Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Nhân học với đề tài "Sinh kế của người Mường ở xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Anh thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Xuân Đính và PGS. Trần Văn Thức, bảo vệ năm 2019 (Mã số chuyên ngành: 9 31 03 02).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng dưới góc độ Nhân học, sinh kế (kế mưu sinh, phương thức mưu sinh) phản ánh phương thức ứng xử của con người trước môi trường tự nhiên, đồng thời quy định các thiết chế văn hóa, xã hội của cộng đồng. Người Mường cư trú truyền thống tại các thung lũng chân núi với sinh kế chủ đạo là làm ruộng nước, kết hợp làm nương rẫy, khai thác tự nhiên và thủ công gia đình. Tại miền Tây tỉnh Thanh Hóa, Cẩm Lương là một xã vùng cao có đa số đồng bào Mường sinh tụ lâu đời trong cảnh quan lòng chảo bao bọc bởi đồi núi, sông Mã và hệ thống suối. Từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới, đặc biệt là sự xuất hiện của hoạt động du lịch tại Suối cá Cẩm Lương, sinh kế của cư dân địa phương đã có những chuyển biến rõ nét. Tuy nhiên, việc chuyển đổi sinh kế và công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương nảy sinh nhiều vấn đề thực tiễn cần được luận giải khoa học nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Luận án được triển khai để giải quyết khoảng trống nghiên cứu nhân học chuyên sâu về sinh kế tộc người tại địa bàn này.

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung:

  1. Làm rõ thực trạng sinh kế hiện nay của người Mường ở địa bàn nghiên cứu, trên cơ sở phân tích và so sánh với sinh kế truyền thống;
  2. Xác định những vấn đề đang đặt ra đối với sinh kế của người Mường ở xã Cẩm Lương hiện nay trong mối quan hệ với phát triển bền vững; tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của người Mường, của địa phương.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm ba nhiệm vụ:

  1. Thu thập các nguồn tài liệu liên quan đến hoạt động sinh kế hiện nay của người Mường ở xã Cẩm Lương, gồm nông nghiệp, các nghề thủ công, các loại hình dịch vụ;
  2. Luận giải các khía cạnh liên quan đến hoạt động sinh kế hiện nay của người Mường tại địa bàn nghiên cứu: các dạng thức sinh kế (nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ) gắn với các nguồn vốn của sinh kế, những yếu tố tác động đến sinh kế và tác động của sinh kế đối với các mặt đời sống của người Mường xã Cẩm Lương;
  3. Nêu một số vấn đề đặt ra đối với sinh kế hiện nay của người Mường xã Cẩm Lương, tạo cơ sở khoa học để Đảng bộ, chính quyền địa phương tham khảo trong việc đề ra các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập.

Đối tượng nghiên cứu là các dạng thức sinh kế hiện nay gắn với môi trường sống của người Mường xã Cẩm Lương.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Phạm vi không gian: Xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa, bao gồm 6 thôn: Kim Mẫm 1, Kim Mẫm 2, Lương Ngọc, Lương Hòa, Lương Thuận và Xủ Xuyên. Nghiên cứu khảo sát trên toàn bộ 6 thôn, trong đó tập trung chuyên sâu vào hai thôn: thôn Lương Thuận (nổi bật về chuyển đổi cơ cấu cây trồng) và thôn Lương Ngọc (nơi có Suối cá, chuyển dịch mạnh sang hoạt động dịch vụ du lịch).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu các dạng thức sinh kế đang diễn ra hiện nay, là sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố mới thời kỳ Đổi mới. Luận án lấy mốc từ tháng 9 năm 2005 - thời điểm cầu treo qua sông Mã hoàn thành, phá vỡ thế cô lập giao thông của xã, thúc đẩy các hoạt động kinh tế và du lịch phát triển. Các số liệu thống kê về sinh kế được thu thập chủ yếu trong giai đoạn 2015 - 2018; các đợt điền dã thực tế được tiến hành từ năm 2015 đến năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia theo các nhóm công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế:

  1. Các nghiên cứu quốc tế về sinh kế: Tác giả điểm lại các quan điểm kinh điển về nông nghiệp và phương thức mưu sinh của V.Nikitin (về sự xuất hiện và vai trò của nông nghiệp), N.Tsêbốcsarốp (đặc trưng văn hóa nông nghiệp Đông Nam Á), G.Gromop và IU. Novichkop (dân tộc học nông nghiệp gắn với địa lý tự nhiên), Emily A. Schultz và Robert H. Lavenda (khái niệm phương thức mưu sinh, phương cách sinh tồn với các cấp độ khai thác và sản xuất). Về mặt lý thuyết sinh kế, luận án điểm các công trình của Carney và Conway (1998), Hussein và Nelson (1998), Koos Neefjes (2000). Về mặt thực tiễn biến đổi sinh kế tộc người, luận án kế thừa các nghiên cứu của Kasi Eswarappa (2007) ở Ấn Độ, Li Ya-Juan (2012) về thay đổi sinh kế do du lịch tại Quý Châu (Trung Quốc), Mahdi và G. Sivakoti (2014) về sinh kế bền vững tại Tây Sumatra (Indonesia).

  2. Các nghiên cứu về sinh kế tộc người ở Việt Nam: Tác giả khảo cứu các bộ sách tổng quan của Viện Dân tộc học gồm Các dân tộc ít người ở Việt Nam (1978, 1983) và bộ sách 4 tập Các dân tộc ở Việt Nam (2014 - 2017); các chuyên khảo về kinh tế - xã hội miền núi của Mạc Đường (1964), Vương Hoàng Tuyên (1963), Bùi Tịnh (1978), Bùi Văn Kín (1972), Nguyễn Đình Lộc (1993), Phạm Quang Hoan (2011), Nguyễn Ngọc Thanh (2014); các công trình nghiên cứu chuyên sâu về tập quán kinh tế của Trần Bình (2004, 2005), Bùi Minh Đạo (2000), Bùi Thị Bích Lan (2011), Đoàn Đình Thi (1995), Nguyễn Văn Toàn (2005), Nguyễn Đăng Hiệp Phố (2012), Bùi Xuân Đính và Nguyễn Ngọc Thanh (2013).

  3. Các nghiên cứu về người Mường và sinh kế người Mường: Luận án dẫn xuất công trình nền tảng Les Mường - Géographie humaine et sociologie (1948) của Jeanne Cuisinier; các nghiên cứu của Nguyễn Từ Chi (1996), Bùi Văn Kín (1972), Nguyễn Dương Bình (1978), Nguyễn Ngọc Thanh và Nguyễn Thị Thanh Nga (2006). Các nghiên cứu về khía cạnh kinh tế, nghề thủ công của Mai Văn Tùng, Hà Văn Linh, Trần Hồng Thu, Nguyễn Vũ, Minh Quang; nghiên cứu về quản lý và sử dụng đất đai của Quách Thị Oanh, Trần Đăng Tuấn, Lương Thu Hằng. Đặc biệt là các nghiên cứu về biến đổi sinh kế của người Mường dưới tác động của cơ chế thị trường của Vương Xuân Tình (2004 tại xã Phong Phú, huyện Tân Lạc), luận án của Nguyễn Phú Trường (2014) về thanh niên Mường ở Hòa Bình, và Trịnh Thị Hạnh (2017) về người Mường vùng tái định cư thủy điện Hòa Bình.

  4. Các nghiên cứu về người Mường tại Thanh Hóa và xã Cẩm Lương: Tác giả điểm các công trình nghiên cứu văn hóa dân gian của Vương Anh, Hoàng Anh Nhân, Cao Sơn Hải, Ngô Hoài Chung, Minh Hiệu; nghiên cứu tri thức địa phương của Mai Văn Tùng, Trịnh Hồng Lệ; các bộ Địa chí Thanh Hóa, Địa chí huyện Bá Thước, Địa chí huyện Cẩm Thủy, Địa chí huyện Lang Chánh, Địa chí huyện Ngọc Lặc; sách Lịch sử Thanh Hóa (tập 2) và Di tích và danh thắng Thanh Hóa (tập 1). Riêng về xã Cẩm Lương, có khóa luận tốt nghiệp của Phạm Thị Ly (2011, Đại học Huế) về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo; luận án tiến sĩ của Nguyen Viet Duc (2013, Đại học Victoria Wellington, New Zealand) về sinh kế người Mường và vai trò của giáo dục tại huyện Cẩm Thủy.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình nghiên cứu về người Mường tập trung tại tỉnh Hòa Bình; tại Thanh Hóa, các công trình chủ yếu khai thác văn học dân gian, lễ hội, tín ngưỡng hoặc địa chí hành chính. Nghiên cứu về sinh kế tộc người Mường chủ yếu bàn về yếu tố truyền thống, số lượng nghiên cứu về biến đổi sinh kế hiện nay còn hạn chế. Đặc biệt, chưa có công trình khoa học chuyên khảo nào thuộc ngành Nhân học nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về thực trạng sinh kế và sự chuyển đổi sinh kế của người Mường tại xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy trong bối cảnh giao lưu kinh tế và phát triển du lịch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án sử dụng hai lý thuyết tiếp cận chính:

  • Lý thuyết Khung sinh kế bền vững (DFID) của Chambers và Conway (1992), Scoones (1998): Xem xét sinh kế dựa trên sự tiếp cận và sử dụng 5 nguồn vốn cơ bản gồm Vốn tự nhiên (đất đai, rừng, nguồn nước), Vốn vật chất (nhà cửa, công cụ sản xuất, cơ sở hạ tầng giao thông), Vốn tài chính (tiền tích lũy, các nguồn vốn vay ngân hàng), Vốn con người (số lượng lao động, sức khỏe, học vấn, kinh nghiệm sản xuất), và Vốn xã hội (mối quan hệ dòng họ, xóm làng, tổ chức đoàn thể). Năm nguồn vốn này tương tác với bối cảnh dễ bị tổn thương, các thể chế, chính sách và chiến lược sinh kế của hộ gia đình.
  • Lý thuyết Biến đổi văn hóa (cultural transition) của Dube, Koos Neefjes, Champer và Ashley: Tiếp cận sinh kế như một thành tố cốt lõi của văn hóa (văn hóa sản xuất, văn hóa mưu sinh), giải thích sự biến đổi sinh kế của cộng đồng dưới tác động của các chính sách phát triển, tiến bộ kỹ thuật, áp lực môi trường và sự giao lưu kinh tế thị trường.

Luận án làm rõ các khái niệm công cụ: "Sinh kế", "Sinh kế truyền thống", "Sinh kế hiện nay", "Nguồn lực mưu sinh" (đồng nhất với vốn sinh kế), "Biến đổi sinh kế", "Sinh kế bền vững" và "Phát triển bền vững" (theo định nghĩa quốc tế và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội).

Về phương pháp luận, tác giả sử dụng phép biện chứng duy vật lịch sử, đặt các hiện tượng sinh kế trong mối quan hệ đa chiều với môi trường tự nhiên, bối cảnh lịch sử, thiết chế xã hội tộc người và các chính sách quản lý nhà nước.

Về phương pháp nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu liên ngành được triển khai với Điền dã Dân tộc học là phương pháp chủ đạo. Tác giả thực hiện nhiều đợt điền dã thực tế, tiêu biểu là hai đợt thực địa tập trung từ ngày 28/4 đến 05/5/2016 và từ ngày 24/12 đến 31/12/2017 có sự hướng dẫn trực tiếp của người hướng dẫn khoa học. Các kỹ thuật thu thập thông tin gồm:

  • Quan sát và quan sát tham dự: Tham gia trực tiếp vào các hoạt động lao động nông nghiệp (bừa ruộng, chăm sóc và thu hoạch mía, chăm sóc cá lồng), tham gia các hoạt động dịch vụ tại khu du lịch Suối cá (bán hàng, chặt tre, vót đũa), tham gia các sinh hoạt gia đình và lễ hội cộng đồng.
  • Phỏng vấn sâu Dân tộc học: Tiến hành phỏng vấn các bậc cao niên, trưởng họ, thầy cúng (về lịch sử vùng đất, địa lý, phong tục); phỏng vấn người dân tham gia các hoạt động sinh kế (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi cá lồng, kinh doanh du lịch, thu hái lâm sản); phỏng vấn cán bộ quản lý xã và thôn.
  • Thảo luận nhóm: Tổ chức các cuộc thảo luận nhóm với nhóm người cao tuổi ở thôn Lương Ngọc, nhóm hộ trồng mía ở thôn Lương Thuận, nhóm cán bộ UBND xã và trưởng các thôn.
  • Phương pháp lịch sử kinh tế hộ gia đình, phương pháp tham vấn chuyên gia, cùng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê mô tả và so sánh dân tộc học.

Nguồn tư liệu sử dụng gồm tư liệu sơ cấp từ các đợt điền dã thực địa (2015 - 2017), phỏng vấn sâu, hồi cố dân tộc học và tư liệu thứ cấp từ báo cáo định kỳ của Đảng ủy, HĐND, UBND xã Cẩm Lương, Ban Công an xã, số liệu địa chính xã, Niên giám thống kê huyện Cẩm Thủy và các tài liệu lưu trữ của địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIỚI THIỆU NGƯỜI MƯỜNG Ở ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu, hệ thống cơ sở lý thuyết, các khái niệm cơ bản và giới thiệu tổng quan địa bàn nghiên cứu.

Về địa lý và giao thông, xã Cẩm Lương nằm ở tả ngạn sông Mã, phía Bắc huyện Cẩm Thủy, cách trung tâm huyện 12 km về phía Tây Bắc, cách thành phố Thanh Hóa 85 km. Địa hình mang đặc trưng thung lũng chân núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương với dải Trường Sinh chạy dài (độ cao trung bình 200 - 400 m, đỉnh cao nhất trên 500 m), gắn với các đồi thấp ăn sát ra bờ sông Mã. Khí hậu thuộc vùng nhiệt đới gió mùa ẩm (nhiệt độ trung bình 22 - 25°C, độ ẩm 65 - 68%, lượng mưa trung bình 1.900 mm/năm). Hệ thống thủy văn gồm đoạn sông Mã dài khoảng 6 km bao bọc ba mặt xã và hệ thống khe suối (hón). Đặc biệt, suối Ngọc (dài hơn 200 m, rộng 3 m) tại thôn Lương Ngọc có đàn cá hàng nghìn con, trọng lượng từ 2 kg đến 8 kg, cá chúa nặng tới 30 kg; loài cá chiếm số đông là cá Bỗng/cá Dốc (Spinibarbus denticulatus, thuộc Sách đỏ Việt Nam), được người dân tôn kính là "cá thần", hình thành thiết chế kiêng kỵ bảo vệ nguồn nước và đàn cá. Cách Suối cá 200 m là Động Đăng nằm trên sườn núi Trường Sinh.

Về giao thông, trước tháng 9 năm 2005, Cẩm Lương ở thế cô lập như một "ốc đảo", việc giao thương hoàn toàn phụ thuộc vào hai bến đò ngang (ở thôn Xủ Xuyên và xã Cẩm Thạch) cùng các thuyền độc mộc vượt sông Mã rất nguy hiểm trong mùa lũ. Tháng 9 năm 2005, cầu treo qua sông Mã nối xã Cẩm Thành sang thôn Kim Mẫm được thông xe, kết nối trực tiếp với Quốc lộ 217. Đến năm 2010, tuyến đường xuyên núi Hang Bò từ thôn Lương Thuận sang xã Cẩm Giang được đưa vào sử dụng, mở đường thông ra đường Hồ Chí Minh (cách 8 km), phá vỡ thế cô lập tự nhiên.

Số liệu hiện trạng sử dụng đất đai của xã Cẩm Lương năm 2015 được tác giả tổng hợp tại Bảng 1.1 trong văn bản:

TT Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1 Đất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản 1.295,97 81,25
- Đất nông nghiệp 297,00 -
- Đất lâm nghiệp 991,21 -
- Đất nuôi trồng thủy sản 7,76 -
2 Đất ở và đất chuyên dùng 205,55 12,90
- Đất ở 65,79 -
- Đất chuyên dùng 120,19 -
- Đất cơ sở tín ngưỡng 0,08 -
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa 19,12 -
- Đất mặt nước chuyên dùng 0,37 -
3 Đất sông suối 79,86 5,00
4 Đất chưa sử dụng 13,56 0,85
Tổng Tổng diện tích tự nhiên (1 + 2 + 3 + 4) 1.594,94 100,00

Về cơ cấu dân cư, tính đến tháng 8 năm 2017, toàn xã có 769 hộ với 3.596 nhân khẩu, phân bố tại 6 thôn. Số liệu phân bố hộ và khẩu theo dân tộc được thể hiện ở Bảng 1.2 trong văn bản:

TT Thôn Người Mường (Số hộ) Người Mường (Số khẩu) Người Việt (Số hộ) Người Việt (Số khẩu) Các tộc người khác (Số hộ) Các tộc người khác (Số khẩu)
1 Xủ Xuyên 27 104 108 390 01 08
2 Kim Mẫm 1 98 419 31 128 0 02
3 Kim Mẫm 2 128 504 02 20 0 02
4 Lương Ngọc 148 593 22 96 0 07
5 Lương Hòa 94 391 01 15 0 05
6 Lương Thuận 108 398 01 20 0 05
Tổng Toàn xã 603 2.409 165 669 01 29
Tỷ lệ Tỷ lệ % tương ứng 79,71% 77,53% 21,45% - - -

Người Mường tại địa bàn gồm ba nhóm nguồn gốc, trong đó nhóm cư trú lâu đời nhất là người Mường sở tại (Mường Trong).

Chương 2: CÁC HOẠT ĐỘNG SINH KẾ SẢN XUẤT VÀ KHAI THÁC CÁC SẢN VẬT TỰ NHIÊN

Chương 2 tập trung phân tích các nguồn vốn và các dạng thức sinh kế truyền thống đang biến đổi:

  • Về nguồn vốn: Luận án phân tích chi tiết Vốn tự nhiên (297 ha đất nông nghiệp, 991,21 ha đất lâm nghiệp, hệ thống nguồn nước sông Mã và suối); Vốn vật chất (nhà cửa, công trình kiên cố hóa, máy móc nông nghiệp nhỏ, công cụ sản xuất - phản ánh qua Bảng 2.1); Vốn tài chính (thu nhập tự tích lũy, tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng nông nghiệp và chính sách xã hội - phản ánh qua Bảng 2.2 về dư nợ 2015 - 2017); Vốn con người (nguồn lao động dồi dào, kinh nghiệm canh tác thung lũng nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa cao).
  • Hoạt động trồng trọt: Chuyển dịch mạnh mẽ từ độc canh lúa nước tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa. Trước năm 2000, do thủy lợi hạn chế, phần lớn ruộng chỉ cấy 1 vụ mùa, vụ chiêm bỏ hóa (trừ một phần ruộng ở thôn Lương Ngọc đủ nước suối cấy 2 vụ). Sau khi hoàn thiện hệ thống thủy lợi và cầu đường, nhân dân cấy lúa 2 vụ ăn chắc, đồng thời mở rộng diện tích trồng ngô, lạc trên đất bãi bồi. Đặc biệt, cây mía nguyên liệu trở thành cây trồng hàng hóa chủ lực mang lại thu nhập tiền mặt vượt trội so với trồng lúa, tập trung nhiều nhất tại thôn Lương Thuận (thể hiện qua Bảng 2.3 và các phỏng vấn tại Hộp 2.1, Hộp 2.2).
  • Hoạt động chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản: Chuyển đổi từ phương thức chăn thả rông gia súc, gia cầm sang mô hình nuôi nhốt, phát triển các gia trại quy mô vừa và nhỏ; hình thành mô hình nuôi cá lồng trên lòng sông Mã tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên (số liệu tại Bảng 2.4).
  • Lâm nghiệp và khai thác sản vật tự nhiên: Hoạt động lâm nghiệp chuyển trọng tâm sang trồng, chăm sóc và khoanh nuôi bảo vệ rừng luồng, gỗ tạp; khai thác các sản vật tự nhiên (thu hái măng rừng, nấm hương, mộc nhĩ, lá thuốc nam) phục vụ nhu cầu đời sống và cung cấp sản phẩm đặc sản cho du khách tại Suối cá; hoạt động săn bắt thú rừng giảm sút và dần chấm dứt do sự suy giảm tài nguyên rừng và các quy định bảo vệ động vật hoang dã.
  • Thủ công nghiệp và làm công nhân: Nghề dệt thổ cẩm và đan lát gia đình truyền thống từng bước thu hẹp, một bộ phận hộ dân duy trì dệt để bán sản phẩm lưu niệm cho khách du lịch; xu hướng lao động trẻ chuyển dịch mạnh sang làm công nhân tại các khu công nghiệp trong và ngoài tỉnh hoặc xuất khẩu lao động (thể hiện qua Bảng 2.5).

Chương 3: CÁC HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ

Chương này phân tích sự hình thành và mở rộng của các dạng thức sinh kế phi nông nghiệp:

  • Các nguồn vốn cho hoạt động dịch vụ: Vốn xã hội (mối liên kết gia đình, dòng họ trong việc san sẻ mặt bằng bán hàng, vay mượn vốn, hỗ trợ bán hàng giúp người thân - minh chứng qua Hộp 3.3); Vốn tài chính và địa điểm kinh doanh tại các trục giao thông chính và khu vực cảnh quan.
  • Bức tranh dịch vụ chung: Sự hình thành của mạng lưới cửa hàng tạp hóa, dịch vụ xay xát, dịch vụ đám cưới, quán bia, xưởng sửa chữa cơ khí dân sinh phục vụ sinh hoạt nội bộ cộng đồng (số liệu tại Bảng 3.1).
  • Hoạt động dịch vụ du lịch tại khu Suối cá Cẩm Lương (tập trung ở thôn Lương Ngọc):
    • Tiền đề hình thành: Việc phát sóng chương trình "Những chuyện lạ Việt Nam" trên kênh VTV3 năm 2004 giới thiệu đàn "cá thần" và việc thông xe cầu treo năm 2005 đã đưa lượng lớn du khách từ khắp nơi đổ về tham quan.
    • Các hình thức dịch vụ đầu tiên: Xuất hiện tự phát từ việc người dân mang các sản vật vườn nhà (rau rừng, trứng gà, ngô luộc, nước chè) phục vụ khách ghé thăm.
    • Các loại hình dịch vụ hiện nay: Phát triển hệ sinh thái dịch vụ đa dạng gồm các quầy hàng ăn uống, quầy bán đặc sản địa phương (măng khô, mật ong, hạt dổi, rau sắng, nem chua Thanh Hóa), quầy hàng bán đồ lưu niệm dệt thổ cẩm, đồ chơi trẻ em, dịch vụ trông giữ xe máy, ô tô, câu lạc bộ thợ chụp ảnh lưu niệm (Hộp 3.4), các cơ sở nhà nghỉ, homestay phục vụ lưu trú (Bảng 3.2). Luận án cũng phân tích tình trạng một số mô hình dịch vụ thất bại như nhà nghỉ vắng khách (Hộp 3.5) hoặc mở quán rồi phải đóng quán sớm do thiếu kinh nghiệm thị trường (Hộp 3.1).

Chương 4: MỘT VÀI BÀN LUẬN TỪ NGHIÊN CỨU SINH KẾ HIỆN NAY CỦA NGƯỜI MƯỜNG XÃ CẨM LƯƠNG

Chương 4 tổng hợp các phân tích học thuật và đưa ra khuyến nghị thực tiễn:

  • Đánh giá biến đổi sinh kế:
    • Mặt tích cực: Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch rõ rệt từ thuần nông tự cấp sang kinh tế đa dạng (nông nghiệp kết hợp dịch vụ, buôn bán và lao động tiền công); tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh qua các năm; mức sống và thu nhập của người dân được nâng lên, hình thành tầng lớp hộ có thu nhập trung bình khá tại các thôn trọng điểm Lương Ngọc và Lương Thuận (số liệu minh chứng tại Bảng 4.1 và Bảng 4.2).
    • Mặt chưa hiệu quả: Hoạt động dịch vụ du lịch còn mang tính tự phát, manh mún, phụ thuộc nặng nề vào tính mùa vụ (đông khách dịp đầu năm, vắng khách vào mùa đông); sản phẩm du lịch đơn điệu, chất lượng chưa đồng đều; dịch vụ lưu trú kém phát triển; phát sinh mâu thuẫn trong việc điều tiết và phân chia nguồn thu vé tham quan giữa đơn vị quản lý và cộng đồng dân cư sở tại (Hộp 4.2); một bộ phận người già mở sạp buôn bán đối mặt với khó khăn khi sức khỏe suy giảm (Hộp 4.1).
  • Nhìn nhận từ góc độ Dân tộc học/Nhân học: Sự biến đổi sinh kế thể hiện khả năng thích ứng linh hoạt của người Mường trước kinh tế thị trường; sự kết hợp hài hòa giữa tri thức dân gian (tín ngưỡng kiêng kỵ bảo vệ cá thần) với hoạt động kinh tế hiện đại; sự biến đổi trong cấu trúc gia đình và mạng lưới quan hệ dòng họ khi xuất hiện cạnh tranh thương mại.
  • Thuận lợi và khó khăn:
    • Thuận lợi: Tài nguyên tự nhiên đặc sắc (Suối cá thần, Động Đăng, cảnh quan thung lũng sông Mã); giao thông thuận tiện sau khi có cầu treo và đường liên xã; các chính sách hỗ trợ phát triển nông thôn mới của Nhà nước.
    • Khó khăn: Vị trí địa lý thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt sông Mã và lũ suối theo chu kỳ (trung bình 10 năm một trận lũ lớn như các năm 1987, 1997, 2007, 2017); diện tích đất canh tác bình quân đầu người thấp; thị trường nông sản (giá mía) bấp bênh; trình độ quản lý và kỹ năng làm du lịch chuyên nghiệp của người dân còn yếu.
  • Đề xuất và kiến nghị: Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp gồm quy hoạch tổng thể không gian du lịch Suối cá - Động Đăng; xây dựng cơ chế phân chia lợi ích minh bạch cho cộng đồng cư dân sở tại; tổ chức đào tạo kỹ năng kinh doanh du lịch văn minh; hỗ trợ liên kết tiêu thụ cây mía và nông sản; đầu tư cơ sở hạ tầng phòng chống thiên tai lũ lụt sông Mã; gắn kết phát triển sinh kế với giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống Mường.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đóng góp nguồn tư liệu nhân học thực chứng phong phú và hệ thống về sinh kế cùng quá trình biến đổi sinh kế của người Mường tại khu vực trung gian miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa. Luận án khẳng định tính hữu dụng của việc kết hợp Khung phân tích sinh kế bền vững (DFID) với Lý thuyết Biến đổi văn hóa trong việc giải mã các chiến lược ứng phó, huy động nguồn vốn (tự nhiên, vật chất, tài chính, con người, xã hội) của cộng đồng thiểu số trước bối cảnh mở cửa kinh tế và hiện đại hóa hạ tầng.

Về mặt thực tiễn, luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên mô tả toàn diện diện mạo sinh kế của người Mường xã Cẩm Lương từ góc độ dân tộc học. Luận án làm rõ quá trình chuyển dịch từ nền nông nghiệp thung lũng khép kín sang nền kinh tế hàng hóa đa dạng hóa cây trồng (lúa 2 vụ, mía nguyên liệu) và dịch vụ du lịch sinh thái - tâm linh Suối cá Cẩm Lương. Công trình xác định rõ các điểm nghẽn về hạ tầng, tính mùa vụ du lịch và mâu thuẫn lợi ích cục bộ.

Về kiến nghị và giải pháp, luận án đề xuất các giải pháp khả thi cho cấp ủy, chính quyền xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy và tỉnh Thanh Hóa:

  • Tái quy hoạch không gian dịch vụ và điểm bán hàng tại khu du lịch Suối cá văn minh, trật tự, đảm bảo vệ sinh môi trường;
  • Xây dựng quy chế chia sẻ lợi ích công bằng giữa ban quản lý di tích và người dân địa phương tham gia dịch vụ;
  • Đào tạo nghề du lịch cộng đồng, nâng cao chất lượng phục vụ và đa dạng hóa sản phẩm lưu niệm mang đậm bản sắc Mường;
  • Quy hoạch vùng nguyên liệu mía ổn định gắn với hợp đồng bao tiêu của nhà máy đường;
  • Đầu tư kiên cố hóa hệ thống đê bao, thủy lợi để ứng phó với lũ lụt chu kỳ của sông Mã.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án tập trung khảo sát phạm vi không gian trong ranh giới hành chính của một xã (xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy). Nguồn số liệu thống kê thứ cấp lưu trữ tại địa phương còn thiếu tính đồng bộ và liên tục qua các thời kỳ, buộc tác giả phải tập trung khai thác số liệu thống kê giai đoạn 2015 - 2018.

Về hướng nghiên cứu tiếp, công trình mở ra các hướng tiếp cận sau:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh sinh kế của người Mường ở Cẩm Lương với các cộng đồng người Mường tại các huyện khác của tỉnh Thanh Hóa (như Bá Thước, Thạch Thành, Ngọc Lặc) hoặc với người Mường tại tỉnh Hòa Bình;
  • Đánh giá sâu hơn tác động lâu dài của việc thương mại hóa du lịch đến sự biến đổi các chuẩn mực văn hóa, quan hệ dòng họ và thiết chế làng bản truyền thống của người Mường;
  • Nghiên cứu các mô hình thích ứng sinh kế bền vững trước tác động của biến đổi khí hậu và biến động thị trường tiêu thụ nông sản công nghiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Nhân học, Dân tộc học, Văn hóa học, Địa lý kinh tế và Phát triển nông thôn có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp điền dã dân tộc học với Khung sinh kế bền vững (DFID) được trình bày tại Chương 1.
  • Cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ hoạch định chính sách dân tộc, văn hóa và du lịch tại huyện Cẩm Thủy và tỉnh Thanh Hóa có thể sử dụng các phát hiện thực tế tại Chương 3 và Chương 4 làm căn cứ thực tiễn để xây dựng đề án phát triển du lịch cộng đồng, quy hoạch nông nghiệp nông thôn và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa Mường có thể khai thác hệ thống dữ liệu điền dã chi tiết về tri thức bản địa, tín ngưỡng bảo vệ "cá thần" và văn hóa mưu sinh truyền thống ghi chép tại Chương 1 và Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Mốc thời gian nào tạo ra bước ngoặt căn bản chấm dứt thế cô lập giao thông và thúc đẩy biến đổi sinh kế của người Mường xã Cẩm Lương?
Đó là tháng 9 năm 2005, thời điểm cây cầu treo bắc qua sông Mã nối từ đầu xã Cẩm Thành sang thôn Kim Mẫm chính thức thông xe. Sự kiện này giúp người dân chấm dứt hoàn toàn việc qua sông bằng đò ngang, đò dọc hiểm trở, kết nối trực tiếp xã với Quốc lộ 217. Tiếp đó, vào năm 2010, tuyến đường từ thôn Lương Thuận xuyên núi Hang Bò sang xã Cẩm Giang được đưa vào sử dụng, thông ra đường Hồ Chí Minh, hoàn chỉnh mạng lưới giao thông liên vùng.

2. Loài cá chủ đạo tại Suối cá Cẩm Lương có tên khoa học là gì và niềm tin tâm linh của cộng đồng có vai trò như thế nào đối với việc duy trì sinh kế?
Loài cá sống chủ yếu tại Suối cá Cẩm Lương là cá Bỗng (người địa phương gọi là cá Dốc hoặc cá Vốc), tên khoa học là Spinibarbus denticulatus, thuộc bộ Cá chép, là loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam. Người Mường tin rằng đây là đàn "cá thần" mang lại sự bình yên, no ấm cho bản làng. Niềm tin này tạo nên thiết chế kiêng kỵ tuyệt đối không ai được bắt, giết thịt hay làm hại cá, từ đó bảo vệ nguyên vẹn môi trường nguồn nước suối Ngọc và tạo nền tảng cốt lõi cho hoạt động dịch vụ du lịch Suối cá.

3. Cơ cấu diện tích đất đai và thành phần dân tộc của xã Cẩm Lương được thống kê như thế nào trong luận án?
Theo số liệu năm 2015 của Bộ phận địa chính xã, tổng diện tích tự nhiên là 1.594,94 ha; trong đó đất lâm nghiệp chiếm diện tích lớn nhất với 991,21 ha, đất nông nghiệp là 297,00 ha, đất nuôi trồng thủy sản 7,76 ha. Về dân số, theo số liệu tháng 8 năm 2017 của Ban Công an xã, toàn xã có 769 hộ với 3.596 khẩu; trong đó người Mường chiếm đa số với 603 hộ (79,71% tổng số hộ) và 2.409 khẩu (77,53% tổng số khẩu), người Việt có 165 hộ (669 khẩu), còn lại là các tộc người khác rải rác.

4. Vì sao tác giả lựa chọn tập trung nghiên cứu sâu tại hai thôn Lương Thuận và Lương Ngọc?
Tác giả chọn hai thôn này vì đây là hai địa bàn đại diện tiêu biểu nhất cho hai xu hướng biến đổi sinh kế nổi bật của xã Cẩm Lương: thôn Lương Thuận là điển hình cho sự bứt phá trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp hàng hóa (mở rộng diện tích trồng mía nguyên liệu có hiệu quả kinh tế cao); còn thôn Lương Ngọc là nơi có Suối cá thần và Động Đăng, đại diện cho quá trình chuyển đổi sinh kế mạnh mẽ từ nông nghiệp sang hoạt động dịch vụ du lịch.

5. Những phương pháp điền dã dân tộc học nào được tác giả sử dụng trực tiếp để thu thập tư liệu thực địa?
Tác giả đã sử dụng tổng hợp các thao tác: quan sát cảnh quan môi trường cư trú; quan sát tham dự trực tiếp vào các khâu canh tác nông nghiệp (bừa ruộng, chăm sóc thu hoạch mía, nuôi cá lồng) và dịch vụ (bán hàng, vót đũa); phỏng vấn sâu cá nhân (với già làng, trưởng họ, thầy cúng, hộ sản xuất, hộ làm du lịch, cán bộ xã); thảo luận nhóm tập trung; và phương pháp tìm hiểu lịch sử kinh tế hộ gia đình.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Nhân học của Nguyễn Thế Anh là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về thực trạng và sự biến đổi sinh kế của người Mường tại xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh Đổi mới và hội nhập. Dựa trên Khung sinh kế bền vững và Lý thuyết Biến đổi văn hóa, tác giả đã làm rõ bước chuyển mình từ phương thức mưu sinh thuần nông tự cấp tự túc sang mô hình kinh tế hàng hóa đa dạng, kết hợp giữa trồng trọt, chăn nuôi với thương mại và dịch vụ du lịch Suối cá. Công trình không chỉ cung cấp nguồn tư liệu điền dã thực chứng tin cậy về văn hóa mưu sinh tộc người mà còn chỉ ra những rào cản về hạ tầng, tính mùa vụ và mâu thuẫn phân chia lợi ích kinh tế ở địa phương. Kết quả nghiên cứu là luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ đắc lực cho công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững và bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người tại khu vực miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa.