân chèo Các bộ sẽ có các đặc điểm hình thái và thích nghi với các dạng môi trƣờng sống khác nhau đƣợc thể hiện trong bảng 1. 1: Đặc điểm phân biệt các bộ sống tự do của Copepoda Đặc điểm Bộ Calanoida Bộ Cyclopoida Bộ Harpacticoida Cơ thể Phần trƣớc cơ thể dài Phần trƣớc cơ thể dài Phần trƣớc wor thể chỉ hơi hơn phần sau cơ thể hơn phần sau cơ thể dài hơn phần sau cơ thể rất nhiều rất nhiều Vị trí điểm Giữa đốt sinh dục và Giữa đốt ngực IV và Điểm co thắt không rõ ràng 4 co thắt đốt ngực V đốt ngực V giữa đốt ngực IV và đốt ngực V Túi trứng Có một túi trứng Có hai túi trứng mang Thƣờng chỉ có một túi mang ở giữa hai bên trứng mang ở giữa Râu A1 Dài từ 23 -25 đốt, có Ngắn, từ 6 – 17 đốt, Rất ngắn, từ 5 -9 đốt dài từ thể dài từ cuối ngực dài từ đốt ngực thứ 3 đốt đầu thứ 5 đến cuối đầu đến cuối chạc đuôi đến cuối ngực Cặp chân Giống các cặp chân Chân ngực V tiêu Chân ngực V tiêu giảm ngực thứ 5 ngực khác giảm Khu vực Sống nổi, hiếm thấy ở Sống ở vùng triều, chỉ Sống ở vùng triều, trên sống vùng triều một ít sống nổi thực vật lớn và cả nền đáy.

Copepoda có thân hình trụ ngắn hoặc hình dài đƣợc chia thành 3 phần là phần đầu, phần ngực và phần bụng. Phần đầu thƣờng đƣợc làm tròn và có râu nổi bật, có 5 cặp chân ngực. Chúng sống tự do hoặc sống kí sinh 10. Thức ăn chủ yếu là thực vật phù du ngoài ra còn có luân trùng và Ciliates 11.

Hầu hết các Copepoda có một mắt ghéo, thƣờng là màu đỏ tƣơi và ở giữa đầu trong suốt, đối với các loài dƣới lòng đất mắt có thể tiêu biến. Chiều dài biến động trong khoảng 0.2 mm nhƣng đa phần có chiều dài nhỏ hơn 2. Cơ thể có màu nâu hay hơi xám, những loài sống ở vùng triều có màu sáng hơn, cơ thể có màu tím hay đỏ. Vùng ngực có 7 đốt nhƣng đốt thứ 1 và có thể đốt thứ 2 kết hợp với phần đầu nằm trong vỏ giáp.

Có thể hai đôi chân ngực thứ 4 và thứ 5 hay thứ 5 và thứ 6 hợp lại thành 1 đốt. Phần bụng có từ 3-5 đốt, thƣờng thì có 4 đốt. Đốt ngực cuối và đốt bụng đầu tiên dính lại với nhau bằng một vòng mềm dẻo và ngắn. Khớp nối làm con vật cử động dễ dàng là khớp phân biệt giữa phần đầu và thân.

Phần thân gồm các đốt bụng và đốt ngực thứ 7 (có khi là đốt thứ 6). Phần đầu thật sự có 5 đôi phụ bộ đó là: Râu A1(antennules), râu A2 (antennae), hàm trên (maxillae) 1 và hàm trên 2, hàm dƣới (mandibles). Đốt ngực đầu tiên dính với đầu có một đôi chân hàm (maxillipeds) và từng đốt ngực còn lại mang một đôi chân hàm (maxillipeds) và từng đốt ngực còn lại mang 5 một đôi chân bơi. Trong một vài loài ở đốt ngực thứ 7 tiêu giảm và đốt này không còn phần phụ (Dƣơng Trí Dũng, 2001).

Phần phụ đầu: rất biến đổi tùy theo chức năng. Râu A1 dài và chỉ có một nhánh, đây là cơ quan cảm giác nhƣng cũng có thể dùng để vận động. Cả hai râu A1 con đực của Cyclopoida và Harpacticoida là cơ quan sinh dục dùng trong lúc bắt cặp. Riêng Calanoida chỉ có râu A1 bên phải làm nhiệm vụ sinh dục.

Râu A2 ngắn hơn, có 2 hay 1 nhánh có vai trò quan trọng trong việc cảm giác, riêng ở Harpacticoida các râu này có thể dùng để nắm bắt đƣợc. Các đôi hàm biến đổi để lấy thức ăn (Dƣơng Trí Dũng, 2001). Phần phụ ngực: các đôi chân ngực biến đổi từ lúc bắt đầu cho đến hai đôi chân cuối. Nhóm sống tự do đôi chân thứ 6 luôn thiếu ở con cái hay biến đổi chỉ còn dạng sơ khai (ở con đực).

Đôi chân số 5 giảm hay tiêu giảm ở nhóm Cyclopoida và Harpacticoida, nhƣng ở Calanoida thì đôi chân này phát triển cân đối ở con cái và bất đối xứng ở con đực, khi đó nó biến đổi thành cái móc (Dƣơng Trí Dũng, 2001). Chạc đuôi: đốt cuối cùng chẻ hai tạo ra hai nhánh đuôi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đa Dạng Sinh Học Phân Lớp Giáp Xác Chân Chèo (Copepoda) Trong Nước Ngầm Tại Quảng Nam Và Đà Nẵng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng sinh học của nhóm động vật giáp xác này trong môi trường nước ngầm. Nghiên cứu không chỉ giúp xác định các loài Copepoda hiện có mà còn phân tích vai trò của chúng trong hệ sinh thái nước ngầm, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn và quản lý nguồn nước.

Đối với những ai quan tâm đến bảo tồn sinh học, tài liệu này mở ra cơ hội để hiểu rõ hơn về các phương pháp nghiên cứu và bảo tồn. Để mở rộng kiến thức của bạn, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu đa dạng sinh học và biện pháp bảo tồn côn trùng thuộc bộ cánh cứng coleoptera tại khu bảo tồn thiên nhiên pù luông tỉnh thanh hóa, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về bảo tồn côn trùng trong một khu vực bảo tồn khác.

Ngoài ra, tài liệu Luận văn đa dạng sinh học côn trùng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh mù cang chải tỉnh yên bái cũng sẽ giúp bạn hiểu thêm về sự đa dạng sinh học trong các khu bảo tồn khác nhau.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ điều tra thống kê đa dạng sinh học tại huyện chợ mới tỉnh bắc kạn, tài liệu này sẽ cung cấp thông tin về các phương pháp điều tra và thống kê đa dạng sinh học trong một khu vực khác. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở rộng hiểu biết của bạn về các vấn đề bảo tồn sinh học hiện nay.