Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm nhận thức về Đa dạng sinh học Trên thế giới đa dạng sinh học đã được nghiên cứu từ lâu, tuy nhiên phải đến những năm 1990 của thế kỷ 20 vấn đề này mới thực sự trở nên cấp thiết và thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và nhiều quốc gia. Cho đến nay có nhiều khái niệm (định nghĩa) về ĐDSH đã được đưa ra. Theo Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF, 1990) [21] ĐDSH là sự phồn thịnh của cuộc sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong một môi trường.
Như vậy, ĐDSH được xem xét ở cả 3 mức độ: ĐDSH ở mức độ gen là sự khác nhau giữa các loài, giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. ĐDSH ở mức độ loài là gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm. ĐDSH ở mức độ hệ sinh thái là sự khác nhau của các loài giữa các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại. Trong bản Công ước về bảo tồn ĐDSH được thông qua tại hội nghị thượng đỉnh tại Rio de Janeiro (Braxin, 1992) [9] định nghĩa “ĐDSH là tính khác biệt, muôn hình muôn vẻ về cấu trúc, chức năng và các đặc tính khác giữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn bao gồm hệ sinh thái trên đất liền và các hệ sinh thái dưới nước”.
Ở trong nước theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [33] "ĐDSH là toàn bộ các dạng sống khác nhau của cơ thể sống trên trái đất gồm các sinh vật phân cắt đến động, thực vật ở trên cạn cũng như dưới nước, từ mức độ phân tử AND đến các quần thể sinh vật kể cả xã hội loài người. Ông cho rằng khoa học nghiên cứu về tính đa dạng đó gọi là ĐDSH”. 5 Trong cuốn "Kế hoạch hành động đa dạng Việt Nam", (1995) [9] đưa ra định nghĩa: "ĐDSH là tập hợp tất cả các nguồn sống trên hành tinh chúng ta, bao gồm tổng số các loài động, thực vật, tính đa dạng phong phú trong từng loài, tính đa dạng của các hệ sinh thái trong các cộng đồng sinh thái khác nhau hay là tập hợp của các loài sống ở các vùng khác nhau trên thế giới với các hoàn cảnh khác nhau". Trong định nghĩa này tác giả đã đề cập đến mức độ đa dạng ở mức độ loài và hệ sinh thái, nhưng chưa đề cập đến mức đa dạng gen (đa dạng di truyền).
Theo từ điển đa dạng sinh học và phát triển bền vững [15]: ĐDSH là thuật ngữ dùng để mô tả sự phong phú và đa dạng của giới tự nhiên. Đa dạng là sự phong phú của mọi cơ thể sống từ mọi nguồn, trong các hệ sinh thái trên đất liền, dưới biển và các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên. Các nhà khoa học của Viện Tài nguyên gen và thực vật quốc tế IPGRI [42] cho rằng: Đa dạng sinh học là sự biến dạng trong cơ thể sống và các phức hệ sinh thái mà chúng sống. Như vậy, trên thế giới cũng như ở trong nước có nhiều định nghĩa khác nhau về ĐDSH.
Tuy có khác nhau nhưng đa số các tác giả đều thống nhất cho rằng ĐDSH là sự khác biệt hay tính muôn hình muôn vẻ của thế giới sinh vật trên toàn trái đất và được thể hiện ở 3 mức độ như sau: - Đa dạng ở mức độ di truyền: Mỗi loài sinh vật và thậm chí trong một cá thể của loài đều có phân tử AND đặc trưng cho loài. Tính đặc trưng này được thể hiện qua số lượng và trình tự sắp xếp các nucleotit trong phân tử AND, qua hàm lượng trong nhân tế bào và tỷ lệ giữa các cặp bazơ A+T/G+X. Trật tự các nu trong các gen có liên quan đến qui định các tính trạng và các đặc tính cơ thể. Trong quá trình tiến hóa của sinh vật từ thấp đến cao, hàm lượng AND trong các tế bào cũng được tăng lên.
Đó là sự biểu hiện của đa dạng gen [31]. 6 - Đa dạng mức độ loài: Là phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng các loài hoặc số lượng phân loài (loài phụ) trên trái đất, ở một vùng địa lý, trong một quốc gia hay một sinh cảnh nhất định. Loài là một nhóm cá thể khác biệt với các nhóm cá thể khác về mặt sinh học và sinh thái. Các cá thể trong loài có vật chất di truyền (giao phối, giao phấn) với nhau và các thế hệ con cái hữu thụ (có khả năng sinh sản tiếp).
Vì vậy, tính đa dạng loài hoàn toàn bao trùm tính đa dạng di truyền và thường được coi trọng nhất khi đề cập đến tính ĐDSH. - Đa dạng ở mức độ sinh thái: Thể hiện bằng sự khác nhau của các kiểu quần xã sinh vật tạo nên. Quần xã sinh vật được xác định bởi các loài sinh vật trong một sinh cảnh nhất định cùng các mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong loài và giữa các loài với nhau. Quần xã sinh vật cũng quan hệ với môi trường vật lý tạo thành một hệ sinh thái.
Hệ sinh thái là một cấu trúc và chức năng sinh quyển bao gồm các quần xã động, thực vật, các quần xã vi sinh vật, thổ nhưỡng (đất) và các yếu tố khí hậu. Các thành phần này liên hệ với nhau thông qua các chu trình vật chất và năng lượng (chu trình sinh địa hoá). Cao hơn nữa, định nghĩa này đã đề cập đến xã hội loài người đó là đa dạng các loại hình văn hoá dân tộc. Đây là một quan điểm mới được đề cập đến mang tính nhân đạo và sự công bằng xuất phát từ đạo đức, đó chính là câu trả lời cho một phần của câu hỏi vì sao phải bảo tồn ĐDSH.
Tính cấp thiết về vấn đề bảo vệ Đa dạng sinh học Rừng là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của trái đất nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng. Ngoài chức năng cung cấp những lâm sản phục vụ nhu cầu của con người, rừng còn có chức năng bảo vệ môi trường sinh thái và rừng là nơi lưu giữ các nguồn gen động thực vật phục vụ cho cho các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp. Rừng có được những chức năng đó là nhờ có đa dạng sinh học. ĐDSH là một trong những nguồn tài nguyên quí giá nhất, vì nó là cơ sở của sự sống còn, thịnh vượng và tiến hoá bền vững của các loài 7 sinh vật trên hành tinh chúng ta.
Nhưng hiện nay dân số thế giới tăng, nhu cầu về lâm sản tăng dẫn đến khai thác rừng quá mức và không khoa học làm cho diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng kéo theo suy giảm ĐDSH. Chính vì vậy loài người đã, đang và sẽ phải đứng trước một thử thách, đó là sự suy giảm về ĐDSH dẫn đến làm mất trạng thái cân bằng của môi trường kéo theo là những thảm họa như lũ lụt, hạn hán, lở đất, gió bão, cháy rừng, ô nhiễm môi trường sống, các căn bệnh hiểm nghèo… xuất hiện ngày càng nhiều. Tất cả các thảm họa đó là hậu quả, một cách trực tiếp hay gián tiếp của việc suy giảm ĐDSH. Việt Nam được coi là một trong những trung tâm ĐDSH của vùng Đông Nam Á.
Từ kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhận định rằng Việt Nam là một trong 10 quốc gia ở Châu Á và một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính ĐDSH cao do có sự kết hợp của nhiều yếu tố. Tuy nhiên, tài nguyên rừng Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều các nguyên nhân khác nhau như nhu cầu lâm sản ngày càng tăng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác quà mức, không đúng kế hoạch, chiến tranh,… Theo số liệu mà Maurand P công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943 Việt Nam còn khoảng 14,3 triệu ha rừng tự nhiên với độ che phủ là 43,7% diện tích lãnh thổ [44]. Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt từ năm 1976 -1990 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, chỉ trong 14 năm diện tích rừng giảm đi 2,7 triệu ha, bình quân mỗi năm mất gần 190 ngàn ha (1,7%/năm) và diện tích rừng giảm xuống mức thấp nhất là 9,2 triệu ha với độ che phủ 27,8% vào năm 1990 (Trần Văn Con, 2001). Việc mất rừng, độ che phủ giảm, đất đai bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, sông hồ bị bồi lấp, môi trường bị thay đổi, hạn hán lũ lụt gia tăng, ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống của nhiều vùng dân cư.
Mất rừng còn đồng nghĩa với sự mất đi tính đa dạng về nguồn gen động thực vật. 8 Theo thống kê chính thức năm 2004, diện tích rừng đã tăng lên 12,3 triệu ha với độ che phủ 37,3%, và đến tháng 12 năm 2007 diện tích rừng Việt Nam đã tăng lên 12,8 triệu ha với độ che phủ 38,2%. Nhưng hơn hai phần ba diện tích rừng của Việt Nam là rừng nghèo hoặc rừng đang phục hồi, trong khi đó rừng giàu và rừng kín năm 2000 chỉ chiếm 3,4% và năm 2004 chiếm 4,6% tổng diện tích rừng. Hầu như ở các vùng thấp không còn các khu rừng với tính đa dạng còn nguyên vẹn.
VQG Xuân Sơn được nhân dân Phú Thọ coi là lá phổi xanh của tỉnh bởi lẽ cả tỉnh giờ đây chỉ còn Xuân Sơn là nơi có rừng tốt và giàu nhất. Theo kết quả điều tra bước đầu của một số cơ quan (Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, Trường Đại học Lâm nghiệp, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), VQG Xuân Sơn có giá trị cao về đa dạng sinh học, trong đó có nhiều loài động, thực vật quý hiếm đang bị đe dọa ở mức quốc gia và toàn cầu. Nhưng những nghiên cứu về tầng cây gỗ tại xã Xuân Sơn và một số nội dung quan trọng chưa được thực hiện một cách có hệ thống, đó là đánh giá đa dạng sinh học về các taxon phân loại một cách chính xác, yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật, công dụng và mức độ nguy cấp của các loài để từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn thích hợp.