Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu côn trùng học giữ vai trò thiết yếu trong việc đánh giá tính toàn vẹn và cân bằng của hệ sinh thái rừng tự nhiên. Trong lớp Côn trùng (Insecta), bộ Cánh vẩy (Lepidoptera), đặc biệt là phân bộ Bướm ngày (Rhopalocera), đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn, tham gia tuần hoàn vật chất hữu cơ và thúc đẩy thụ phấn cho thực vật rừng cũng như hoa màu nông nghiệp. Nhờ tính mẫn cảm sinh thái cao trước các biến đổi vi khí hậu và thảm phủ thực vật, bướm ngày thường được giới khoa học sử dụng làm sinh vật chỉ thị tin cậy nhằm định lượng chất lượng rừng và giám sát hiệu quả của các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học theo thời gian.
Vườn quốc gia Pù Mát (tỉnh Nghệ An) là khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao thuộc dãy Bắc Trường Sơn, nơi lưu giữ nhiều nguồn gen thực vật và động vật đặc hữu, quý hiếm. Các khảo sát chuyên đề trước đây tại Vườn quốc gia đã thu thập được 1.855 tiêu bản thuộc 305 loài của 11 họ bướm, phát hiện 7 loài bướm ngày mới cho khu hệ côn trùng Việt Nam và 3 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam ở thứ hạng Sẽ nguy cấp (VU). Tuy nhiên, các công trình trước đó phần lớn tập trung vào việc lập danh lục thành phần loài, chưa nghiên cứu sâu về các đặc trưng sinh thái học quần xã, đặc biệt là cấu trúc phân bố theo các sinh cảnh rừng, tần suất bắt gặp và đặc tính sinh học của từng nhóm loài. Nhằm giải quyết khoảng trống dữ liệu này, khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất biện pháp quản lý các loài bướm ngày (Rhopalocera) tại vườn quốc gia Pù Mát tỉnh Nghệ An" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Văn Trung (chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Trường Đại học Lâm nghiệp) dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Bảo Thanh.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:
- Xác định được thành phần và một số đặc điểm của các loài bướm ngày tại khu vực nghiên cứu.
- Đưa ra biện pháp quản lý các loài bướm ngày tại khu vực nghiên cứu.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:
- Xác định thành phần loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu.
- Xác định một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của một số loài bướm ngày tại khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất biện pháp quản lý các loài bướm ngày tại khu vực nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài bướm hoạt động vào ban ngày (Rhopalocera) thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera).
- Phạm vi không gian: Vườn quốc gia Pù Mát, nằm trên địa giới hành chính của 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương, tỉnh Nghệ An; tọa độ địa lý từ 18°46' đến 19°12' vĩ độ Bắc. Địa bàn khảo sát thực địa trực tiếp tập trung tại các xã Châu Khê, Yên Khê (huyện Con Cuông) và xã Phúc Sơn (huyện Anh Sơn).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thực địa được thu thập từ tháng 3/2017 đến tháng 5/2017 (thời gian ghi chép mẫu thực địa ngoài tự nhiên diễn ra trong giai đoạn tháng 3 - tháng 4).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng hệ thống phân loại học côn trùng chuẩn đối với phân bộ Rhopalocera, đồng thời kế thừa các tiêu chí phân loại trong các công trình phân loại khu hệ bướm Đông Dương và khu vực châu Á của J.de Joannis (1930), W. Evans (1932), Dubois & Vitalis de Salvaza (1919), A. Monastyrkii, Đặng Thị Đáp, Vũ Văn Liên (2000), cùng Sách đỏ Việt Nam (phần Động vật, 2000, 2007).
Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý số liệu được triển khai qua các bước:
- Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu: Tổng hợp tài liệu thứ cấp từ các báo cáo chuyên đề điều tra đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Pù Mát; kết hợp phỏng vấn người dân bản địa tại các thôn bản vùng đệm về các giá trị kinh tế và công dụng của các loài côn trùng bản địa.
- Phương pháp điều tra thực địa: Tiến hành điều tra sơ thám nhằm xác lập 3 tuyến điều tra đi qua 6 dạng sinh cảnh đặc trưng của khu vực, với tổng cộng 17 điểm điều tra định lượng:
- Tuyến 1: Từ Khe Pu đến Khe Choang (xã Châu Khê, huyện Con Cuông) gồm 6 điểm điều tra.
- Tuyến 2: Từ Khe Nước Mọc đến Thác Khe Kèm (xã Yên Khê, huyện Con Cuông) gồm 5 điểm điều tra.
- Tuyến 3: Từ cầu sông Giăng đến đồn Biên phòng (xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn) gồm 6 điểm điều tra.
- Phân loại sinh cảnh khảo sát (6 dạng sinh cảnh):
- SC01: Sinh cảnh dân cư, đất canh tác nông nghiệp (trồng lúa, ngô).
- SC02: Sinh cảnh tràng cỏ cây gỗ rải rác (trạng thái Ib, Ic; cây ưa sáng, cây bụi Bùm bụp, Cỏ lào, Cỏ tranh).
- SC03: Sinh cảnh rừng tre nứa (kiểu phụ thứ sinh sau khai thác hoặc nương rẫy, khép tán nhanh).
- SC04: Sinh cảnh rừng tự nhiên trên núi đá vôi (phân bố rải rác ở Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương).
- SC05: Sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy (trạng thái IIA, IIB, được khoanh nuôi bảo vệ).
- SC06: Sinh cảnh rừng tự nhiên ven sông, suối (ven sông Giăng, Thác Khe Kèm).
- Thu bắt và bảo quản mẫu vật: Đi dọc theo tuyến và dừng tại các điểm điều tra (bán kính 10 m hoặc ô chữ nhật, quan trắc trong thời gian cố định 30 phút/điểm; khoảng cách giữa hai điểm liền kề tối thiểu 100 m hoặc chuyển đổi sinh cảnh). Sử dụng vợt bắt bướm chuyên dụng (vải màn, đường kính miệng 30 cm, cán gỗ dài 1,5 m). Mẫu bóp ngực nhẹ, cho vào bao giữ mẫu bằng giấy tam giác, ghi rõ thông số tọa độ, thời gian, sinh cảnh và bảo quản trong hộp kín.
- Kỹ thuật làm mẫu và giám định: Mẫu vật được căng phẳng trên bàn xốp rãnh tại phòng Bộ môn Bảo vệ thực vật (Trường Đại học Lâm nghiệp), cánh trước đặt vuông góc với thân, ghim giấy cố định râu và cánh, sấy khô 4-5 ngày. Dùng kim côn trùng ghim xuyên ngực giữa (1/3 kim nhô lên phía lưng, 2/3 ở mặt bụng). Giám định danh pháp bằng phương pháp so sánh hình thái học dựa trên các tài liệu: Sổ tay quan sát bướm ngày Trung Quốc (2008), Bảo tàng côn trùng (Lý Tương Tào, 2006) và Bộ mẫu ảnh sinh thái 600 loài côn trùng Trung Quốc (Triệu Mai Quân, 2004).
- Xử lý số liệu: Tính toán tần suất bắt gặp $P_i (%)$ theo công thức:
$$P_i = \frac{n_i}{N} \times 100$$
(Trong đó $n_i$ là số điểm điều tra bắt gặp loài $i$, $N = 17$ là tổng số điểm điều tra).
Phân hạng mức độ bắt gặp theo 3 cấp độ:
- Loài thường gặp $(+++)$: $P_i \ge 50%$
- Loài ít gặp $(++)$: $25% < P_i < 50%$
- Loài ngẫu nhiên gặp $(+)$: $P_i \le 25%$
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này khái quát tiến trình nghiên cứu phân loại côn trùng và bộ Cánh vẩy trên phạm vi thế giới và Việt Nam. Trên thế giới, tác giả điểm qua các nghiên cứu nền tảng từ Aristotle, J.de Joannis (1930) thống kê 1.798 loài thuộc 746 giống ở Bắc Kỳ, đến các công trình định danh tại Ấn Độ (Evans, 1932), Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc. Tại Việt Nam, các dẫn liệu bướm ngày được tích lũy từ công trình của Dubois & Vitalis de Salvaza (1919), Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (Kuznhetxov, 1988), và Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga (A. Monastyrkii, Vũ Văn Liên). Riêng tại Vườn quốc gia Pù Mát, các cuộc khảo sát giai đoạn trước đã xác lập danh lục 305 loài bướm ngày thuộc 11 họ (chiếm 1.855 tiêu bản), trong đó họ Nymphalidae chiếm số lượng lớn nhất (78 loài), kế đến là Satyridae và Lycaenidae (mỗi họ 46 loài). Phân tích địa lý sinh vật chỉ ra 58% số loài thuộc khu hệ Phương Đông và 21,1% thuộc khu hệ Indo-Malay.
Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên của Vườn quốc gia Pù Mát với diện tích vùng lõi 94.400 ha và vùng đệm 86.000 ha trải rộng trên 16 xã thuộc 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương. Địa hình phân hóa thành núi cao trung bình hiểm trở (đỉnh Pulaileng 2.711 m), núi thấp, thung lũng xâm thực và các khối karst đá vôi. Khí hậu mang tính nhiệt đới gió mùa phân hóa sâu sắc: nhiệt độ trung bình năm 23 - 24°C, chịu ảnh hưởng mạnh của gió Tây khô nóng (gió Lào) từ tháng 4 đến tháng 7 khiến nhiệt độ tối cao vượt 42°C (Con Cuông 42,0°C; Tương Dương 42,7°C) và độ ẩm có ngày hạ dưới 30%. Lượng mưa trung bình năm dao động từ 1.268,3 mm (Tương Dương) đến 1.791,1 mm (Con Cuông), tập trung 90% vào mùa mưa lũ (tháng 9 - 10). Mạng lưới thủy văn chính gồm sông Cả cùng các phụ lưu hữu ngạn: Khe Thơi, Khe Choang và Khe Khặng (sông Giăng).
Về kinh tế - xã hội, địa bàn là nơi sinh sống của các cộng đồng dân tộc Thái, Khơ Mú, Kinh, Đan Lai với tỷ lệ hộ thiếu lương thực giáp hạt còn 23%. Hoạt động kinh tế chủ yếu là trồng lúa nước, nương rẫy và chăn thả gia súc tự do. Tác giả chỉ ra các yếu tố nhân sinh tác động tiêu cực đến môi trường sống của côn trùng: phát rẫy gây cháy rừng, khai thác gỗ củi, săn bắt động vật, dùng kích điện đánh cá trên sông suối và thả rông trâu bò vào sâu trong rừng đặc dụng.
Chương 3: Mục tiêu, đối tượng, nội dung phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết khung phương pháp nghiên cứu thực nghiệm dã ngoại. Tác giả cụ thể hóa tiêu chí thiết lập 3 tuyến điều tra đi qua 17 điểm mẫu đại diện cho 6 dạng sinh cảnh; mô tả kỹ thuật sử dụng vợt bắt bướm, phương thức bảo quản tạm thời trong bao giấy không nát và quy chuẩn định hình mẫu tiêu bản trên miếng xốp phẳng rãnh. Đồng thời, chương 3 thiết lập công thức tính toán tần suất xuất hiện $P_i (%)$, thang đo 3 cấp độ bắt gặp, và quy trình mô tả hình thái học (chiều dài thân, sải cánh, họa tiết gân cánh) phục vụ cho việc lập danh lục và phân tích sinh thái.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là chương nội dung thực nghiệm trọng tâm, thể hiện các kết quả thu được:
- Thành phần loài: Ghi nhận 79 loài bướm ngày thuộc 48 giống của 11 họ. Điểm nổi bật là đã phát hiện và bổ sung cho danh lục Vườn quốc gia loài Bướm phượng cánh đuôi nheo (Lamproptera curius F., họ Papilionidae).
- Cấu trúc phân loại theo bậc họ và giống: Họ Nymphalidae (Bướm giáp) chiếm tỷ lệ đa dạng lớn nhất với 12 loài (15,19%), tiếp theo là Amathusiidae (Bướm rừng) và Satyridae (Bướm mắt rắn) cùng đạt 11 loài (13,92%), Papilionidae (9 loài, 11,39%), Pieridae và Danaidae (cùng 8 loài, 10,12%), thấp nhất là Acraeidae (2 loài, 2,54%).
- Mức độ bắt gặp: Nhóm loài thường gặp chiếm ưu thế áp đảo với 52 loài (65,83%), nhóm loài ít gặp gồm 9 loài (11,39%) và nhóm ngẫu nhiên gặp gồm 18 loài (22,78%).
- Phân bố theo sinh cảnh: Sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy (SC05) có mức độ tập trung cao nhất với 65 loài (82,28%), tràng cỏ cây gỗ rải rác SC02 đạt 63 loài (79,75%), sinh cảnh dân cư SC01 và rừng ven suối SC06 cùng đạt 62 loài (78,48%), rừng tre nứa SC03 có 59 loài (74,68%) và thấp nhất là rừng tự nhiên trên núi đá vôi SC04 với 54 loài (68,35%).
- Giá trị bảo tồn và sinh thái: Ghi nhận 2 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (Lamproptera curius và Papilio noblei - cấp VU). Xác định các loài thuộc họ Amathusiidae gồm Stichophthalma howqua, Discophora sondaica, Thaumantis diores là sinh vật chỉ thị cho các sinh cảnh rừng nguyên sinh ít bị xáo trộn. Đồng thời, chương cung cấp bản mô tả hình thái học, sải cánh, tập tính dinh dưỡng và loài cây thức ăn sâu non của 7 loài bướm tiêu biểu: Catopsilia pomona, Appias albina, Graphium sarpedon, Euploea mulciber, Hebomoia glaucippe, Papilio noblei và Danaus genutia.
- Thực trạng và giải pháp quản lý: Phân tích các nguyên nhân suy thoái quần thể bướm và đề xuất giải pháp kiểm soát chăn thả, bảo vệ cây thức ăn của sâu non và gắn bảo tồn với du lịch sinh thái.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm định lượng về khu hệ bướm ngày tại Vườn quốc gia Pù Mát trong giai đoạn khảo sát. Cơ cấu taxon họ và giống được tổng hợp trong bảng số liệu sau:
| STT |
Họ bướm ngày |
Tên tiếng Việt |
Số loài |
Tỷ lệ loài (%) |
Số giống |
Tỷ lệ giống (%) |
| 1 |
Acraeidae |
Họ Bướm ngọc |
2 |
2,54 |
2 |
4,17 |
| 2 |
Amathusiidae |
Họ Bướm rừng |
11 |
13,92 |
7 |
14,58 |
| 3 |
Danaidae |
Họ Bướm đốm |
8 |
10,12 |
4 |
8,33 |
| 4 |
Hesperiidae |
Họ Bướm nhảy |
5 |
6,33 |
4 |
8,33 |
| 5 |
Libytheidae |
Họ Bướm giáp |
3 |
3,80 |
1 |
2,09 |
| 6 |
Lycaenidae |
Họ Bướm xanh |
4 |
5,07 |
2 |
4,17 |
| 7 |
Nymphalidae |
Họ Bướm giáp |
12 |
15,19 |
6 |
12,50 |
| 8 |
Papilionidae |
Họ Bướm phượng |
9 |
11,39 |
5 |
10,42 |
| 9 |
Pieridae |
Họ Bướm phấn |
8 |
10,12 |
6 |
12,50 |
| 10 |
Riodinidae |
Họ Bướm ngao |
6 |
7,60 |
4 |
8,33 |
| 11 |
Satyridae |
Họ Bướm mắt rắn |
11 |
13,92 |
7 |
14,58 |
| Tổng |
11 họ |
|
79 |
100,00 |
48 |
100,00 |
Phân bố thành phần loài theo 6 dạng sinh cảnh thực địa được tổng hợp như sau:
| Mã sinh cảnh |
Đặc trưng sinh cảnh thực địa |
Số loài bắt gặp |
Tỷ lệ so với tổng số loài (%) |
| SC01 |
Khu dân cư và đất canh tác nông nghiệp |
62 |
78,48 |
| SC02 |
Tràng cỏ cây gỗ rải rác (trạng thái Ib, Ic) |
63 |
79,75 |
| SC03 |
Rừng tre nứa |
59 |
74,68 |
| SC04 |
Rừng tự nhiên trên núi đá vôi |
54 |
68,35 |
| SC05 |
Rừng phục hồi sau nương rẫy (trạng thái IIA, IIB) |
65 |
82,28 |
| SC06 |
Rừng tự nhiên ven sông, suối |
62 |
78,48 |
Dữ liệu sinh học cụ thể của các loài điển hình được ghi nhận:
- Catopsilia pomona (Bướm vàng chanh di cư): Sải cánh 55 - 80 mm, sâu non ăn lá cây họ Đậu; bay theo đàn lớn ở các bãi đất ẩm, vũng nước ven đường.
- Appias albina (Bướm hải âu trắng): Sải cánh 50 - 70 mm, sâu non ăn lá các loài cây họ Cáp (Capparaceae); bay đàn hỗn hợp ven suối vào đầu mùa mưa.
- Graphium sarpedon (Bướm chai xanh): Sải cánh 80 - 90 mm, sâu non ăn lá cây thuộc họ Na (Annonaceae).
- Euploea mulciber (Bướm quạ đốm xanh tím): Sải cánh 90 - 100 mm, hoạt động quanh năm, đẻ trứng trên cây họ Thiên lý (Asclepiadaceae) và Trúc đào (Apocynaceae).
- Hebomoia glaucippe (Bướm trắng lớn chót cam đỏ): Sải cánh 80 - 100 mm (loài lớn nhất trong họ Pieridae tại Việt Nam), sâu non ăn lá cây giống Capparis (họ Cáp), bướm trưởng thành hút mật hoa họ Màn Màn.
- Papilio noblei (Bướm phượng đốm kem): Sải cánh 90 - 120 mm, loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam (bậc VU), ghi nhận tại sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy và ven suối.
- Danaus genutia (Bướm hổ vằn): Sải cánh 75 - 95 mm, sâu non tích lũy độc tố khi ăn lá cây Trúc đào (Nerium oleander), giúp tránh chim ăn thịt.
Các giải pháp và kiến nghị quản lý do tác giả đề xuất:
- Ngăn chặn và chấm dứt tình trạng thả rông trâu bò vào phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia nhằm bảo vệ thảm cây tái sinh và cây thức ăn của sâu non.
- Quy hoạch vùng bảo vệ nghiêm ngặt đối với các dải rừng tự nhiên ven sông suối (sông Giăng, Thác Khe Kèm, Khe Choang) - nơi có tính đa dạng loài cao và là nơi tụ tập hút khoáng của nhiều loài bướm quý.
- Kiểm soát nghiêm ngặt tình trạng phát đốt nương rẫy gây cháy rừng cục bộ trong mùa gió Tây khô nóng; hạn chế tối đa việc sử dụng hóa chất và kích điện đánh bắt thủy sản dọc hệ thống suối.
- Xây dựng mô hình nuôi bảo tồn bán tự nhiên kết hợp phát triển các tuyến du lịch sinh thái quan sát bướm ngày tại các điểm du lịch như Thác Khe Kèm, đập Phà Lài (sông Giăng).
Đóng góp khoa học của khóa luận:
- Bổ sung 01 loài mới (Lamproptera curius) cho danh lục bướm ngày tại Vườn quốc gia Pù Mát.
- Cung cấp dẫn liệu định lượng cập nhật về tỷ lệ bắt gặp và cơ cấu phân bố sinh cảnh của 79 loài bướm, bổ khuyết cho các báo cáo trước đó vốn chỉ tập trung vào danh lục phân loại học thuần túy.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự nhìn nhận các điểm giới hạn trong quá trình thực hiện:
- Thời gian nghiên cứu ngắn: Thời gian điều tra ngoại nghiệp thực tế chỉ diễn ra trong vòng một tháng (từ tháng 3 đến tháng 4), trùng với thời kỳ thời tiết chuyển mùa và bắt đầu chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, do đó chưa phản ánh toàn diện biến động mùa vụ của khu hệ bướm trong trọn vẹn chu kỳ năm.
- Số lượng loài ghi nhận thấp hơn tiềm năng: Kết quả ghi nhận 79 loài, thấp hơn nhiều so với con số 305 loài từng được ghi nhận trong các đề tài điều tra dài hạn trước đây của Vườn quốc gia, nguyên nhân chủ yếu do thời gian điều tra ngắn và phạm vi tuyến mẫu chưa bao phủ hết các đai cao trên 1.000 m.
- Giám định mẫu: Việc giám định chủ yếu dựa vào khóa phân loại hình thái cánh và râu ngoài thực địa/phòng thí nghiệm; một số tiêu bản phức tạp cần được giám định giải phẫu bộ phận sinh dục (genitalia) để đạt độ chính xác tuyệt đối.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản đề xuất:
- Mở rộng quan trắc theo các mùa khác nhau trong năm (đặc biệt vào mùa thu và các tháng ẩm ướt) nhằm xác định đầy đủ phổ thành phần loài.
- Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa các loài bướm chỉ thị họ Amathusiidae với mức độ phân đoạn sinh cảnh rừng tự nhiên tại Pù Mát.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng và lĩnh vực sau:
- Đào tạo và nghiên cứu học thuật: Là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học các ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Bảo vệ thực vật, Sinh thái học và Đa dạng sinh học trong việc tiếp cận phương pháp điều tra thực địa côn trùng rừng.
- Quy trình kỹ thuật dã ngoại: Cung cấp tài liệu hướng dẫn cụ thể về kỹ thuật lập tuyến quan trắc, bắt mẫu bằng vợt, chế tác bao bảo quản mẫu giấy dã ngoại và kỹ thuật căng chỉnh, cắm kim ghim tiêu bản bướm đúng quy chuẩn sinh học.
- Công tác quản lý bảo tồn: Dữ liệu về 6 dạng sinh cảnh và danh lục loài kèm độ bắt gặp cung cấp cơ sở dữ liệu nền cho Ban quản lý Vườn quốc gia Pù Mát và lực lượng Kiểm lâm trong việc quy hoạch các khu vực ưu tiên bảo tồn sinh cảnh ven nước và kiểm soát các tác động chăn thả gia súc.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận đã phát hiện và bổ sung loài bướm nào mới cho danh lục Vườn quốc gia Pù Mát?
Nghiên cứu đã ghi nhận và bổ sung loài Bướm phượng cánh đuôi nheo (Lamproptera curius F.) thuộc họ Bướm phượng (Papilionidae) cho danh lục bướm ngày của Vườn quốc gia Pù Mát.
Họ bướm ngày nào chiếm ưu thế lớn nhất về số lượng loài trong đợt khảo sát?
Họ Bướm giáp (Nymphalidae) chiếm tỷ lệ đa dạng loài cao nhất với 12 loài (chiếm 15,19% tổng số loài), tiếp theo là họ Bướm rừng (Amathusiidae) và họ Bướm mắt rắn (Satyridae) với cùng 11 loài (mỗi họ chiếm 13,92%).
Dạng sinh cảnh nào có số lượng loài bướm tập trung cao nhất và thấp nhất?
Sinh cảnh có số loài tập trung cao nhất là SC05 - Rừng phục hồi sau nương rẫy (trạng thái IIA, IIB) với 65 loài (chiếm 82,28%). Sinh cảnh ghi nhận số loài thấp nhất là SC04 - Rừng tự nhiên trên núi đá vôi với 54 loài (chiếm 68,35%).
Những loài bướm nào được xác định có vai trò là sinh vật chỉ thị cho hệ sinh thái rừng tự nhiên?
Các loài thuộc họ Bướm rừng (Amathusiidae) có đời sống gắn liền với tán rừng nguyên sinh ít bị xáo trộn được xác định làm sinh vật chỉ thị chất lượng rừng gồm: Stichophthalma howqua, Discophora sondaica và Thaumantis diores.
Có bao nhiêu loài bướm nằm trong Sách đỏ Việt Nam được ghi nhận trong nghiên cứu này?
Có 2 loài được ghi nhận gồm Bướm phượng cánh đuôi nheo (Lamproptera curius) nằm trong Sách đỏ Việt Nam năm 2000, và Bướm phượng đốm kem (Papilio noblei) được xếp hạng ở mức Sẽ nguy cấp (VU).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Trung đã khảo sát và lập danh lục 79 loài bướm ngày thuộc 48 giống của 11 họ tại Vườn quốc gia Pù Mát, ghi nhận bổ sung loài quý hiếm Lamproptera curius cho khu hệ bướm tại đây. Công trình đã lượng hóa mức độ bắt gặp và chỉ rõ mối tương quan giữa các taxon bướm với 6 dạng sinh cảnh đặc trưng, trong đó sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy và rừng ven sông suối thể hiện mức độ đa dạng cao nhất. Những dẫn liệu thực địa về đặc tính sinh học, cây thức ăn sâu non của các loài chỉ thị cùng hệ thống giải pháp ngăn chặn chăn thả gia súc tự do cung cấp luận cứ thực tiễn có giá trị cho công tác quản lý tài nguyên rừng và phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Vườn quốc gia Pù Mát.