Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Nhân học của nghiên cứu sinh Nguyễn Xuân Hòa với đề tài "Sinh kế của người Sán Dìu ở vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc" (mã số 9 31 03 02) được thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2018 dưới sự hướng dẫn của PGS. Phạm Quang Hoan và PGS. Nguyễn Thị Song Hà.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Vườn quốc gia (VQG) Tam Đảo được thành lập theo Quyết định số 136/TTg ngày 06/3/1996 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở nâng cấp và mở rộng Rừng cấm quốc gia Tam Đảo (thành lập theo Quyết định số 41/TTg ngày 24/01/1977). VQG có tổng diện tích tự nhiên là 36.883 ha và diện tích vùng đệm là 15.515 ha trải dài trên địa bàn 23 xã, thị trấn thuộc 4 huyện của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Vùng đệm là nơi sinh sống lâu đời của 7 thành phần dân tộc: Kinh, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, Tày, Nùng và Hoa; trong đó người Sán Dìu chiếm số lượng đông nhất tại khu vực tỉnh Vĩnh Phúc.
Trước năm 1996, người dân địa phương duy trì tập quán dựa vào rừng tự nhiên với quan niệm "mọi thứ đều do rừng đẻ ra", thường xuyên khai thác gỗ, củi, măng, nấm, mật ong, tổ kiến và săn bắt thú rừng để tự cấp tự túc và bổ sung thu nhập. Sau khi VQG được thành lập, chính sách quản lý và kiểm soát lâm sản được thực thi nghiêm ngặt, hoạt động khai thác tài nguyên rừng bị cấm. Trong khi đó, tư liệu sản xuất nông nghiệp của người Sán Dìu tại vùng đệm bị thu hẹp nghiêm trọng, diện tích đất canh tác bình quân chỉ đạt 776 m²/nhân khẩu (thấp hơn nhiều so với mức bình quân cả nước), đất đai manh mún và bạc màu. Sự sụt giảm nguồn thu từ rừng cùng áp lực thiếu đất canh tác đã đặt cộng đồng người Sán Dìu trước những khó khăn lớn về sinh kế, xuất hiện hiện tượng khai thác lén lút côn trùng quý (bướm, xén tóc) để bán cho khách nước ngoài, gây ảnh hưởng đến đa dạng sinh học. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu phải có công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ Nhân học nhằm nhận diện sự biến đổi sinh kế, phân tích khả năng thích ứng của người Sán Dìu và cung cấp luận cứ khoa học cho các chính sách phát triển sinh kế bền vững tại địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu
- Khảo tả và phân tích làm rõ các hoạt động sinh kế của người Sán Dìu ở vùng đệm VQG Tam Đảo tại hai thời điểm: trước và sau khi thành lập VQG (năm 1996).
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tạo ra những thay đổi về sinh kế cho người dân Sán Dìu ở vùng đệm VQG Tam Đảo, hướng tới sinh kế bền vững.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra, nhận diện, phân tích các hoạt động sản xuất, đời sống sinh hoạt của người Sán Dìu ở vùng đệm VQG Tam Đảo thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.
- Tìm hiểu các điều kiện tự nhiên và yếu tố văn hóa tộc người có liên quan đến hoạt động sinh kế của người Sán Dìu ở vùng đệm VQG Tam Đảo thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề xuất các giải pháp nhằm ổn định sinh kế theo hướng bền vững của người Sán Dìu xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sinh kế của người Sán Dìu ở vùng đệm VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc trước và sau khi thành lập VQG Tam Đảo.
- Phạm vi không gian: Xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc — địa bàn có cộng đồng người Sán Dìu tập trung đông nhất trong các xã vùng đệm VQG Tam Đảo (chiếm 87,5% dân số toàn xã).
- Phạm vi thời gian: Tiến trình sinh sống của người Sán Dìu được khảo sát qua hai giai đoạn: (1) Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1996 (thời điểm thành lập VQG Tam Đảo); (2) Từ sau năm 1996 đến thời điểm thực hiện nghiên cứu (2015–2018).
- Phạm vi nội dung: Các hoạt động sinh kế nông nghiệp và phi nông nghiệp; 5 nguồn vốn sinh kế; sự biến đổi sinh kế và các yếu tố tự nhiên, kinh tế, thể chế, văn hóa tác động đến quá trình chuyển đổi này.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu ngoài nước
Vấn đề sinh kế và sinh kế tộc người dưới góc độ Nhân học đã được đề cập từ sớm trong các công trình của R. Firth, sau đó phát triển qua các nghiên cứu của F. Ellis, Barrett và Reardon, Morrison, Dorward. Khái niệm sinh kế bền vững được định hình từ báo cáo "Our Common Future" (1987) của Ủy ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển (WCED) và Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED, 1992). Năm 1992, Robert Chambers và Gordon Conway trong báo cáo "Sustainable rural livelihoods: practical concepts for the 21st century" đã xác lập 3 nhân tố cốt lõi của sinh kế bền vững gồm: nâng cao năng lực ứng phó, thúc đẩy tính công bằng xã hội và tăng cường tính bền vững trước các cú sốc bên ngoài. Năm 1999, Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) chuẩn hóa mô hình Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) bao gồm 5 nguồn vốn, bối cảnh dễ bị tổn thương, cấu trúc thể chế - chính sách, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế.
Trong lĩnh vực quản lý rừng đặc dụng và lâm nghiệp cộng đồng, M. Skutsch (Đại học Twente, Hà Lan) đi sâu phân tích xung đột quyền lợi giữa cộng đồng dân cư bản địa và ban quản lý khu bảo tồn. Các nghiên cứu quốc tế khác khẳng định việc thiếu vắng sự tham gia của người dân bản địa trong quản lý VQG và giải quyết sinh kế là nguyên nhân dẫn đến suy thoái tài nguyên. Về phương pháp kỹ thuật, Yuji Murayama và Dương Đăng Khôi (2010) đã ứng dụng viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) để phân tích các khu vực dễ bị tổn thương do biến động rừng tại VQG Tam Đảo.
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Sinh kế dân tộc thiểu số và vùng đệm rừng đặc dụng: Tác giả Trần Bình (2004) với "Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam", Hoàng Hữu Bình (2007) với "Các tộc người ở miền núi phía Bắc Việt Nam và môi trường", Phạm Quang Linh (2012) với luận án "Sinh kế của người Thái tái định cư thuỷ điện Sơn La", Koos Neefjes (2002) với "Môi trường và sinh kế - các chiến lược phát triển bền vững". Các tác giả Lê Quí An (2003), Võ Quí (2003), Vũ Thị Ngọc (2009), Nguyễn Ngọc Thanh (2006), Đặng Văn Thanh (2006) và Nguyễn Đăng Hiệp Phố (2014) khảo sát thực trạng sinh kế dựa vào tài nguyên rừng, chỉ ra áp lực khai thác lâm sản làm suy thoái đa dạng sinh học và đề xuất cơ chế đồng quản lý.
- Du lịch sinh thái và tài nguyên vùng Tam Đảo: Các công trình nghiên cứu hệ sinh thái 5 kiểu rừng Tam Đảo (rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, á nhiệt đới núi thấp, rừng lùn đỉnh núi, rừng tre nứa, rừng phục hồi), tính đa dạng với 904 loài thực vật bậc cao (42 loài đặc hữu) và 307 loài động vật hoang dã (6 loài đặc hữu), cùng các định hướng phát triển du lịch gắn với di sản văn hóa như làn điệu dân ca Soọng Cô của người Sán Dìu.
- Lâm sản ngoài gỗ và cây thuốc dân gian: Các nghiên cứu về tri thức bản địa trong gây trồng lâm sản ngoài gỗ và cây thuốc nam chữa bệnh của người Sán Dìu xã Đạo Trù tại vùng đệm Tam Đảo.
- Dân tộc học về người Sán Dìu: Ma Khánh Bằng (1983) với "Người Sán Dìu ở Việt Nam", Diệp Trung Bình (1995, 1997) với các công trình về phong tục chu kỳ đời người và văn hóa ẩm thực, Lâm Quang Hùng (2002, 2004) với các nghiên cứu về người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc, tập quán săn bắn, hái lượm và tri thức canh tác dân gian.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận đơn lẻ về văn hóa dân tộc học thuần túy, đánh giá đa dạng sinh học hoặc khảo sát kinh tế - xã hội chung của vùng đệm. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện dưới góc độ Nhân học về sự chuyển đổi sinh kế của người Sán Dìu ở vùng đệm VQG Tam Đảo tại mốc thời gian trước và sau năm 1996, kết hợp phương pháp điền dã nhân học truyền thống với công nghệ GIS phân tích biến động sử dụng đất và phân tích định lượng số liệu hộ gia đình.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khung sinh kế bền vững của DFID (1999): Khung lý thuyết trung tâm phân tích 5 nguồn vốn sinh kế: Vốn tự nhiên ($N$), Vốn con người ($H$), Vốn xã hội ($S$), Vốn vật chất ($P$), Vốn tài chính ($F$). Mô hình đánh giá sự tương tác giữa 5 nguồn vốn này với bối cảnh dễ bị tổn thương (thiên tai, biến động tự nhiên, tính thời vụ), thể chế - chính sách (quy chế VQG, Chương trình 135, Chương trình 134, Dự án 327, Dự án 661) nhằm hình thành các chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế (thu nhập, an ninh lương thực, bảo vệ tài nguyên).
- Lý thuyết Phát triển bền vững (Hà Huy Thành và Nguyễn Ngọc Khánh, 2009): Tiếp cận sự cân bằng hài hòa giữa ba trụ cột: Tăng trưởng kinh tế - Công bằng xã hội - Bảo vệ môi trường sinh thái, lấy con người làm vị trí trung tâm.
- Lý thuyết Sinh thái nhân văn (Georges Olivier, 1992; Lê Trọng Cúc và A. Terry Rambo, 1995): Phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa hệ thống xã hội của tộc người Sán Dìu (dân số, thiết chế xã hội, phong tục, tri thức bản địa) và hệ sinh thái vùng chân núi Tam Đảo (địa hình, đất, rừng, nguồn nước).
- Lý thuyết Giao lưu tiếp biến văn hóa (Franz Boas, Ralph Linton): Lý giải sự chuyển dịch các yếu tố nội sinh và ngoại sinh trong văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và phương thức mưu sinh của người Sán Dìu dưới tác động của quá trình giao lưu với người Kinh và chính sách hiện đại hóa.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã Dân tộc học / Nhân học:
- Quan sát tham dự, ghi chép, chụp ảnh, vẽ sơ đồ: Khảo sát thực địa tại các thôn bản người Sán Dìu xã Đạo Trù trong các năm 2015, 2016.
- Phỏng vấn sâu (PVS): Thực hiện 25 cuộc phỏng vấn sâu đối với trưởng/phó thôn tại 5 thôn đại diện (Phân Lân Thượng, Phân Lân Hạ, Đạo Trù Thượng, Đạo Trù Hạ, Tiên Long); 20 cuộc phỏng vấn sâu người cao tuổi am hiểu lịch sử, phong tục; 100 bảng hỏi khảo sát điều tra hộ gia đình Sán Dìu.
- Thảo luận nhóm: Tổ chức 5 cuộc thảo luận nhóm cấp chính quyền huyện Tam Đảo và xã Đạo Trù; 5 cuộc thảo luận nhóm tại 5 thôn với đại diện Hội Người cao tuổi, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ; 3 cuộc thảo luận nhóm với cán bộ quản lý và Hạt Kiểm lâm VQG Tam Đảo.
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của UBND huyện Tam Đảo, UBND xã Đạo Trù, tài liệu quản lý của VQG Tam Đảo và số liệu Tổng điều tra dân số.
- Phương pháp so sánh: So sánh lịch đại (trước và sau năm 1996) và đồng đại giữa các thôn trong xã để làm rõ sự biến đổi sinh kế.
- Phương pháp Bản đồ Viễn thám và GIS: Xử lý dữ liệu không gian, xây dựng bản đồ hiện trạng và biến động sử dụng đất xã Đạo Trù các thời kỳ (1991, 2005, 2015).
- Phương pháp phân tích tổng hợp, phân tích hệ thống và phương pháp chuyên gia: Xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm thống kê, tham vấn các nhà khoa học chuyên ngành Nhân học, nhà quản lý chính sách lâm nghiệp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận, các khái niệm công cụ (sinh kế, sinh kế bền vững, phương thức mưu sinh, biến đổi sinh kế, vườn quốc gia, vùng đệm, các phân khu chức năng) và phác thảo bức tranh tổng quan về địa bàn nghiên cứu:
- Quá trình hình thành VQG Tam Đảo và điều kiện tự nhiên: Khối núi Tam Đảo hình thành cách đây 230 triệu năm vào giữa kỷ Trias do núi lửa phun trào dung nham nhiều đợt, đá mẹ gồm Macma axit và đá biến chất (Riolite, Daxit, Granit) khó phong hóa. Dãy núi dài 80 km chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với hơn 20 đỉnh cao trên 1.000 m (đỉnh cao nhất là Tam Đảo Bắc 1.592 m; ba đỉnh Thiên Thị 1.388 m, Thạch Bàn 1.393 m, Phù Nghĩa 1.300 m). Địa hình chia làm 4 kiểu chính, sườn núi dốc từ $16^\circ$ đến trên $35^\circ$. VQG là phân thủy của sông Công (Đông Bắc) và sông Phó Đáy (Tây Nam). Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với lượng mưa bình quân đạt 2.800 mm/năm (90% tập trung từ tháng 4 đến tháng 10).
| Yếu tố khí hậu |
Trạm Tuyên Quang |
Trạm Tam Đảo |
Trạm Đại Từ |
Trạm Vĩnh Yên |
| Nhiệt độ bình quân năm ($^\circ\text{C}$) |
22,9 |
18,0 |
22,9 |
23,7 |
| Nhiệt độ tối cao tương đối ($^\circ\text{C}$) |
41,4 |
33,1 |
41,3 |
41,5 |
| Nhiệt độ tối thấp tương đối ($^\circ\text{C}$) |
4,0 |
-0,2 |
3,0 |
3,2 |
| Lượng mưa bình quân năm (mm) |
1.630,3 |
2.800,0 |
1.700,0 |
1.500,0 |
| Độ ẩm trung bình (%) |
84,0 |
87,0 |
82,0 |
81,0 |
| Lượng bốc hơi (mm) |
760,3 |
561,5 |
985,5 |
1.040,1 |
- Dân cư và văn hóa xã Đạo Trù: Xã Đạo Trù có diện tích rộng, mật độ dân số thấp nhất vùng đệm (195 người/km²). Đến năm 2016, toàn xã có 3.804 hộ với 15.132 nhân khẩu, trong đó người Sán Dìu chiếm 87,5% phân bố ở 13 thôn (11/13 thôn thuần nhất 100% người Sán Dìu). Người Sán Dìu có nguồn gốc di cư từ Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) vào Việt Nam khoảng 300 năm trước (cuối Minh đầu Thanh), lưu giữ truyện thơ chữ Hán "Vũ Nhi" và truyền thuyết "Vua Cóc" (Khảm suy vong) dài hơn 800 câu thất ngôn.
- Văn hóa vật chất: Trang phục truyền thống nam mặc áo năm thân màu nâu, quần cạp lá hoa; nữ mặc áo chàm bốn thân, váy không khâu (gồm 2 hoặc 4 mảnh vải đính trên một cạp, vạt nọ chờm vạt kia 15–20 cm), mang xà cạp, túi đựng trầu xâu tiền đồng và dao cau chạm khắc; ẩm thực đặc trưng có tập quán ăn cháo loãng với cà nghém sau giờ lao động, bánh chưng gù (bánh sáu góc gói lá chít/dong), bánh tro (bánh lẳng), bánh trứng kiến Ngạt, cá thính ủ chum kín; nhà ở truyền thống là nhà đất ba gian hai chái kiểu "hàm ếch", hệ thống cột "con chồng kẻ nghé" không dùng vì kèo.
- Văn hóa tinh thần: Tín ngưỡng đa thần dung hợp Nho - Phật - Đạo (Đạo giáo chiếm ưu thế với các thầy Tào cúng Tam Thanh), thờ Phật Bà Quan Âm trên cao, thờ Táo quân (không dùng cá chép), thờ Thần Nông mùa màng, Thành Hoàng/Thổ địa tại đình thôn, thờ Mụ bảo vệ trẻ sơ sinh đến 3 tuổi, và thờ cúng tổ tiên.
| Thôn khảo sát |
Hộ gia đình |
Nhân khẩu |
Trường học |
Trạm y tế |
Nhà văn hóa |
Điện lưới |
Nước sạch |
Đình/Đền/Chùa |
| Phân Lân Thượng |
267 |
1.186 |
1 |
0 |
1 |
Có |
Không |
1 |
| Phân Lân Hạ |
233 |
1.037 |
1 |
2 |
0 |
Có |
Không |
1 |
| Đạo Trù Thượng |
198 |
940 |
1 |
1 |
0 |
Có |
Không |
2 |
| Đạo Trù Hạ |
215 |
1.100 |
1 |
0 |
1 |
Có |
Không |
1 |
| Tiên Long |
163 |
678 |
3 |
1 |
1 |
Có |
Có |
1 |
Chương 2. Sinh kế của người Sán Dìu trước khi thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo
Chương 2 phục dựng và phân tích toàn diện phương thức sinh kế truyền thống của người Sán Dìu giai đoạn từ sau năm 1945 đến trước năm 1996:
- Nguồn lực sinh kế ban đầu:
- Vốn tự nhiên: Đất nông nghiệp lúa nước ít ỏi, canh tác 1 vụ bấp bênh; tuy nhiên nguồn tài nguyên rừng tự nhiên của dãy núi Tam Đảo rất dồi dào, đóng vai trò là "kho dự trữ" khổng lồ cung cấp vật liệu xây dựng, thức ăn, chất đốt và nguồn dược liệu.
- Vốn con người: Lao động chủ yếu sử dụng kinh nghiệm thực hành dân gian, tri thức bản địa trong canh tác nương rẫy, săn bắt động vật và nhận biết cây thuốc, cây ăn được trong rừng. Trình độ học vấn thấp, thiếu kỹ thuật thâm canh hiện đại.
- Vốn xã hội: Tính gắn kết cộng đồng làng xóm và dòng họ rất cao; thực hành các hình thức vần công, đổi công trong mùa cấy gặt, tương trợ khi làm nhà mới hoặc thực hiện nghi lễ chu kỳ đời người.
- Vốn vật chất và tài chính: Công cụ sản xuất thô sơ (cày, bừa, cuốc, dao quắm, nỏ, bẫy); hạ tầng đường sá cách trở, chưa có điện lưới và nước sạch; nguồn vốn tài chính tiền mặt hầu như không đáng kể, nền kinh tế chủ yếu mang tính tự cấp tự túc.
- Các hoạt động sinh kế nông nghiệp và phi nông nghiệp:
- Trồng trọt: Canh tác lúa nước một vụ tại các thung lũng hẹp ven suối với các giống lúa địa phương, năng suất thấp; phát nương làm rẫy trồng ngô, sắn, khoai trên sườn đồi.
- Chăn nuôi: Nuôi trâu, bò theo hình thức thả rông hoàn toàn trong rừng Tam Đảo; chăn nuôi lợn, gà quy mô nhỏ quanh vườn nhà nhằm phục vụ cúng lễ gia đình và dòng họ.
- Khai thác tự nhiên: Đây là hoạt động sinh kế bổ trợ đặc biệt quan trọng. Người dân tự do vào rừng đốn gỗ làm nhà, khai thác tre, nứa, giang, vầu; lấy củi đun và bán; hái măng le, măng sặt, nấm hương, mộc nhĩ, lấy mật ong rừng, đào củ mài, lấy trứng kiến; săn bắt thú rừng (lợn rừng, hoẵng, gà rừng, cầy hương) bằng bẫy và súng tự chế; đánh bắt cá suối.
- Nghề phụ và trao đổi thương mại: Làm nghề đan lát cót lát, cót ép bằng tre nứa; trao đổi mua bán hàng hóa chưa phát triển, chủ yếu là hình thức hàng đổi hàng (đổi lâm sản lấy muối, vải, nông cụ) hoặc bán sản vật tại các chợ phiên vùng phụ cận.
- Chiến lược và kết quả sinh kế: Chiến lược mưu sinh mang tính chất thích nghi thụ động dựa vào khai thác tự nhiên. Kết quả sinh kế bảo đảm được an ninh lương thực ở mức tối thiểu qua việc bù đắp thiếu hụt mùa vụ bằng nguồn lâm sản, nhưng mức sống nghèo nàn, tỷ lệ tích lũy vật chất thấp và lệ thuộc hoàn toàn vào chu kỳ tự nhiên.
Chương 3. Biến đổi sinh kế của người Sán Dìu từ sau khi thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo
Chương 3 luận giải các chuyển dịch căn bản trong sinh kế của cộng đồng Sán Dìu từ năm 1996 đến giai đoạn 2015–2018:
- Biến đổi các nguồn vốn sinh kế:
- Vốn tự nhiên: Quyền tiếp cận rừng bị đóng khung do quy chế quản lý nghiêm ngặt của VQG Tam Đảo; diện tích đất canh tác bình quân suy giảm (776 m²/người). Hiện trạng sử dụng đất có sự phân định rõ ràng giữa đất lâm nghiệp (chiếm 68% tổng diện tích xã) và đất nông nghiệp (22%).
- Vốn vật chất và tài chính: Hạ tầng nông thôn thay đổi nhờ Chương trình 135, Chương trình 134 và chương trình Nông thôn mới; 100% thôn có điện lưới quốc gia, mở rộng đường liên xã, liên thôn; nhà ở kiên cố hóa bằng gạch vữa, bê tông cốt thép. Vốn tài chính mở rộng thông qua các kênh tín dụng chính sách (Ngân hàng Chính sách Xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp).
- Vốn con người và xã hội: Người dân được tập huấn kỹ thuật chuyển giao giống mới; tổ chức xã hội xuất hiện các hội đoàn thể mới (Hội Phụ nữ, Nông dân, Câu lạc bộ hát Soọng Cô, Câu lạc bộ chăn nuôi) bên cạnh mạng lưới dòng họ truyền thống.
- Biến đổi hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp:
- Trồng trọt: Chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu giống lúa năng suất cao, đẩy mạnh thâm canh từ 1 vụ lên 2 vụ lúa/năm kết hợp vụ đông (ngô, khoai tây, rau màu); phát triển trồng cây ăn quả (vải, nhãn, chuối) và cây dược liệu bản địa (trà hoa vàng, ba kích, đinh lăng).
- Chăn nuôi: Chấm dứt tập quán thả rông gia súc trong rừng, chuyển sang mô hình nuôi nhốt chuồng, áp dụng tiêm phòng dịch bệnh; hình thành các trang trại, gia trại chăn nuôi lợn siêu nạc, bò lai sind, gà đồi thả vườn và nghề nuôi ong lấy mật.
- Lâm nghiệp và dịch vụ phi nông nghiệp: Tham gia các chương trình trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất (keo lá tràm, keo tai tượng, bạch đàn) theo Dự án 327, 661; nhận khoán bảo vệ rừng tự nhiên. Lao động trẻ chuyển dịch sang làm công nhân tại các khu công nghiệp trong tỉnh Vĩnh Phúc và vùng lân cận, đi làm thuê xây dựng, thợ cơ khí. Phát triển hoạt động dịch vụ thương mại, buôn bán nhỏ phục vụ khách du lịch tại Tam Đảo (bán mật ong, cây thuốc nam, măng, cá thính).
- Biến đổi sử dụng đất và kết quả sinh kế: Dữ liệu bản đồ GIS giai đoạn 1991 - 2005 - 2015 phản ánh sự thu hẹp đất nương rẫy du canh, cố định hóa đất lúa nước và mở rộng diện tích đất lâm nghiệp có rừng trồng. Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình Sán Dìu có sự chuyển biến: tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp và lâm sản tự nhiên giảm dần, tỷ trọng từ tiền lương, tiền công phi nông nghiệp và chăn nuôi trang trại tăng lên. Tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt, điều kiện tiện nghi sinh hoạt nâng cao.
Chương 4. Nguyên nhân biến đổi và những vấn đề đặt ra đối với sinh kế bền vững của người Sán Dìu
Chương 4 đúc kết nguyên nhân, nhận diện các xung đột, thách thức và đề xuất giải pháp chính sách:
- Nguyên nhân biến đổi sinh kế:
- Nhóm nguyên nhân chính sách và thể chế: Quyết định thành lập VQG Tam Đảo (1996) và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004) làm thay đổi khung pháp lý sở hữu và sử dụng tài nguyên; các chính sách hỗ trợ phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số (Chương trình 135, Chương trình 134, chính sách giao đất giao rừng, xây dựng NTM).
- Nhóm nguyên nhân kinh tế và công nghệ: Tác động của kinh tế thị trường, đô thị hóa, sự hình thành các khu công nghiệp tại Vĩnh Phúc mở ra cơ hội việc làm phi nông nghiệp; việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và cơ giới hóa nông nghiệp.
- Nhóm nguyên nhân nhân khẩu và môi trường: Gia tăng dân số cơ học và tự nhiên tạo sức ép lên quỹ đất hữu hạn; đất đai canh tác bị xói mòn, thoái hóa.
- Những vấn đề đặt ra đối với sinh kế bền vững:
- Thiếu hụt đất sản xuất và việc làm tại chỗ: Diện tích đất canh tác bình quân quá thấp (776 m²/người) khiến nông nghiệp khó tạo ra tích lũy lớn; lao động phi nông nghiệp phần lớn là lao động phổ thông, công việc thiếu tính ổn định.
- Xung đột giữa bảo tồn và sinh kế: Nhu cầu khai thác lâm sản ngoài gỗ và dược liệu vẫn tồn tại âm ỉ; người dân chưa thực sự được hưởng lợi tương xứng từ các giá trị dịch vụ hệ sinh thái của VQG.
- Nguy cơ suy giảm tri thức bản địa và văn hóa tộc người: Sự biến đổi trang phục, nhà ở truyền thống và lối sống khiến các tri thức dân gian về rừng và cây thuốc có nguy cơ mai một.
- Hệ thống giải pháp phát triển sinh kế bền vững:
- Nhóm giải pháp nông - lâm nghiệp: Đẩy mạnh thâm canh cây trồng có giá trị kinh tế cao, mở rộng các mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng; phát triển chăn nuôi an toàn sinh học; hoàn thiện cơ chế giao khoán bảo vệ rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng cho cộng đồng thôn bản.
- Nhóm giải pháp kinh tế phi nông nghiệp và du lịch: Đào tạo nghề gắn với nhu cầu của các khu công nghiệp; hỗ trợ người dân Sán Dìu tham gia vào chuỗi du lịch sinh thái VQG Tam Đảo thông qua du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa (ẩm thực truyền thống, dân ca Soọng Cô).
- Nhóm giải pháp thể chế và quản trị: Tăng cường mô hình đồng quản lý giữa Ban quản lý VQG Tam Đảo, chính quyền xã Đạo Trù và cộng đồng thôn bản; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi dài hạn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Vận dụng tích hợp khung phân tích sinh kế bền vững (DFID), lý thuyết sinh thái nhân văn và lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa vào nghiên cứu một tộc người cụ thể (người Sán Dìu) sinh sống tại vùng đệm rừng đặc dụng ở Việt Nam.
- Làm sáng tỏ quy luật chuyển đổi sinh kế của cộng đồng dân tộc thiểu số dưới tác động kép của thể chế quản lý bảo tồn thiên nhiên nghiêm ngặt và quá trình hội nhập kinh tế thị trường.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp nguồn tư liệu dân tộc học và nhân học hệ thống, chân xác về bức tranh sinh kế của người Sán Dìu tại xã Đạo Trù (huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc) qua hai giai đoạn lịch sử (trước và sau năm 1996).
- Đo lường và đánh giá cụ thể thực trạng biến đổi 5 nguồn vốn sinh kế, cơ cấu hoạt động nông - lâm - phi nông nghiệp và biến động sử dụng đất thông qua ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS kết hợp điều tra 100 bảng hỏi hộ gia đình.
- Luận cứ khoa học phục vụ công tác quy hoạch kinh tế - xã hội, định hình chính sách phát triển sinh kế gắn với bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Tam Đảo, đóng góp thiết thực cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Địa bàn khảo sát thực địa của luận án tập trung chủ yếu tại xã Đạo Trù (huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc) — nơi có mật độ người Sán Dìu tập trung cao nhất; chưa mở rộng so sánh chuyên sâu với các cộng đồng người Sán Dìu ở các xã vùng đệm thuộc tỉnh Thái Nguyên (huyện Đại Từ) và Tuyên Quang (huyện Sơn Dương).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh sinh kế người Sán Dìu trên toàn bộ không gian vùng đệm VQG Tam Đảo thuộc cả 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang.
- Đi sâu nghiên cứu dưới góc độ Nhân học kinh tế và Nhân học du lịch về mô hình du lịch sinh thái cộng đồng gắn với bảo tồn di sản dân ca Soọng Cô và tri thức cây thuốc nam bản địa.
- Đánh giá định lượng tác động dài hạn của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với an sinh xã hội của các hộ gia đình dân tộc thiểu số vùng đệm.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên chuyên ngành Nhân học, Dân tộc học, Xã hội học, Địa lý nhân văn, Quản lý tài nguyên rừng và Phát triển nông thôn.
- Ban Quản lý VQG Tam Đảo, Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Dân tộc tỉnh Vĩnh Phúc, UBND huyện Tam Đảo và UBND xã Đạo Trù.
- Nội dung giá trị nhất:
- Khung phương pháp kết hợp điền dã dân tộc học với phân tích không gian GIS trong nghiên cứu sinh kế tộc người.
- Bộ dữ liệu điền dã chi tiết về cơ cấu kinh tế hộ, thu nhập, chi tiêu, tập quán ẩm thực, nhà ở và tri thức canh tác bản địa của người Sán Dìu.
- Các khuyến nghị chính sách về lâm nghiệp cộng đồng và bảo tồn cây thuốc nam quý hiếm tại vùng đệm.
Câu hỏi thường gặp
1. Quyết định thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo năm 1996 đã làm thay đổi căn bản nguồn vốn tự nhiên của người Sán Dìu như thế nào?
Việc thành lập VQG Tam Đảo theo Quyết định 136/TTg đã chuyển đổi quy chế quản lý từ rừng cấm sang vườn quốc gia với các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Người Sán Dìu bị cấm hoàn toàn các hoạt động khai thác gỗ, củi, săn bắt động vật hoang dã và hái lượm tự do vốn là nguồn sinh kế bổ trợ quan trọng trước năm 1996. Đồng thời, diện tích đất canh tác bị giới hạn với mức bình quân rất thấp là 776 m²/nhân khẩu, buộc người dân phải chuyển từ khai thác tự nhiên sang thâm canh nông nghiệp và tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp.
2. Luận án đã sử dụng những khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu chủ đạo nào?
Luận án vận dụng Khung sinh kế bền vững của DFID (1999) làm trung tâm, kết hợp với Lý thuyết Phát triển bền vững, Lý thuyết Sinh thái nhân văn và Lý thuyết Giao lưu tiếp biến văn hóa. Về phương pháp, luận án sử dụng phương pháp điền dã Nhân học làm chủ đạo (25 cuộc phỏng vấn sâu cán bộ thôn, 20 cuộc phỏng vấn người cao tuổi, 100 bảng hỏi hộ gia đình, 13 cuộc thảo luận nhóm), kết hợp phương pháp Bản đồ Viễn thám - GIS và xử lý tài liệu thứ cấp.
3. Những nét văn hóa vật chất đặc trưng nào của người Sán Dìu gắn bó trực tiếp với môi trường sống được ghi nhận trong luận án?
Luận án ghi nhận các yếu tố văn hóa vật chất tiêu biểu: trang phục nữ mặc váy không khâu độc đáo gồm 2 hoặc 4 mảnh vải đính cạp xẻ tà, đeo xà cạp và túi đựng trầu xâu tiền đồng; ẩm thực duy trì tập quán ăn cháo loãng với cà nghém sau khi lao động, làm bánh chưng gù sáu góc, bánh tro ngâm nước tro vỏ đỗ, bánh trứng kiến Ngạt và cá thính ủ chum; nhà ở truyền thống ba gian hai chái làm bằng cột kê "con chồng kẻ nghé" vách đất lợp cỏ tranh.
4. Cơ cấu kinh tế và việc làm của người Sán Dìu xã Đạo Trù đã chuyển dịch theo hướng nào sau khi thành lập VQG Tam Đảo?
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ tự cấp tự túc dựa vào rừng sang đa dạng hóa sinh kế: trong nông nghiệp chuyển từ lúa 1 vụ năng suất thấp sang thâm canh 2-3 vụ giống lúa mới, kết hợp trồng cây ăn quả, cây dược liệu và chăn nuôi nhốt chuồng quy mô trang trại/gia trại; trong phi nông nghiệp tham gia trồng rừng sản xuất, nhận khoán bảo vệ rừng, đi làm công nhân tại các khu công nghiệp, làm thợ xây dựng và kinh doanh dịch vụ phục vụ du lịch.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Xuân Hòa là công trình chuyên khảo hệ thống về sinh kế và sự chuyển đổi sinh kế của người Sán Dìu tại xã Đạo Trù, vùng đệm VQG Tam Đảo qua hai giai đoạn trước và sau năm 1996. Bằng việc tích hợp khung sinh kế DFID, lý thuyết sinh thái nhân văn và phương pháp điền dã nhân học kết hợp GIS, tác giả đã làm rõ bức tranh biến đổi 5 nguồn vốn sinh kế, cơ cấu sản xuất và mức độ tổn thương của cộng đồng dưới tác động của chính sách bảo tồn rừng đặc dụng. Công trình cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa phát triển kinh tế hộ, bảo tồn tri thức văn hóa tộc người và quản trị rừng cộng đồng, là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho nghiên cứu nhân học sinh kế và hoạch định chính sách phát triển nông thôn miền núi.