Sinh Kế Của Người Mường Ở Xã Cẩm Lương, Huyện Cẩm Thủy, Tỉnh Thanh Hóa

Luận án tiến sĩ phân tích sinh kế của người mường ở xã cẩm lương huyện cẩm thủy tỉnh thanh hóa hiện nay, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Nhân học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

196
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Về Sinh Kế Người Mường Tại Thanh Hóa

Nghiên cứu về sinh kế của các tộc người, đặc biệt là người Mường, đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước. Các công trình nghiên cứu tập trung vào nhiều khía cạnh khác nhau, từ hoạt động nông nghiệp truyền thống đến những biến đổi trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện đại. Việc tìm hiểu về sinh kế người Mường không chỉ giúp làm sáng tỏ đặc điểm văn hóa tộc người mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chính sách phát triển bền vững. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng sinh kế có mối quan hệ mật thiết với môi trường sống, thiết chế xã hội và các yếu tố văn hóa của cộng đồng. Do đó, việc tiếp cận sinh kế dưới góc độ liên ngành là vô cùng quan trọng để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc.

1.1. Các Nghiên Cứu Về Sinh Kế Của Các Tộc Người Trên Thế Giới

Nhiều công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài đã tập trung vào sinh kế của các tộc người, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Các nghiên cứu này thường xem xét các yếu tố như nguồn vốn, kỹ thuật canh tác, và tác động của các chính sách đến sinh kế của người dân. Các nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn tổng quan về các phương thức mưu sinh khác nhau trên thế giới và giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò của sinh kế trong sự phát triển của các cộng đồng.

1.2. Tình Hình Nghiên Cứu Về Sinh Kế Người Mường Tại Việt Nam

Các nghiên cứu về sinh kế người Mường tại Việt Nam tập trung chủ yếu vào các hoạt động nông nghiệp truyền thống, khai thác tài nguyên thiên nhiên và các nghề thủ công gia đình. Các nghiên cứu này thường nhấn mạnh vai trò của các yếu tố văn hóa và xã hội trong việc định hình sinh kế của người dân. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ những biến đổi trong sinh kế của người Mường trong bối cảnh hiện đại, đặc biệt là dưới tác động của quá trình đô thị hóa và phát triển du lịch.

II. Vấn Đề Sinh Kế Của Người Mường Ở Cẩm Lương Thanh Hóa

Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa, là nơi sinh sống lâu đời của người Mường. Tuy nhiên, quá trình thay đổi sinh kế của đồng bào cũng như việc quy hoạch phát triển của các ngành, các cấp tại tỉnh Thanh Hóa, huyện Cẩm Thủy đang đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết. Nghiên cứu sinh kế của người Mường ở xã Cẩm Lương không chỉ hiểu thêm đặc điểm văn hóa Mường mà còn tạo cơ sở khoa học để đề ra các giải pháp giúp đồng bào phát triển bền vững. Với những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, việc nghiên cứu về sinh kế của người Mường tại đây là vô cùng cần thiết.

2.1. Thách Thức Từ Biến Đổi Khí Hậu Đến Sinh Kế Nông Nghiệp

Biến đổi khí hậu đang gây ra những tác động tiêu cực đến sinh kế nông nghiệp của người MườngCẩm Lương. Tình trạng hạn hán, lũ lụt, và sâu bệnh ngày càng gia tăng, gây ảnh hưởng đến năng suất cây trồng và vật nuôi. Điều này đòi hỏi cần có những giải pháp thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu để bảo vệ sinh kế của người dân.

2.2. Áp Lực Từ Phát Triển Du Lịch Lên Bản Sắc Văn Hóa Mường

Phát triển du lịch tại khu vực Suối cá Cẩm Lương mang lại cơ hội kinh tế cho người Mường, nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức đối với việc bảo tồn bản sắc văn hóa. Việc thương mại hóa các giá trị văn hóa truyền thống có thể dẫn đến sự mai một và biến dạng của văn hóa Mường. Cần có những giải pháp để phát triển du lịch một cách bền vững, vừa mang lại lợi ích kinh tế cho người dân, vừa bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Sinh Kế Của Người Mường Thanh Hóa

Để nghiên cứu về sinh kế hiện nay của người Mường ở xã Cẩm Lương, chúng tôi dựa trên cơ sở lý luận là phép biện chứng của Chủ nghĩa duy vật lịch sử với nội dung chủ đạo là, khi xem xét bất kỳ sự vật, hiện tượng nào đều phải đặt trong mối liên hệ với các yếu tố khác. Nghiên cứu sinh kế hiện nay được đặt trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố của môi trường tự nhiên, thiết chế xã hội, các đặc điểm văn hóa, điều kiện lịch sử của cư dân, các chính sách của Nhà nước; đồng thời đặt sinh kế hiện nay trong mối quan hệ với sinh kế truyền thống … Với chủ đề và đối tượng nghiên cứu là sinh kế hiện nay của người Mường, luận án vận dụng cách tiếp cận của hai lý thuyết là lý thuyết Khung sinh kế bền vững và lý thuyết Biến đổi văn hóa.

3.1. Sử Dụng Phương Pháp Điền Dã Dân Tộc Học Để Thu Thập Dữ Liệu

Phương pháp điền dã Dân tộc học là phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu này. Nghiên cứu sinh đã thực hiện nhiều chuyến điền dã, trong đó hai chuyến từ 28/4 đến 5/5/2016 và từ 24/12 đến 31/12/2017 có sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên hướng dẫn tại thực địa. Trong các chuyến điền dã, nghiên cứu sinh sử dụng các thao tác: Quan sát, Quan sát tham dự, Phỏng vấn Dân tộc học.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu Định Tính Và Định Lượng Về Kinh Tế Hộ Gia Đình

Luận án còn sử dụng phương pháp tìm hiểu lịch sử kinh tế hộ gia đình để thấy được cách thức mưu sinh của người Mường nói chung, những trường hợp được tìm hiểu nói riêng. Để làm rõ các khía cạnh liên quan đến sinh kế hiện nay của người Mường tại địa bàn nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp phân tích, diễn giải, phương pháp thống kê và phương pháp so sánh.

IV. Hoạt Động Sinh Kế Sản Xuất Và Khai Thác Tự Nhiên Của Người Mường

Các nguồn vốn của hoạt động sinh kế sản xuất và khai thác tự nhiên bao gồm vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn con người. Người MườngCẩm Lương chủ yếu dựa vào làm ruộng nước, kết hợp làm nương rẫy và khai thác các nguồn lợi tự nhiên, làm nghề thủ công gia đình. Từ các hình thức sinh kế này, người Mường đã tạo lập nên một xã hội Mường, một nền văn hóa Mường, với những đặc điểm riêng rất rõ nét.

4.1. Nông Nghiệp Thanh Hóa Trồng Lúa Nước Và Các Loại Cây Hoa Màu

Trồng lúa nước là hoạt động nông nghiệp chủ đạo của người MườngCẩm Lương. Bên cạnh đó, người dân còn trồng các loại cây hoa màu như ngô, khoai, sắn để tăng thêm thu nhập. Tuy nhiên, năng suất cây trồng còn thấp do điều kiện canh tác còn lạc hậu và ảnh hưởng của thời tiết.

4.2. Lâm Nghiệp Và Khai Thác Các Sản Vật Tự Nhiên Từ Rừng

Khai thác các sản vật tự nhiên từ rừng như măng, nấm, rau rừng là một nguồn thu nhập quan trọng của người Mường. Tuy nhiên, việc khai thác quá mức có thể gây ảnh hưởng đến môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên. Cần có những biện pháp quản lý và khai thác bền vững để bảo vệ nguồn tài nguyên này.

V. Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Ảnh Hưởng Đến Sinh Kế

Hoạt động dịch vụ du lịch ở khu Suối cá Cẩm Lương đã tạo ra những cơ hội mới cho sinh kế của người Mường. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra những thách thức về quản lý và phân chia lợi ích. Cần có những giải pháp để đảm bảo rằng người Mường được hưởng lợi một cách công bằng từ hoạt động du lịch và bảo tồn được bản sắc văn hóa của mình.

5.1. Các Hình Thức Dịch Vụ Du Lịch Tại Khu Vực Suối Cá Cẩm Lương

Các hình thức dịch vụ du lịch tại khu vực Suối cá Cẩm Lương bao gồm bán hàng lưu niệm, ăn uống, cho thuê đồ bơi, và các dịch vụ vui chơi giải trí. Các dịch vụ này do người Mường địa phương cung cấp, tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho nhiều hộ gia đình.

5.2. Tác Động Của Du Lịch Đến Thu Nhập Bình Quân Của Người Dân

Hoạt động du lịch đã góp phần nâng cao thu nhập bình quân của người dânCẩm Lương. Tuy nhiên, sự phân bố lợi ích từ du lịch còn chưa đồng đều, và cần có những giải pháp để đảm bảo rằng tất cả người dân đều được hưởng lợi từ hoạt động này.

VI. Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Sinh Kế Bền Vững Cho Người Mường

Để phát triển sinh kế bền vững cho người MườngCẩm Lương, cần có những giải pháp đồng bộ trên nhiều lĩnh vực. Các giải pháp này cần tập trung vào việc nâng cao năng lực sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, bảo tồn văn hóa Mường, và bảo vệ môi trường. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội, và cộng đồng địa phương để đảm bảo rằng các giải pháp được thực hiện một cách hiệu quả và bền vững.

6.1. Đầu Tư Vào Giáo Dục Và Đào Tạo Nguồn Nhân Lực Địa Phương

Đầu tư vào giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực địa phương là yếu tố then chốt để phát triển sinh kế bền vững. Cần nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cho người Mường để họ có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế có giá trị gia tăng cao hơn.

6.2. Hỗ Trợ Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Gắn Với Bảo Tồn Văn Hóa

Cần hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa Mường. Điều này đòi hỏi cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương trong việc quản lý và phát triển du lịch, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

09/06/2025
Luận án tiến sĩ sinh kế của người mường ở xã cẩm lương huyện cẩm thủy tỉnh thanh hóa hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIỚI THIỆU NGƯỜI MƯỜNG Ở ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về sinh kế các tộc người Đến nay, đã có một khối lượng các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài về sinh kế, trong đó chiếm số đông là các công trình liên quan đến hoạt động nông nghiệp… Liên quan đến lịch sử nghiên cứu của đề tài, có hai vấn đề cần tập trung làm rõ đó là tình hình nghiên cứu về sinh kế nói chung và nghiên cứu về sinh kế người Mường nói riêng.Một số công trình nghiên cứu về sinh kế của các học giả nước ngoài Sinh kế của các tộc người, các nhóm cư dân có nhiều hình thức khác nhau. Với người Mường, hoạt động sinh kế chủ yếu là nông nghiệp, nên chúng tôi trình bày một số công trình liên quan đến lĩnh vực này.

Trong Sự xuất hiện và phát triển của nông nghiệp, các tác giả V.Nikitin cho rằng, nông nghiệp xuất hiện ngay trong thời đại công xã nguyên thủy và là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của năng suất lao động và sự tích lũy tài sản, dẫn tới chỗ củng cố và thịnh đạt của xã hội nguyên thủy. Từ đó, tác giả đã khẳng định, nông nghiệp là một trong những phát minh vĩ đại nhất của con người [125]. Khi bàn về nông nghiệp ở Đông Nam Á, N.Tsêbốcsarốp khẳng định, những đặc trưng văn hóa nông nghiệp của các dân tộc ở Đông Nam Á đã hình thành từ những điều kiện lịch sử nhất định và nó được định đoạt bởi sự phát triển kinh tế - xã hội và hoàn cảnh tự nhiên. Tuy vậy, những đặc trưng đó được cũng cố bởi truyền thống, trở thành những đặc điểm đối với các dân tộc 9 riêng biệt trong một thời kỳ lâu dài, dần dần biến mất với sự xuất hiện trong các dân tộc ấy nền nông nghiệp cơ giới hiện đại [145].

Trong công trình nghiên cứu về dân tộc học nông nghiệp, các tác giả G.Gromop và IU. Novichkop cho rằng, khi nghiên cứu các giải pháp trong làm nông nghiệp (kỹ thuật học nông nghiệp) cần phải xem xét đến những đặc điểm về điều kiện địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội mà các tộc người, các nhóm cư dân đang sống với điều kiện của các giai đoạn lịch sử [133]. Schultz và Robert H. Lavenda sử dụng các khái niệm “Phương cách sinh tồn”, “Phương thức mưu sinh” trong nghiên cứu kinh tế và cho rằng, con người tự tạo ra những cách thức sử dụng các mối quan hệ với môi trường tự nhiên và giữa họ với nhau để kiếm sống.

Sinh tồn là một từ được dùng để chỉ việc thỏa mãn những nhu cầu vật chất thiết yếu nhất trong quá trình sinh sống của con người, chủ yếu là nhu cầu về thức ăn, quần áo và chỗ ở. Những cách khác nhau mà con người ở các xã hội khác nhau dùng để thỏa mãn nhu cầu này được gọi là những phương thức sinh tồn… Nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến sinh kế của các cư dân nông nghiệp, đã đưa ra một sơ đồ các thành tố hợp thành phương thức sinh tồn gồm hai thành tố phân theo ba cấp độ. Cấp một là thu lượm lương thực và sản xuất lương thực. Cấp độ hai, sản xuất lương thực lại gồm hai thành tố hợp thành là chăn nuôi và trồng trọt.

Cấp độ ba, trồng trọt gồm nông nghiệp quảng canh, nông nghiệp thâm canh và nông nghiệp cở giới hóa [132]. Sinh kế được các nhà nghiên cứu đề cập cả trên bình diện lý thuyết và thực tiễn. Về lý thuyết, có các công trình của Carney. and Conway [129], Hussein, K & Nelson [134], Koos Nefjes [137]…Về thực tiễn, có luận án của Kasi Eswarappa nghiên cứu nhân học về sinh kế tại hai khu định cư sugali ở quận Anantupua của Andhra Pradeshe [135], về thay đổi sinh kế và sự phát triển của các cộng đồng dân tộc vùng cao được thúc đẩy bởi du lịch: trường hợp 10 của tỉnh Quý Châu, Tây Nam Trung Quốc) của Li Ya- Juan [138], Mahdi, Sivakoti, G.

đề cập đến thay đổi sinh kế và sinh kế bền vững ở vùng cao của tiểu vùng Lembang, Tây Sumatra, Indonesia, trong bối cảnh quản lý tài nguyên thiên nhiên đang thay đổi [139], 1. Nghiên cứu về sinh kế ở Việt Nam Ở Việt Nam, không kể các phần viết trong các cuốn địa chí được xuất bản dưới thời phong kiến, từ những năm 60 của thế kỷ XX trở đi, khi ngành Dân tộc học ra đời, đã có một lượng lớn các công trình dưới các thể loại khác nhau về hoạt động sinh kế của các tộc người. Ngoài các cuốn sách, các đề tài khoa học các cấp, các luận án phó tiến sĩ (từ năm 2000 trở đi là tiến sĩ), còn có rất nhiều các bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Chỉ riêng Tạp chí Dân tộc học, từ năm 1972 đến năm 2015 đã có trên 200 bài liên quan đến các khía cạnh về sinh kế các tộc người được đăng tải.

Phần Tổng quan này chỉ đề cập đến các công trình Dân tộc học/Nhân học bàn về sinh kế của các tộc người thiểu số, tập trung ở miền núi phía Bắc. Điểm đầu tiên có thể nhận thấy là đa số các công trình đều tập trung nghiên cứu về sinh kế truyền thống của các tộc người thiểu số ở nước ta. Có thể phân thành các nhóm công trình tiêu biểu sau: - Các chuyên khảo giới thiệu chung về các tộc người thiểu số ở nước ta, như bộ sách hai tập Các dân tộc ít người ở Việt Nam do Viện Dân tộc học biên soạn [114, 115] và đặc biệt là bộ sách gồm bốn tập Các dân tộc ở Việt Nam cũng do Viện Dân tộc học biên soạn [116, 117, 118, 119]. Trong nội dung giới thiệu về các tộc người thuộc các nhóm ngôn ngữ, đều có phần viết về sinh kế (cơ sở kinh tế) của mỗi tộc.

- Các chuyên khảo về kinh tế - xã hội của các tộc người thiểu số và miền núi, như Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc [14], Một số vấn đề kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc [112], Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi [27]. 11 - Các công trình giới thiệu về các tộc ở các địa phương, khu vực như Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam của Vương Hoàng Tuyên [88], Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ của Mạc Đường [31], Các dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam của Bùi Tịnh và các cộng sự [86], Góp phần tìm hiểu tỉnh Hòa Bình do Bùi Văn Kín chủ biên [54], Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An của Nguyễn Đình Lộc [62], Văn hóa các tộc người vùng lòng hồ và vùng tái định cư Thủy điện Sơn La do Phạm Quang Hoan chủ biên [47], Văn hóa các dân tộc vùng lòng hồ thủy điện Lai Châu do Nguyễn Ngọc Thanh chủ biên [93]. - Các chuyên khảo về các tộc người, các nhóm tộc người thuộc các nhóm ngôn ngữ, như Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam [60], Các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Việt Nam [111], Văn hóa và nếp sống Hà Nhì - Lô Lô [49], Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam [113]; hoặc các chuyên khảo riêng về từng tộc người, như Người Dao ở Việt Nam [26], Người Sán Dìu ở Việt Nam [3], Dân tộc Xinh Mun ở Việt Nam [4], Dân tộc Khơ Mú ở Việt Nam [15], Dân tộc La Hủ ở Việt Nam [16], Dân tộc Si La ở Việt Nam [17], Dân tộc Cờ Lao ở Việt Nam: truyền thống và biến đổi [45], Dân tộc Sán Chay ở Việt Nam [18], Đến với người Tày và văn hóa Tày [121], Dân tộc Kháng ở Việt Nam [48] v. - Các chuyên khảo riêng về sinh kế của các tộc người, tiêu biểu là hai tập sách Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam [5], Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam của Trần Bình [6]; luận án tiến sĩ của Bùi Thị Bích Lan Hoạt động mưu sinh của người Kháng ở xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La [55].

Một số chuyên khảo về từng khía cạnh của sinh kế, như Trồng trọt của các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên của Bùi Minh Đạo [25], Các dân tộc Tày Nùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật [37], hoặc tuy không đề cập trực diện, nhưng đều có liên quan đến sinh kế, như đề tài cấp bộ Một số vấn đề cơ bản về canh 12 tác nương rẫy do Đoàn Đình Thi chủ biên [96], các luận án tiến sĩ Định canh định cư của người Khơ - mú và người Hmông huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An của Nguyễn Văn Toàn [87], Sinh kế của người Mạ ở vườn quốc gia Cát Tiên của Nguyễn Đăng Hiệp Phố [74] v. Trong các thể loại công trình trên, hoạt động mưu sinh truyền thống của các tộc người được phản ánh qua các ngành kinh tế (nông nghiệp, nghề thủ công và trao đổi buôn bán). Trong nông nghiệp, các công trình đã chỉ rõ, trồng trọt là bộ phận chủ đạo của nông nghiệp - cơ sở kinh tế chính, do vậy cũng là hoạt động mưu sinh chính của các tộc người ở nước ta. Tùy điều kiện cảnh quan (chủ yếu là địa hình) mà các tộc người hoặc làm ruộng nước trong các thung lũng chân núi (như người Thái, Mường, Tày, Nùng, Lự) hay ở đồng bằng (Chăm, Khơ - me); hoặc làm nương rẫy (đa số các tộc thiểu số thuộc các nhóm ngôn ngữ); các tộc Hmông, Hà Nhì, Lô Lô… tạo ra những cánh đồng ruộng bậc thang, trở thành những kiệt tác, kết hợp giữa thiên nhiên và bàn tay con người.

Người Hmông ở các huyện vùng cao núi đá còn có nương thổ canh hốc đá, sinh sống cả đời với cây ngô [69].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Sinh Kế Của Người Mường Tại Xã Cẩm Lương, Thanh Hóa" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương thức sinh kế của cộng đồng người Mường, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về văn hóa, tập quán và những thách thức mà họ đang đối mặt. Nghiên cứu không chỉ nêu bật các hoạt động kinh tế chính của người Mường mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của họ. Những thông tin này rất hữu ích cho những ai quan tâm đến việc bảo tồn văn hóa và phát triển cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ sử dụng mạng xã hội phát triển thương hiệu báo điện tử. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách mà các công nghệ hiện đại có thể hỗ trợ trong việc phát triển thương hiệu và nâng cao nhận thức cộng đồng, một yếu tố quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa địa phương.