Nghiên Cứu Sinh Kế Của Người Sán Dìu Ở Vùng Đệm Vườn Quốc Gia Tam Đảo

Luận án tiến sĩ nghiên cứu sinh kế của người Sán Dìu tại vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, góp phần bảo tồn văn hóa và phát triển bền vững.

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Nhân học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

204
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Khái quát về địa bàn nghiên cứu

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: SINH KẾ CỦA NGƯỜI SÁN DÌU TRƯỚC KHI THÀNH LẬP VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO

2.1. Các nguồn lực sinh kế

2.2. Các hoạt động sinh kế nông nghiệp

2.3. Các hoạt động sinh kế phi nông nghiệp

2.4. Chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIẾN ĐỔI SINH KẾ CỦA NGƯỜI SÁN DÌU TỪ SAU KHI THÀNH LẬP VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO

3.1. Biến đổi các nguồn vốn sinh kế

3.2. Biến đổi các hoạt động sinh kế nông nghiệp

3.3. Biến đổi hoạt động sinh kế phi nông nghiệp

3.4. Biến đổi sử dụng đất ở xã Đạo Trù trước và sau khi thành lập VQG Tam Đảo

3.5. Biến đổi chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế

3.6. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: NGUYÊN NHÂN BIẾN ĐỔI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA NGƯỜI SÁN DÌU

4.1. Nguyên nhân biến đổi sinh kế ở người Sán Dìu vùng đệm VQG Tam Đảo

4.2. Những vấn đề đặt ra đối với phát triển sinh kế của người Sán Dìu trong bối cảnh hiện nay. Một số giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người Sán Dìu

4.3. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về sinh kế bền vững của người Sán Dìu tại VQG Tam Đảo

Nghiên cứu sinh kế bền vững của người Sán Dìu tại Vườn Quốc gia Tam Đảo là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh phát triển bền vững. VQG Tam Đảo không chỉ là nơi bảo tồn đa dạng sinh học mà còn là nơi sinh sống của nhiều dân tộc, trong đó có người Sán Dìu. Họ đã có những hoạt động sinh kế truyền thống gắn liền với rừng và tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, sự thay đổi trong chính sách quản lý rừng đã ảnh hưởng đến sinh kế của họ. Việc nghiên cứu này nhằm tìm hiểu và phân tích các hoạt động sinh kế của người Sán Dìu, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển bền vững.

1.1. Khái quát về người Sán Dìu và môi trường sống

Người Sán Dìu là một trong những dân tộc thiểu số tại Việt Nam, sinh sống chủ yếu ở vùng đệm VQG Tam Đảo. Họ có nền văn hóa phong phú và gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên. Môi trường sống của họ bao gồm rừng núi, đất canh tác và nguồn nước, tất cả đều ảnh hưởng đến sinh kế của họ.

1.2. Tình hình sinh kế trước khi thành lập VQG Tam Đảo

Trước khi VQG Tam Đảo được thành lập, người Sán Dìu chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp và khai thác tài nguyên rừng. Họ thu hoạch các sản phẩm như măng, củi và các loại động vật hoang dã. Tuy nhiên, việc khai thác này không bền vững và dẫn đến sự suy giảm tài nguyên.

II. Những thách thức đối với sinh kế bền vững của người Sán Dìu

Sau khi thành lập VQG Tam Đảo, người Sán Dìu phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì sinh kế. Chính sách quản lý rừng nghiêm ngặt đã hạn chế khả năng khai thác tài nguyên của họ. Điều này dẫn đến việc giảm thu nhập và khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm thay thế. Nghiên cứu này sẽ phân tích các thách thức cụ thể mà người Sán Dìu đang gặp phải.

2.1. Giảm thiểu nguồn tài nguyên thiên nhiên

Việc cấm khai thác rừng đã làm giảm đáng kể nguồn tài nguyên mà người Sán Dìu phụ thuộc vào. Họ không còn có thể thu hoạch các sản phẩm từ rừng như trước, dẫn đến tình trạng thiếu hụt thực phẩm và thu nhập.

2.2. Biến đổi khí hậu và tác động đến sinh kế

Biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của người Sán Dìu. Thời tiết thất thường và thiên tai ngày càng gia tăng đã làm giảm năng suất cây trồng, gây khó khăn cho việc duy trì sinh kế bền vững.

III. Phương pháp nghiên cứu sinh kế bền vững của người Sán Dìu

Để hiểu rõ hơn về sinh kế của người Sán Dìu, nghiên cứu này áp dụng các phương pháp nghiên cứu nhân học. Phương pháp điền dã, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm sẽ được sử dụng để thu thập thông tin từ cộng đồng. Những dữ liệu này sẽ giúp phân tích các hoạt động sinh kế và đề xuất giải pháp phù hợp.

3.1. Phương pháp điền dã và phỏng vấn sâu

Phương pháp điền dã sẽ giúp thu thập thông tin thực tế từ cộng đồng người Sán Dìu. Các cuộc phỏng vấn sâu sẽ được thực hiện với các hộ gia đình để hiểu rõ hơn về các hoạt động sinh kế và những khó khăn họ gặp phải.

3.2. Thảo luận nhóm với cộng đồng

Thảo luận nhóm sẽ được tổ chức với sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng để thu thập ý kiến và quan điểm về sinh kế. Điều này sẽ giúp tạo ra một bức tranh tổng thể về tình hình sinh kế của người Sán Dìu.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu sinh kế bền vững

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quý giá cho chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ trong việc xây dựng các chính sách phát triển sinh kế bền vững cho người Sán Dìu. Các giải pháp sẽ được đề xuất dựa trên nhu cầu thực tế của cộng đồng, nhằm cải thiện đời sống và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

4.1. Đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững

Nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp như phát triển nông nghiệp bền vững, khôi phục các hoạt động truyền thống và tạo cơ hội việc làm mới cho người Sán Dìu. Những giải pháp này sẽ giúp cải thiện thu nhập và bảo vệ môi trường.

4.2. Tăng cường giáo dục và đào tạo

Giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và kỹ năng cho người Sán Dìu. Các chương trình đào tạo sẽ giúp họ tiếp cận với các phương pháp sản xuất hiện đại và bền vững.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho sinh kế bền vững

Nghiên cứu sinh kế bền vững của người Sán Dìu tại VQG Tam Đảo không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tình hình hiện tại mà còn mở ra triển vọng cho tương lai. Việc áp dụng các giải pháp phát triển bền vững sẽ giúp cải thiện đời sống của người Sán Dìu và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền, cộng đồng và các tổ chức để đạt được mục tiêu này.

5.1. Tầm quan trọng của sự hợp tác

Sự hợp tác giữa các bên liên quan là rất quan trọng trong việc phát triển sinh kế bền vững. Chính quyền địa phương, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng cần làm việc cùng nhau để xây dựng các chính sách phù hợp.

5.2. Hướng tới tương lai bền vững cho người Sán Dìu

Triển vọng tương lai cho người Sán Dìu phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những thay đổi và áp dụng các phương pháp sinh kế bền vững. Cần có các chương trình hỗ trợ để giúp họ vượt qua những thách thức hiện tại.

28/06/2025
Luận án tiến sĩ sinh kế của người sán dìu ở vùng đệm vườn quốc gia tam đảo tỉnh vĩnh phúc

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án gồm có 5 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu Chƣơng 2. Sinh kế của ngƣời Sán Dìu trƣớc khi thành lập Vƣờn quốc gia Tam Đảo Chƣơng 3. Biến đổi sinh kế của ngƣời Sán Dìu từ sau khi thành lập Vƣờn quốc gia Tam Đảo Chƣơng 4.

Nguyên nhân biến đổi sinh kế và những vấn đề đặt ra đối với sinh kế bền vững của ngƣời Sán Dìu 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước về sinh kế tộc người Từ lâu vấn đề sinh kế đã đƣợc nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu và đƣa ra các quan niệm rất khác nhau về sinh kế tộc ngƣời. Sinh kế theo nghĩa thông thƣờng là những cách thức mà con ngƣời kiếm sống và đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con ngƣời nhƣ: ăn, ở, mặc, sinh hoạt tinh thần… Dƣới góc độ Nhân học, ý tƣởng về sinh kế đã đƣợc đề cập trong các tác phẩm nghiên cứu của R.

Về sau, khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của F.Ellis, Barrett và Reardon, Morrison, Dorward,… Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên có sự nhất trí rằng, khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hƣởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình. Năm 1987 trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” (Our Common Future), Ủy ban Quốc tế về Môi trƣờng và Phát triển lần đầu tiên đã đƣa ra ý tƣởng về sinh kế bền vững: đặt con ngƣời và các nhu cầu của con ngƣời vào vị trí trung tâm; sự liên kết, phối hợp các nhân tố kinh tế, xã hội và sinh thái có vai trò quan trọng trong các chính sách phát triển. Những nhân tố này đƣợc khẳng định và mở rộng tại Hội thảo của Liên hợp quốc về Môi trƣờng và Phát triển (UNCED) vào năm 1992, đặc biệt trong bối cảnh chƣơng trình nghị sự 21, sinh kế bền vững đã trở thành một mục tiêu quan trọng và giải quyết đồng thời các nhân tố phát triển, quản lý tài nguyên bền vững và xóa nghèo đói. Năm 1992, trong báo cáo “Sinh kế nông thôn bền vững: Các quan niệm thực tiễn cho thế kỷ XXI, Robert Chambers và Gordon Conway đã nhấn mạnh 3 nhân tố chính của sinh kế bền vững: 7 i).

Nâng cao năng lực: giúp con ngƣời ứng phó linh hoạt với những thay đổi và những tác động không báo trƣớc, đồng thời có thể dễ dàng tiếp cận tới các nguồn lực và cơ hội khác nhau [152, tr. Thúc đẩy tính công bằng: có chính sách ƣu tiên cho ngƣời nghèo, đặc biệt là những ngƣời dễ bị tổn thƣơng nhƣ: dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và phụ nữ [152, tr. Tăng cƣờng tính bền vững xã hội: quan tâm và giảm đến mức tối thiểu tính dễ bị tổn thƣơng của ngƣời nghèo thông qua giảm các chấn động và áp lực từ bên ngoài, đồng thời cung cấp các mạng lƣới an toàn cho họ [152, tr. Đặc biệt trong năm 1999, Bộ Phát triển Quốc tế Anh quốc (DFID) đã đƣa ra mô hình khung sinh kế bền vững trong công trình: Tài liệu hướng dẫn sinh kế bền vững [153].

Đây là khung sinh kế đƣợc sử dụng nhiều nhất hiện nay và trở thành một công cụ phổ biến trong các nghiên cứu phát triển, cũng nhƣ các chính sách và kế hoạch phát triển. Khung sinh kế bền vững, chủ yếu lấy con ngƣời làm trung tâm và bao gồm 4 yếu tố: (1) bối cảnh dễ bị tổn thƣơng; (2) một hình ngũ giác thể hiện các nguồn vốn sinh kế; (3) thể chế - chính sách; (4) các chiến lƣợc sinh kế. Các yếu tố này có mối quan hệ tƣơng hỗ với nhau để tạo ra các hiệu quả sinh kế bền vững. Kết quả sinh kế sẽ phản ánh hƣớng lựa chọn phát triển của từng lĩnh vực cụ thể.

Có thể thấy, đây là một công cụ để các nhà quản lý và những ngƣời dân cùng nghiên cứu, đánh giá nhằm tìm ra một giải pháp hợp lý, vừa thỏa mãn đƣợc yêu cầu của sự phát triển với việc nhấn mạnh sự tham gia của ngƣời dân, đặt con ngƣời làm trung tâm của hoạt động phát triển và coi giảm nghèo là kết quả chính, đảm bảo an sinh xã hội. Nghiên cứu sinh kế của ngƣời dân, đặc biệt những dân tộc sống cạnh các khu rừng đặc dụng thƣờng phát sinh các xung đột đối với hệ thống quản lý rừng đặc dụng. Các xung đột này đã đƣợc tác giả M. Skutsch của trƣờng đại học Twente, Hà Lan đề cập tới trong các nghiên cứu của mình [163].

Ông cho rằng: quản lý xung đột đƣợc chấp nhận là một vấn đề cần quan tâm đặc biệt trong thập kỷ hiện tại, làm thế nào để giải quyết xung đột cùng với lâm nghiệp cộng đồng đã bắt đầu xuất hiện từ 1994; quản lý xung đột cũng đƣợc nhắc đến trong quản lý 8 rừng bền vững. Đây cũng là một yếu tố góp phần vào các thành tựu của công bằng xã hội và phân phối lại. Sự tham gia vào lâm nghiệp cộng đồng của ngƣời dân đã đƣợc đẩy mạnh trong ít nhất 20 năm qua và với một mong ƣớc là họ sẽ có những ý kiến đóng góp khác nhau, những lợi ích khác nhau. Xung đột là không thể tránh đƣợc trong lâm nghiệp cộng đồng và là một yếu tố gây ra thất bại của nhiều dự án lâm nghiệp cộng đồng.

Việc quản lý xung đột đƣợc chia thành các bộ phận cấu thành và sử dụng một vài phƣơng pháp sẵn có để đối phó với việc xác định xung đột, phân tích và đƣa ra các giải pháp giải quyết. Bên cạnh các nghiên cứu về sinh kế thì không thể thiếu đƣợc các nghiên cứu về biến đổi xã hội. Theo các nhà nghiên cứu xã hội, tất cả xã hội đều tồn tại một quá trình vận động phát triển hoặc suy thoái. Trong quá trình này luôn diễn ra sự biến đổi xã hội.

Nhà xã hội học ngƣời Mỹ, Talcott Parsons trong nghiên cứu học thuyết cơ cấu xã hội đã giải thích sự biến đổi xã hội xuất phát từ hai nguồn gốc tác động từ bên ngoài hoặc ngay bên trong hệ thống xã hội. Trong cách tiếp cận nhân học, biến đổi xã hội phải đề cập tới không chỉ là các dạng thức biến đổi mà còn cả những “đơn vị” của biến đổi và tiềm năng cho con ngƣời hành động nhƣ là “tác nhân” của biến đổi. Trong biến đổi xã hội, các tác nhân khách thể của biến đổi có thể cũng là chủ thể của biến đổi [156, tr. Quá trình cƣ trú của ngƣời dân ở vùng đệm các khu rừng đặc dụng thì việc tham gia của ngƣời dân trong lâm nghiệp cộng đồng là thực sự cần thiết, nhất là sự tham gia của các cộng đồng dân tộc thiểu số cũng đƣợc đề cập tới trong các nghiên cứu của một số tác giả Việt Nam và nƣớc ngoài [158], [159], [164].

Những nỗ lực hợp tác giữa các dân tộc bản địa và chính quyền ở các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên cho thấy rằng, sự tham gia của các dân tộc bản địa là thành công hơn ở những nơi đƣợc quy hoạch thành VQG và nơi mà cải cách kinh tế - xã hội và chính trị đang đƣợc triển khai. Các dân tộc bản địa thƣờng xung đột với các cơ quan quản lý VQG nơi mà họ không đƣợc tham gia. Nếu không nỗ lực thực hiện để giải quyết vấn đề sinh kế của ngƣời dân bản địa sinh sống trong và xung quanh các khu vực bảo vệ, thì việc quản lý VQG, bảo vệ động vật hoang dã, phát triển rừng sẽ hiếm khi thành công. 9 Quản lý VQG có sự tham gia của cộng đồng dân tộc bản địa đã phần nào giải quyết vấn đề sinh kế của họ, từ đó họ mới có nỗ lực bảo vệ rừng, động vật hoang dã và khai thác hợp lý các sản vật từ rừng.

Trong việc quản lý các khu rừng đặc dụng, việc sử dụng các công nghệ mới trong việc quản lý tài nguyên, trong đó có công nghệ GIS ngày càng đƣợc nhiều cơ quan quản lý áp dụng. Năm 2010, các tác giả Yuji Murayama và Dƣơng Đăng Khôi đã nghiên cứu và đƣa ra dự báo của mình về những khu vực dễ bị tác động do quá trình biến động rừng thông qua phƣơng pháp bản đồ viễn thám và GIS, dự báo các khu vực dễ bị tổn thƣơng để chuyển đổi rừng ở VQG Tam Đảo, Việt Nam [155]. Biến đổi rừng do các nguyên nhân khai thác phi pháp và mở rộng đất sản xuất nông nghiệp là tác nhân chính nguy hại cho các nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học. Thoái hóa đất canh tác đã đƣợc ghi nhận là một trong những nguyên nhân chính đe dọa mất ổn định ở vùng đệm của các khu bảo tồn ở Việt Nam.

Đặc biệt, diện tích đất thoái hóa ngày càng mở rộng tại các khu bảo tồn đang tạo ra sức ép lớn lên nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học [160], [165]. Vấn đề thoái hóa này là kết quả của việc quản lý lỏng lẻo, việc sử dụng đất thƣờng chƣa phù hợp với các đặc điểm vốn có của đất. Phân tích không gian phân bố các khu vực thích hợp với đất canh tác rất cần thiết đối với việc sử dụng đất bền vững cũng đã đƣợc khuyến nghị. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước 1.

Tình hình nghiên cứu về sinh kế của dân tộc thiểu số và sinh kế của người dân vùng đệm các VQG và khu BTTN ở Việt Nam Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các dân tộc thiểu số ở miền núi Việt Nam có các loại hình sinh kế khác nhau để đảm bảo nhu cầu cuộc sống của mình, tựu chung lại đều có sự thống nhất ở các loại hình sinh kế; Trồng trọt: Đây là hoạt động quan trọng và then chốt, đảm bảo nguồn lƣơng thực, thực phẩm chủ yếu cho các hộ gia đình. Sinh kế trồng trọt gồm nƣơng rẫy, ruộng và vƣờn. Chăn nuôi: là loại hình sinh kế quan trọng thứ hai nhƣng chỉ mang tính bổ trợ, đảm bảo lƣơng thực, đảm bảo cho các hoạt động nghi lễ, tín ngƣỡng. 10 Nghề thủ công: ít hình thành làng thủ công, phần lớn chỉ là nghề thủ công tryền thống gia đình, có quy mô nhỏ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Sinh Kế Bền Vững Của Người Sán Dìu Tại Vườn Quốc Gia Tam Đảo" mang đến cái nhìn sâu sắc về các phương thức sinh kế bền vững của cộng đồng người Sán Dìu, một nhóm dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Nghiên cứu không chỉ phân tích các hoạt động kinh tế của họ mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa và môi trường tự nhiên trong phát triển bền vững. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức mà người Sán Dìu duy trì sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí hậu và áp lực từ phát triển kinh tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về phát triển du lịch cộng đồng và các mô hình bền vững khác, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ hcmute phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh an giang, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về du lịch cộng đồng tại An Giang, hay Luận văn thạc sĩ hcmute phát triển khu du lịch sinh thái gáo giồng tỉnh đồng tháp theo hướng bền vững, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chiến lược phát triển du lịch sinh thái bền vững. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng ở huyện khánh vĩnh tỉnh khánh hòa cũng là một nguồn tài liệu hữu ích để tìm hiểu thêm về các mô hình du lịch cộng đồng tại Khánh Hòa. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn về lĩnh vực này.