phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án gồm có 5 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu Chƣơng 2. Sinh kế của ngƣời Sán Dìu trƣớc khi thành lập Vƣờn quốc gia Tam Đảo Chƣơng 3. Biến đổi sinh kế của ngƣời Sán Dìu từ sau khi thành lập Vƣờn quốc gia Tam Đảo Chƣơng 4.
Nguyên nhân biến đổi sinh kế và những vấn đề đặt ra đối với sinh kế bền vững của ngƣời Sán Dìu 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước về sinh kế tộc người Từ lâu vấn đề sinh kế đã đƣợc nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu và đƣa ra các quan niệm rất khác nhau về sinh kế tộc ngƣời. Sinh kế theo nghĩa thông thƣờng là những cách thức mà con ngƣời kiếm sống và đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con ngƣời nhƣ: ăn, ở, mặc, sinh hoạt tinh thần… Dƣới góc độ Nhân học, ý tƣởng về sinh kế đã đƣợc đề cập trong các tác phẩm nghiên cứu của R.
Về sau, khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của F.Ellis, Barrett và Reardon, Morrison, Dorward,… Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên có sự nhất trí rằng, khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hƣởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình. Năm 1987 trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” (Our Common Future), Ủy ban Quốc tế về Môi trƣờng và Phát triển lần đầu tiên đã đƣa ra ý tƣởng về sinh kế bền vững: đặt con ngƣời và các nhu cầu của con ngƣời vào vị trí trung tâm; sự liên kết, phối hợp các nhân tố kinh tế, xã hội và sinh thái có vai trò quan trọng trong các chính sách phát triển. Những nhân tố này đƣợc khẳng định và mở rộng tại Hội thảo của Liên hợp quốc về Môi trƣờng và Phát triển (UNCED) vào năm 1992, đặc biệt trong bối cảnh chƣơng trình nghị sự 21, sinh kế bền vững đã trở thành một mục tiêu quan trọng và giải quyết đồng thời các nhân tố phát triển, quản lý tài nguyên bền vững và xóa nghèo đói. Năm 1992, trong báo cáo “Sinh kế nông thôn bền vững: Các quan niệm thực tiễn cho thế kỷ XXI, Robert Chambers và Gordon Conway đã nhấn mạnh 3 nhân tố chính của sinh kế bền vững: 7 i).
Nâng cao năng lực: giúp con ngƣời ứng phó linh hoạt với những thay đổi và những tác động không báo trƣớc, đồng thời có thể dễ dàng tiếp cận tới các nguồn lực và cơ hội khác nhau [152, tr. Thúc đẩy tính công bằng: có chính sách ƣu tiên cho ngƣời nghèo, đặc biệt là những ngƣời dễ bị tổn thƣơng nhƣ: dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và phụ nữ [152, tr. Tăng cƣờng tính bền vững xã hội: quan tâm và giảm đến mức tối thiểu tính dễ bị tổn thƣơng của ngƣời nghèo thông qua giảm các chấn động và áp lực từ bên ngoài, đồng thời cung cấp các mạng lƣới an toàn cho họ [152, tr. Đặc biệt trong năm 1999, Bộ Phát triển Quốc tế Anh quốc (DFID) đã đƣa ra mô hình khung sinh kế bền vững trong công trình: Tài liệu hướng dẫn sinh kế bền vững [153].
Đây là khung sinh kế đƣợc sử dụng nhiều nhất hiện nay và trở thành một công cụ phổ biến trong các nghiên cứu phát triển, cũng nhƣ các chính sách và kế hoạch phát triển. Khung sinh kế bền vững, chủ yếu lấy con ngƣời làm trung tâm và bao gồm 4 yếu tố: (1) bối cảnh dễ bị tổn thƣơng; (2) một hình ngũ giác thể hiện các nguồn vốn sinh kế; (3) thể chế - chính sách; (4) các chiến lƣợc sinh kế. Các yếu tố này có mối quan hệ tƣơng hỗ với nhau để tạo ra các hiệu quả sinh kế bền vững. Kết quả sinh kế sẽ phản ánh hƣớng lựa chọn phát triển của từng lĩnh vực cụ thể.
Có thể thấy, đây là một công cụ để các nhà quản lý và những ngƣời dân cùng nghiên cứu, đánh giá nhằm tìm ra một giải pháp hợp lý, vừa thỏa mãn đƣợc yêu cầu của sự phát triển với việc nhấn mạnh sự tham gia của ngƣời dân, đặt con ngƣời làm trung tâm của hoạt động phát triển và coi giảm nghèo là kết quả chính, đảm bảo an sinh xã hội. Nghiên cứu sinh kế của ngƣời dân, đặc biệt những dân tộc sống cạnh các khu rừng đặc dụng thƣờng phát sinh các xung đột đối với hệ thống quản lý rừng đặc dụng. Các xung đột này đã đƣợc tác giả M. Skutsch của trƣờng đại học Twente, Hà Lan đề cập tới trong các nghiên cứu của mình [163].
Ông cho rằng: quản lý xung đột đƣợc chấp nhận là một vấn đề cần quan tâm đặc biệt trong thập kỷ hiện tại, làm thế nào để giải quyết xung đột cùng với lâm nghiệp cộng đồng đã bắt đầu xuất hiện từ 1994; quản lý xung đột cũng đƣợc nhắc đến trong quản lý 8 rừng bền vững. Đây cũng là một yếu tố góp phần vào các thành tựu của công bằng xã hội và phân phối lại. Sự tham gia vào lâm nghiệp cộng đồng của ngƣời dân đã đƣợc đẩy mạnh trong ít nhất 20 năm qua và với một mong ƣớc là họ sẽ có những ý kiến đóng góp khác nhau, những lợi ích khác nhau. Xung đột là không thể tránh đƣợc trong lâm nghiệp cộng đồng và là một yếu tố gây ra thất bại của nhiều dự án lâm nghiệp cộng đồng.
Việc quản lý xung đột đƣợc chia thành các bộ phận cấu thành và sử dụng một vài phƣơng pháp sẵn có để đối phó với việc xác định xung đột, phân tích và đƣa ra các giải pháp giải quyết. Bên cạnh các nghiên cứu về sinh kế thì không thể thiếu đƣợc các nghiên cứu về biến đổi xã hội. Theo các nhà nghiên cứu xã hội, tất cả xã hội đều tồn tại một quá trình vận động phát triển hoặc suy thoái. Trong quá trình này luôn diễn ra sự biến đổi xã hội.
Nhà xã hội học ngƣời Mỹ, Talcott Parsons trong nghiên cứu học thuyết cơ cấu xã hội đã giải thích sự biến đổi xã hội xuất phát từ hai nguồn gốc tác động từ bên ngoài hoặc ngay bên trong hệ thống xã hội. Trong cách tiếp cận nhân học, biến đổi xã hội phải đề cập tới không chỉ là các dạng thức biến đổi mà còn cả những “đơn vị” của biến đổi và tiềm năng cho con ngƣời hành động nhƣ là “tác nhân” của biến đổi. Trong biến đổi xã hội, các tác nhân khách thể của biến đổi có thể cũng là chủ thể của biến đổi [156, tr. Quá trình cƣ trú của ngƣời dân ở vùng đệm các khu rừng đặc dụng thì việc tham gia của ngƣời dân trong lâm nghiệp cộng đồng là thực sự cần thiết, nhất là sự tham gia của các cộng đồng dân tộc thiểu số cũng đƣợc đề cập tới trong các nghiên cứu của một số tác giả Việt Nam và nƣớc ngoài [158], [159], [164].
Những nỗ lực hợp tác giữa các dân tộc bản địa và chính quyền ở các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên cho thấy rằng, sự tham gia của các dân tộc bản địa là thành công hơn ở những nơi đƣợc quy hoạch thành VQG và nơi mà cải cách kinh tế - xã hội và chính trị đang đƣợc triển khai. Các dân tộc bản địa thƣờng xung đột với các cơ quan quản lý VQG nơi mà họ không đƣợc tham gia. Nếu không nỗ lực thực hiện để giải quyết vấn đề sinh kế của ngƣời dân bản địa sinh sống trong và xung quanh các khu vực bảo vệ, thì việc quản lý VQG, bảo vệ động vật hoang dã, phát triển rừng sẽ hiếm khi thành công. 9 Quản lý VQG có sự tham gia của cộng đồng dân tộc bản địa đã phần nào giải quyết vấn đề sinh kế của họ, từ đó họ mới có nỗ lực bảo vệ rừng, động vật hoang dã và khai thác hợp lý các sản vật từ rừng.
Trong việc quản lý các khu rừng đặc dụng, việc sử dụng các công nghệ mới trong việc quản lý tài nguyên, trong đó có công nghệ GIS ngày càng đƣợc nhiều cơ quan quản lý áp dụng. Năm 2010, các tác giả Yuji Murayama và Dƣơng Đăng Khôi đã nghiên cứu và đƣa ra dự báo của mình về những khu vực dễ bị tác động do quá trình biến động rừng thông qua phƣơng pháp bản đồ viễn thám và GIS, dự báo các khu vực dễ bị tổn thƣơng để chuyển đổi rừng ở VQG Tam Đảo, Việt Nam [155]. Biến đổi rừng do các nguyên nhân khai thác phi pháp và mở rộng đất sản xuất nông nghiệp là tác nhân chính nguy hại cho các nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học. Thoái hóa đất canh tác đã đƣợc ghi nhận là một trong những nguyên nhân chính đe dọa mất ổn định ở vùng đệm của các khu bảo tồn ở Việt Nam.
Đặc biệt, diện tích đất thoái hóa ngày càng mở rộng tại các khu bảo tồn đang tạo ra sức ép lớn lên nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học [160], [165]. Vấn đề thoái hóa này là kết quả của việc quản lý lỏng lẻo, việc sử dụng đất thƣờng chƣa phù hợp với các đặc điểm vốn có của đất. Phân tích không gian phân bố các khu vực thích hợp với đất canh tác rất cần thiết đối với việc sử dụng đất bền vững cũng đã đƣợc khuyến nghị. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước 1.
Tình hình nghiên cứu về sinh kế của dân tộc thiểu số và sinh kế của người dân vùng đệm các VQG và khu BTTN ở Việt Nam Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các dân tộc thiểu số ở miền núi Việt Nam có các loại hình sinh kế khác nhau để đảm bảo nhu cầu cuộc sống của mình, tựu chung lại đều có sự thống nhất ở các loại hình sinh kế; Trồng trọt: Đây là hoạt động quan trọng và then chốt, đảm bảo nguồn lƣơng thực, thực phẩm chủ yếu cho các hộ gia đình. Sinh kế trồng trọt gồm nƣơng rẫy, ruộng và vƣờn. Chăn nuôi: là loại hình sinh kế quan trọng thứ hai nhƣng chỉ mang tính bổ trợ, đảm bảo lƣơng thực, đảm bảo cho các hoạt động nghi lễ, tín ngƣỡng. 10 Nghề thủ công: ít hình thành làng thủ công, phần lớn chỉ là nghề thủ công tryền thống gia đình, có quy mô nhỏ.