Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu đặc điểm siêu âm và sinh hóa trong sàng lọc trước sinh hội chứng down vào quý i thai kỳ tại bệnh viện phụ sản trung ương

Khóa luận nghiên cứu đặc điểm siêu âm và sinh hóa trong sàng lọc trước sinh hội chứng Down quý I thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kỹ thuật xét nghiệm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

56
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

BẢNG KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Hội chứng Down

1.2. Tỷ lệ, dịch tễ

1.3. Các yếu tố nguy cơ

1.4. Cơ chế phát sinh

1.5. Đặc điểm lâm sàng

1.6. Tình hình Hội chứng Down trên thế giới và tại Việt Nam

1.7. Các phương pháp sàng lọc

1.7.1. Các phương pháp sàng lọc trước sinh không xâm lấn

1.7.2. Sàng lọc dựa trên tuổi mẹ

1.7.3. Sàng lọc dựa vào tiền sử mang thai

1.7.4. Dựa vào đặc điểm siêu âm thai

1.7.5. Double test (PAPP- A+ bhCG)

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn. Tiêu chuẩn loại trừ

2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Quy trình nghiên cứu

2.7. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.8. Phương pháp thu thập số liệu

2.9. Xử lý số liệu. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô tả một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

3.2. So sánh phân bố tuổi mẹ, chỉ số sinh hóa, KSSG giữa thai bình thường và thai Trisomy 21

3.3. Các phương trình mô hình và biến số

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Mô tả một số yếu tố nguy cơ liên quan đến hội chứng Down

4.2. Mối liên quan giữa chỉ số sinh hóa (free β-hCG, PAPP-A) và khoảng sáng sau gáy (NT) với tuổi thai và hiệu chỉnh các chỉ số này theo tuổi thai

4.3. Các phương trình mô hình và biến số

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

5.1. Mô tả một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

5.2. Các phương trình mô hình và biến số

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu siêu âm và sinh hóa trong sàng lọc hội chứng Down

Nghiên cứu siêu âmsinh hóa là hai phương pháp chính được sử dụng trong sàng lọc trước sinh để phát hiện hội chứng Downquý I thai kỳ. Tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, các chỉ số siêu âm như khoảng sáng sau gáy (NT) và các xét nghiệm sinh hóa như PAPP-Aβ-hCG được kết hợp để đánh giá nguy cơ. Kết quả cho thấy, sự kết hợp này mang lại độ chính xác cao, giúp giảm tỷ lệ dương tính giả và tăng khả năng phát hiện sớm các bất thường nhiễm sắc thể.

1.1. Siêu âm thai trong sàng lọc hội chứng Down

Siêu âm thai đóng vai trò quan trọng trong việc đo khoảng sáng sau gáy (NT), một chỉ số quan trọng để đánh giá nguy cơ hội chứng Down. Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy, NT ≥ 3mm có liên quan đến nguy cơ cao mắc hội chứng Down. Phương pháp này được thực hiện ở tuổi thai từ 11 đến 13 tuần 6 ngày, mang lại độ chính xác cao và giúp phát hiện sớm các bất thường hình thái thai nhi.

1.2. Xét nghiệm sinh hóa trong sàng lọc hội chứng Down

Các xét nghiệm sinh hóa như PAPP-Aβ-hCG được sử dụng để đánh giá nguy cơ hội chứng Down. Nghiên cứu chỉ ra rằng, nồng độ β-hCG tăng cao (≥ 2,3 MoM) và PAPP-A giảm thấp (< 0,72 MoM) có liên quan đến nguy cơ mắc hội chứng Down. Kết hợp với siêu âm thai, các xét nghiệm này giúp tăng độ chính xác của sàng lọc trước sinh, đặc biệt là trong quý I thai kỳ.

II. Ứng dụng thực tiễn và giá trị của nghiên cứu

Nghiên cứu này có giá trị thực tiễn cao trong việc sàng lọc trước sinhchẩn đoán hội chứng Down tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp cải thiện độ chính xác của các phương pháp sàng lọc mà còn hỗ trợ các bác sĩ trong việc đưa ra quyết định can thiệp sớm. Điều này góp phần giảm thiểu gánh nặng về tâm lý và kinh tế cho gia đình và xã hội.

2.1. Cải thiện độ chính xác trong sàng lọc

Nghiên cứu đã chỉ ra sự cần thiết của việc kết hợp siêu âm thaixét nghiệm sinh hóa để tăng độ chính xác trong sàng lọc trước sinh. Việc sử dụng các chỉ số như NT, PAPP-A, và β-hCG giúp giảm tỷ lệ dương tính giả và tăng khả năng phát hiện sớm các bất thường nhiễm sắc thể, đặc biệt là hội chứng Down.

2.2. Hỗ trợ quyết định can thiệp sớm

Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin quan trọng giúp các bác sĩ đưa ra quyết định can thiệp sớm trong các trường hợp thai nhi có nguy cơ cao mắc hội chứng Down. Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe thai kỳ mà còn giảm thiểu các hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và tâm lý cho gia đình.

III. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu này khẳng định tầm quan trọng của việc kết hợp siêu âm thaixét nghiệm sinh hóa trong sàng lọc trước sinh để phát hiện hội chứng Downquý I thai kỳ. Các kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy, phương pháp này mang lại hiệu quả cao trong việc giảm tỷ lệ dương tính giả và tăng độ chính xác của chẩn đoán. Khuyến nghị tiếp tục áp dụng và mở rộng phương pháp này trong thực tiễn lâm sàng.

3.1. Tầm quan trọng của sàng lọc sớm

Việc sàng lọc sớm trong quý I thai kỳ giúp phát hiện kịp thời các bất thường nhiễm sắc thể, đặc biệt là hội chứng Down. Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe thai kỳ mà còn giảm thiểu các hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và tâm lý cho gia đình.

3.2. Khuyến nghị áp dụng rộng rãi

Khuyến nghị áp dụng rộng rãi phương pháp kết hợp siêu âm thaixét nghiệm sinh hóa trong sàng lọc trước sinh tại các cơ sở y tế khác. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, đồng thời giảm thiểu gánh nặng về tâm lý và kinh tế cho xã hội.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Hội chứng Down 1.1 Định nghĩa Hội chứng Down (Trisomy 21) là một rối loạn phát triển do thừa một nhiễm sắc thể số 21. Tình trạng dư NST 21 có thể xảy ra trong cả một đoạn NST, được gọi là hội chứng Down chuyển đoạn. Hội chứng Down là một rối loạn phát triển gây ra suy yếu trong khả năng nhận thức và phát triển thể chất. Hội chứng Down hay gặp nhất trong các hội chứng có biểu hiện rối loạn NST ở trẻ sơ sinh sống.

Năm 1846, Seguin lần đầu tiên mô tả những đặc điểm hình thái của bệnh với tên gọi “Furfuraceous Idiocy”. Năm 1866, John Langdon Down đã mô tả một số bệnh nhân chậm trí tuệ với những dấu hiệu về hình thái rất đặc trưng: mặt tròn, khe mắt xếch, nếp quạt, hình ảnh bất thường về nếp gấp ở lòng bàn tay và giảm trương lực cơ.Năm 1959, Lejeune và cộng sự đã phát hiện ở những bệnh nhân mắc hội chứng Down có 47 NST và thừa 1 NST số 21. Tỷ lệ, dịch tễ Tỷ lệ mắc phải hội chứng Down được ước tính bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) là khoảng 1/1000 đến 1/1100 trẻ sơ sinh. Việc xác định hội chứng Down có thể được thực hiện qua các phương pháp như xét nghiệm mẫu rối DNA, xét nghiệm trước sinh, hoặc xét nghiệm trực tiếp sau sinh.

Điều này cung cấp cho các chuyên gia y tế thông tin quan trọng để đưa ra sự chẩn đoán chính xác và tư vấn cần thiết cho gia đình. Theo nghiên cứu của Trần Đức Phấn đã thống kê 0.07% trẻ ở Thanh Khê- Đà Nẵng và 0.11% ở Biên Hòa bị mắc hội chứng Down.[3] Theo các nghiên cứu thì Hội chứng Down có thể xảy ra với bất kỳ ai, tuy nhiên khi mẹ ngoài 30 tuổi thì nguy cơ con sinh ra bị Hội chứng Down sẽ cao hơn. Tuổi mẹ 20 thì tỉ lệ mắc phải là 1/2000. Nhưng khi tuổi mẹ là 35 thì tỷ lệ này là 1/350.

Khi mẹ ở tuổi 40 thì tỷ lệ nhảy vọt lên đến 1/100. Khoảng 85- 90% số thai Down bị chết ngay ở giai đoạn phôi. Các yếu tố nguy cơ Nguyên nhân gây ra hội chứng Down là do thừa một nhiễm sắc thể 21. Yếu tố làm tăng nguy cơ dẫn đến nguyên nhân này có thể được xác định ở những trường hợp sau: 1.

Độ tuổi của mẹ khi mang thai: Tuổi mẹ càng cao thì nguy cơ sinh con mắc bệnh Down càng lớn, nghiên cứu cho thấy nguy cơ cao hơn khi mẹ lớn hơn 35 tuổi. Phụ nữ mang thai khi tuổi đã cao (tỷ lệ ở mẹ bầu trên 35 tuổi là 1:350, trên 40 tuổi là 1:100, trên 45 tuổi là 1:30, trên 49 tuổi là 1:10). Người mang chuyển đoạn di truyền gây hội chứng Down: cả nam giới lẫn phụ nữ đều có khả năng di truyền cho đời sau chuyển đoạn di truyền gây hội chứng Down. Từng mang thai hoặc sinh con mắc hội chứng Down: nguy cơ sinh con hoặc mang thai bị bệnh trong những lần tiếp theo là 1:100 1.

Cơ chế phát sinh Hiện nay, chưa thể phát hiện chính xác nguyên nhân gây nên Hội chứng Down ở từng người. Đa số các trường hợp xảy ra là do gặp phải các vấn đề trong quá trình hình thành các tế bào sinh sản hoặc trong quá trình phát triển sớm của thai nhi. Tỷ lệ mắc bệnh sẽ tăng theo tuổi của mẹ (nguy cơ cao khi mẹ từ 35 tuổi trở lên), hoặc gia đình có tiền sử từng sinh con mang trisomy 18. Ở những trẻ mang Hội chứng Down, đa phần gặp là Down dạng thuần, Down dạng khảm ít gặp hơn và rất hiếm gặp Down dạng chuyển đoạn hoặc thể ba nhiễm kép.

Hội chứng Down thuần (Trisomy 21): Đây là loại phổ biến nhất, chiếm khoảng 95% các trường hợp. Trong trường hợp này, có một NST 21 thừa, thường là do sự không phân ly NST bất thường của tinh trùng hoặc trứng. Người mắc hội chứng này có tổng cộng 47 NST, được gọi là tam NST 21. Hội chứng Down thể khảm: Đây là kết quả của sự không phân bào trong quá trình phân chia tế bào trong phôi.

Người mắc hội chứng Down thể khảm có hai dòng tế bào, một với 46 NST bình thường và một khác với 47 3 NST, bao gồm NST 21 thừa. Tiên lượng và nguy cơ biến chứng y tế có thể khác nhau tuỳ thuộc vào tỷ lệ tế bào NST 21 trong mỗi mô, bao gồm cả não. Hội chứng Down chuyển đoạn: Đây là loại hội chứng Down chỉ có một NST 21 chuyển đoạn với một NST khác. Phổ biến nhất là chuyển đoạn t(14;21), trong đó một phần của NST 21 được gắn vào NST 14.

Nguy cơ của người mẹ mang gen này có con bị hội chứng Down là 1:3. Đặc điểm lâm sàng Hình 1. Hội chứng Down Hội chứng Down, còn được gọi là trisomy 21, là một tình trạng di truyền nguyên phát gây ra bởi sự có mặt thừa của một bản sao của các chromosom số 21. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự chậm phát triển trí tuệ và các vấn đề sức khỏe ở trẻ sơ sinh.

Hội chứng Down có tỷ lệ mắc phải 4 xấp xỉ từ 1/700 đến 1/800 trẻ sơ sinh và không có sự khác biệt đáng kể giữa các chủng tộc và tầng lớp xã hội. Người mắc hội chứng Down thường có những đặc điểm ngoại hình đặc trưng. Điều này bao gồm đầu nhỏ, ngắn, mặt tròn, gốc mũi tẹt, khe mắt xếch, nếp quạt, khẩu cái hẹp, vòm cung cao, lưỡi to và dầy hoặc nứt nẻ, thường thè ra ngoài khiến miệng không đóng kín (nửa mở). Tai thường nhỏ, có thể bị biến dạng và vị trí thấp.

Cổ ngắn và gáy phẳng rộng cũng là một trong những đặc điểm thường gặp. Bàn tay của họ rộng và các ngón tay thường ngắn. Da của họ có những đặc điểm đặc trưng như nếp vân đặc biệt trên lòng bàn tay và các đặc điểm da khác trên bàn tay và bàn chân.[5] Trẻ sơ sinh bị hội chứng Down thường có xu hướng ít hoạt động, ít khóc và trương lực cơ giảm. Hơn nữa, họ thường có sự chậm phát triển trí tuệ, với chỉ số IQ trung bình từ 30-50.

Ngoài ra, hội chứng Down cũng liên quan đến các vấn đề sức khỏe khác như dị tật tim, dị tật ống tiêu hóa và nguy cơ mắc tự kỷ. Tăng trưởng và phát triển Khi trẻ mắc bệnh lớn lên, sự chậm phát triển cả về thể chất và tinh thần trở nên rõ ràng. Chiều cao thấp và chỉ số IQ trung bình là 50. Hành vi gợi ý tăng động giảm chú ý thường xảy ra trong thời thơ ấu và tỷ lệ mắc chứng tự kỷ tăng lên (đặc biệt ở trẻ khuyết tật về trí tuệ).

Trầm cảm phổ biến ở trẻ em và người lớn. Tình hình Hội chứng Down trên thế giới và tại Việt Nam Theo nghiên cứu tại Đại học Florida được tiến hành từ năm 2000-2004 trên 10.000 trẻ em từ 14 tiểu bang Hoa Kỳ cho thấy, bất thường NST là nguyên nhân hàng đầu trong số các nguyên nhân gây nên các dị tật bẩm sinh phổ biến ở trẻ nhỏ[29]. Trong các nguyên nhân gây dị tật bẩm sinh phổ biến nói chung, trisomy 21( Hội chứng Down) chiếm 14,47%, trisomy 18 chiếm 2,66% và 1,23% có nguyên nhân là trisomy 13. Nghiên cứu trên 10.323 trường hợp bất thường NST gồm các trường hợp sinh con sống dưới 1 tuổi tại cộng đồng các nước châu Âu từ năm 2000 đến năm 2006, phát hiện 7.335 trường hợp trisomy 21, 18 và 13, trong đó trisomy 21 chiếm tỷ lệ 53%, trisomy 18 chiếm tỉ lệ 13%, trisomy 13 chiếm tỷ lệ 5%[30].

5 Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoàng Trang từ kết quả nuôi cấy từ dịch ối phát hiện 244/2686 trường hợp bất thường NST chiếm tỷ lệ 9,1%, trong đó Hội chứng Down (trisomy 21) chiếm tỷ lệ 17,5%[31]. Tác giả Hoàng Thị Ngọc Lan và cộng sự (2012) nghiên cứu trên 1865 thai phụ chọc hút dịch ối, phát hiện 6,77% thai phụ bất thường NST, trong đó, trisomy 21 chiếm 60,19%, trisomy 18 chiếm 24,27%, trisomy 13 chiếm 5,13%, Hội chứng Turner (45,X) chiếm 4,85%, Klinefelter (47,XXY) chiếm 2,91%, Hội chứng Siêu nam (47,XYY) chiếm 0,97%, Đa bội chiếm 0,97%[32]. Các phương pháp sàng lọc 1. Các phương pháp sàng lọc trước sinh không xâm lấn Người phụ nữ nào cũng có nguy cơ sẽ sinh con có bất thường NST.

Vì vậy test sàng lọc trong suốt thai kỳ sẽ giúp tính được nguy cơ cho từng các thể. Sàng lọc dựa trên tuổi mẹ Nguy cơ sinh con bất thường NST nói chung, và trong đó có bất thường số lượng NST số 21 tăng theo tuổi mẹ, nguyên nhân, do tuổi mẹ càng cao thì trứng càng chịu nhiều tác động từ môi trường bên trong cũng như bên ngoài, dẫn đến tăng nguy cơ bất thường NST.[6] Trong những năm 1970, chỉ tuổi mẹ được sử dụng để sàng lọc trước sinh các bệnh di truyền. Vì vậy, tất cả các bà mẹ trên 35 tuổi được coi là có nguy cơ và được chuyển tuyến để chọc ối, chiếm 5% dân số các thai phụ. Tuổi mẹ được coi là một phương pháp sàng lọc không đầy đủ và vào những năm 1980.

Trong phương pháp sàng lọc do N. Wald phát triển, trong tam cá nguyệt đầu tiên, các chất phân tích khác nhau được phát hiện trong huyết thanh của mẹ được kết hợp với tuổi của mẹ[7]. Nó ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong 30 năm qua khi tuổi thai trung bình tăng lên. Nguy cơ bất thường NST gia tăng theo số tuổi của mẹ.Thai bất thường NST có khuynh hướng sẽ chết trong tử cung do chọn lọc tự nhiên, do đó nguy cơ sẽ giảm theo tuổi thai.

Sàng lọc dựa vào tiền sử mang thai 6 Mẹ có tiền căn mang thai hoặc sinh con mắc Hội chứng Down thì nguy cơ sinh con lần nữa mắc HC Down sẽ cao hơn khoảng 0.75% so với nguy cơ chỉ dựa vào tuổi mẹ và tuổi thai. Dựa vào đặc điểm siêu âm thai Trên siêu âm, Hội chứng Down được sàng lọc bằng đo khoảng sáng sau gáy (KSSG) và phát hiện các bất thường hình thái đặc trưng. Khoảng sáng sau gáy (KSSG) hay còn gọi là độ mờ da gáy (Nuchal Translucency) là thuật ngữ dùng để mô tả khoang chứa dịch nằm giữa tổ chức phần mềm của cột sống cổ ở phía trước với da của vùng gáy ở phía sau, kích thước bình thường của cấu trúc này thay đổi theo tuổi thai và có thể quan sát thấy ở tất cả các thai nhi bằng siêu âm 2D ở tuổi thai từ 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày [9]. Thuật ngữ “độ mờ” được sử dụng không kể có vách ngăn hay không, hay chỉ giới hạn tại cổ thai nhi hoặc bao phủ toàn bộ cơ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu siêu âm và sinh hóa sàng lọc hội chứng Down quý I thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương" tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các phương pháp siêu âm và xét nghiệm sinh hóa trong việc sàng lọc hội chứng Down ở giai đoạn đầu thai kỳ. Nghiên cứu này được thực hiện tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, mang lại cái nhìn chi tiết về độ chính xác và tính khả thi của các kỹ thuật này trong thực tế lâm sàng. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các bác sĩ, chuyên gia y tế và phụ nữ mang thai, giúp họ hiểu rõ hơn về quy trình sàng lọc và tầm quan trọng của việc phát hiện sớm các bất thường di truyền.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp chẩn đoán và điều trị trong y học, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi mở ống mật chủ lấy sỏi điều trị sỏi đường mật chính tại bệnh viên đa khoa kiên giang, cung cấp thông tin chi tiết về kỹ thuật nội soi trong điều trị sỏi mật. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu phẫu thuật thay khớp toàn phần điều trị lao khớp háng giai đoạn iv ổn định sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp phẫu thuật hiện đại. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu ứng dụng vi phẫu thuật điều trị một số u tầng trước nền sọ bằng đường mở nắp sọ lỗ khóa trên cung mày là tài liệu tham khảo sâu hơn về kỹ thuật vi phẫu thuật trong điều trị các khối u phức tạp.