MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Họ Sim (Myrtaceae Juss. 1789) là một trong những họ lớn của ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), trên thế giới có khoảng 4.000 loài thuộc 130 chi, phân bố ở khu vực Địa Trung Hải, châu Phi, Madagascar, châu Á, Australia, đảo Thái Bình Dương và khu vực nhiệt đới châu Mỹ [39]. Hiện nay, ở Việt Nam đã ghi nhận được 15 chi với 107 loài và thứ [3] chúng phân bố từ đồng bằng, trung du đến vùng núi cao.
Về giá trị, các loài trong họ Sim có thể được sử dụng làm đồ gỗ, trồng làm cảnh, nguyên liệu cho ngành dược, lấy tinh dầu, ăn được,… [6], [16], [21]. Đến nay, còn có công trình của tác giả Nguyễn Kim Đào (2023) trong Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập 2 - Nguyễn Tiến Bân chủ biên) [3] và một số công trình nghiên cứu riêng lẻ về họ Sim như Nguyễn Cảnh Hiếu và cộng sự (2021) [12], Trần Hậu Khanh (2022) [18]. Khu vực phía Nam tỉnh Thanh Hóa - Bắc tỉnh Nghệ An là vùng tiếp giáp giữa hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An có hệ thống núi đất xen kẽ núi đá vôi. Qua khảo sát, cho thấy ở khu vực này hệ thực vật khá đa dạng, phong phú.
Bên cạnh đó, tại đây hiện có 3 nhà máy xi măng (Nghi Sơn, Công Thanh và Hoàng Mai) đã và đang khai thác nguồn nguyên liệu để sản xuất xi măng nên ít nhiều có tác động đến hệ thực vật nói chung và họ Sim nói riêng. Cho đến nay, ở khu vực này đã có một số công trình nghiên cứu về thực vật như Phạm Hồng Ban và cộng sự (2009) nghiên cứu về thực vật có mạch [2], Đậu Bá Thìn và cộng sự (2014, 2019) nghiên cứu về họ Đậu, họ Cúc và họ Thầu dầu [24], [25], [26]. Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu riêng biệt nào về họ Sim tại đây. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng họ Sim (Myrtaceae) ở khu vực phía Nam tỉnh Thanh Hóa và phía Bắc tỉnh Nghệ An” nhằm đánh giá tính đa dạng về thành phần loài họ Sim cũng như giá trị của chúng tại khu khu vực này để làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được tính đa dạng về thành phần loài, dạng thân, yếu tố địa lý và giá trị sử dụng của các loài trong họ Sim (Myrtaceae) làm cơ sở cho việc khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên họ Sim (Myrtaceae) nói riêng và các họ thực vật khác nói chung. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về họ Sim trên thế giới Nghiên cứu đề cập về họ Sim (Myrtaceae) lần đầu tiên là nhà thực vật học C.
Jussieu (năm 1789) đã đặt tên họ Sim là Myrtaceae với typus là Myrta L. [41]; về sau các chi trong họ này đã có nhiều thay đổi, như các loài trong chi Eugenia L. được tác giả Gaertner (1732-1791) chuyển sang chi Syzygium, ông cho rằng Eugenia đặc trưng cho vùng phân bố châu Mỹ với đặc điểm cánh đài không dựng đứng cao trên bầu và quả buông thõng xuống, có múi, hạt không dính liền vào nội quả bì. Trong khi đó, các loài phân bố ở các châu lục còn lại được xếp vào chi mới là Syzygium Gaertn.
Sau này, Blume (1826) cũng tách từ chi Eugenia ra khỏi Syzygium để xây dựng 1 chi mới là Cleistocalyx Blume với lý do cánh đài dính nhau từ trong nụ và rơi một lượt, hạt dính vào nội quả bì. Trong khi đó chi Syzygium có cánh đài rời nhau hay chỉ dính nhau ở gốc, dựng trên noãn sào và luôn còn lại trên quả chín, hạt dính vào nội quả bì. Blume cũng đã chia họ Sim thành 11 chi với 53 loài [36]. Các thay đổi này không được cập nhật trong các Bộ thực vật chí của các nước châu Á nhiệt đới.
Craven cho rằng họ Sim trên thế giới có khoảng 130 chi và 4. Trong khi đó, tác giả F. Gagnepain trong Bộ thực vật chí đại cương Đông dương, tập 2 (1908) đã chia họ Sim thành 11 chi và 80 loài. Ông cũng sử dụng chi Eugenia L.
cho tất cả các loài thuộc chi Syzygium và chi Cleistocalyx, đồng thời còn xếp cả các chi Careya Roxb. và chi Barringtonia Forster thuộc họ Lecythidaceae cùng chi Suringaria Pierre [50]. Wilson & cộng sự đã thống kê được 133 3 chi và 3.800 loài, các loài chủ yếu tập trung ở châu Úc, Đông Nam châu Á và vùng Nhiệt đới đến Nam ôn đới, còn có một số ít ở châu Phi. Wilson cho rằng họ Sim bao gồm Psiloxylaceae và Heteropyxidaceae, tổng cộng có khoảng 142 chi và trên 5.
Takhtajan cho thấy họ Sim gồm phân họ Psiloxyloideae với đặc điểm chung là có lá mọc xen kẽ, có khoang tiết nhưng không chứa tinh dầu, trong phân họ Psiloxyloideae có 2 chi và có 127 chi, trong đó chi Alphanomyrtus nằm trong chi Syzygium và chi Monimiastrum nằm trong chi Eugenia. Phân họ Myrtoideae có đặc điểm chung: lá mọc đối hoặc sắp xếp theo hình xoắn ốc, trong khoang tiết có chứa tinh dầu [44]. Ngoài các công trình nghiên cứu tổng thể về họ Sim (Myrtaceae) trên toàn thế giới, còn có nhiều công trình nghiên cứu riêng lẻ cho từng taxon hoặc từng nhóm taxon hay các công trình thực vật chí của các nước, như: Bộ thực vật chí Ấn Độ “Flora of British India” (1879) do J. Hooker chủ biên; tác giả J.
Duthie vẫn sử dụng chi Eugenia cho toàn bộ chi Syzygium và Cleistocalyx, đồng thời chia họ này làm 3 tông, phân biệt bằng quả nang và quả thịt, bên cạnh đó ông đã xây dựng khóa định loại cho 12 chi với 158 loài [40]. Ở Trung Quốc, tác giả J. Ở Lào ghi nhận 14 chi và 118 loài [42]. Ở Thái Lan có 14 chi và 204 loài [38] và ở Malaysia đã ghi nhận 12 chi với 241 loài (theo [18]).
Nghiên cứu về họ Sim ở Việt Nam J. Khi nghiên cứu khu vực Đông Dương, tác giả H. 4 Tiếp theo công trình nghiên cứu của H. Lecomte là công trình “Cây cỏ miền nam Việt Nam” của tác giả Phạm Hoàng Hộ xuất bản năm 1960.
Ông đã thống kê và mô tả với 28 loài thuộc 10 chi và 1 thứ [13]. Năm 1965, tác giả Pócs Tamás trong công trình “Analyse aire- géographique et écologique de la flore du Vietnam Nord” đã ghi nhận 7 chi và 28 loài thuộc họ Sim ở Việt Nam [45]. Năm 1993, tác giả Phạm Hoàng Hộ đã cho xuất bản tác phẩm “Cây cỏ Việt Nam” tại Canada trên cơ sở kế thừa công trình “Cây cỏ miền nam Việt Nam”, tác giả đã xây dựng khóa định loại cho họ Sim ở Việt Nam với 14 chi và 101 loài và thứ, tác phẩm này được tái bản lần 1 năm 1999 và lần 2 năm 2003 [14]. Năm 2003, trong cuốn “Danh lục các loài thực vật Việt Nam”, tác giả Nguyễn Kim Đào đã lập danh lục 15 chi với 107 loài và thứ [11].
Về thành phần loài họ Sim (Myrtaceae) ở một số khu vực cụ thể, các nhà nghiên cứu khi đánh giá đa dạng thực vật đều thống kê phân loại họ Sim (Myrtaceae), chẳng hạn: Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1996) nghiên cứu về thực vật tại Vườn quốc gia (VQG) Cúc Phương đã công bố họ Sim (Myrtaceae) có 19 loài và dưới loài thuộc 5 chi [19]. Năm 2006, Nguyễn Nghĩa Thìn khi nghiên cứu đa dạng thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Na Hang, tỉnh Tuyên Quang đã xác định được họ Sim (Myrtaceae) có 14 loài và dưới loài thuộc 4 chi [30]. Tại VQG Hoàng Liên, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2008) đã ghi nhận họ Sim (Myrtaceae) có 6 loài thuộc 01 chi [31]. Khi nghiên cứu đa dạng sinh học tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, nhóm tác giả Trần Minh Hợi và cộng sự (2008) đã ghi nhận tại đây có 9 loài và dưới loài của 5 chi thuộc họ Sim (Myrtaceae) [15].
Năm 2017, tác giả Nguyễn Thanh Nhàn trong luận án tiến sĩ với đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật có mạch tại Vườn Quốc gia Pù Mát - Nghệ 5 An, nguyên nhân gây suy giảm và các giải pháp bảo tồn bền vững” đã ghi nhận 25 loài thuộc chi Syzygium [22]. Nguyễn Danh Hùng (2020), khi nghiên cứu đa dạng thực vật có mạch và đề xuất các giải pháp bảo tồn ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An đã ghi nhận 18 loài thuộc chi Syzygium [17],… Ngoài những công trình đã được công bố theo dạng khóa định loại, dạng danh lục, dạng sách tra cứu, các loài thực vật thuộc họ Sim còn được công bố theo hướng các loài có giá trị như: Giá trị làm cây cảnh, giá trị làm thuốc, giá trị trong xây dựng,… Điển hình năm 1993 công trình do Trần Đình Lý và cộng sự biên soạn “1.900 loài cây có ích ở Việt Nam” đã ghi nhận họ Sim có 31 loài thuộc 10 chi có công dụng làm thuốc [20]. Gần đây nhất có công trình của Viện Dược Liệu (2016) đã lập danh lục và mô tả 10 chi với 27 loài thuộc họ Sim được sử dụng làm thuốc ở Việt Nam [34]. Năm 1999, tác giả Lê Trần Chấn và cộng sự trong tác phẩm “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam” đã ghi nhận 94 loài và 14 chi [5].
Bên cạnh đó, họ Sim còn được công bố trong các công trình nghiên cứu về tính đa dạng của hệ thực vật ở các khu vực khác nhau trong cả nước, đặc biệt là các công trình nghiên cứu đa dạng hệ thực vật ở các VQG và khu BTTN. Trong cuốn sách “Tên cây rừng Việt Nam” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn biên soạn năm 2000, đã thống kê trong họ Sim có 9 chi với 59 loài [4]. Nghiên cứu họ Sim (Myrtaceae) riêng lẽ, tác giả Nguyễn Cảnh Hiếu và cộng sự (2021) khi nghiên cứu ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An đã ghi nhận có 38 loài thuộc 9 họ với 4 dạng sống, 6 nhóm giá trị khác nhau [12]. 6 Trong luận án tiến sĩ, Trần Hậu Khanh (2022) [18] đã xác định được 63 loài thuộc 13 chi trong họ Sim (Myrtaceae) ở tỉnh Hà Tĩnh và tất cả các loài trên đều có giá trị sử dụng: Cây cho tinh dầu với 63 loài, cây lấy gỗ với 48 loài, cây làm thuốc với 32 loài, cây cho quả ăn được với 25 loài, cây làm cảnh với 11 loài, cây có công dụng khác với 7 loài và cây cho tanin, thuốc nhuộm với 4 loài.