ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh dịch tả lợn là bệnh truyền nhiễm lây lan nhanh chỉ xảy ra ở loài lợn, đặc trưng bởi tỷ lệ mắc bệnh cao và gây xuất huyết ở nhiều cơ quan. Trong trường hợp cấp tính, bệnh gây chết hàng loạt lợn với tỷ lệ rất cao, gây tổn thất lớn về kinh tế và nguy hiểm cho ngành chăn nuôi lợn. Bệnh xuất hiện trên thế giới cách đây hơn một trăm năm và tồn tại ở nhiều quốc gia châu Á và một số quốc gia châu Âu, châu Mỹ. Đã có rất nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật đóng góp vào việc tìm hiểu về bệnh dịch tả lợn (DTL) cũng như các phương pháp phòng chống bệnh.
Tuy nhiên cho tới nay, bệnh DTL vẫn tiếp tục được coi là bệnh nguy hiểm và gây thiệt hại nhất cho ngành chăn nuôi lợn. Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện vào năm 1923 và gây nhiều đợt dịch nghiêm trọng. Hiện nay, nhiều biện pháp kỹ thuật đã được áp dụng để phòng bệnh. Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau: điều kiện thời tiết khí hậu, chất lượng vắc xin, kỹ thuật tiêm phòng.
làm cho bệnh DTL xảy ra lẻ tẻ, ít thành ổ dịch lớn. Do diễn biến phức tạp của bệnh nên yêu cầu sản xuất vắc xin phòng và trị bệnh là rất cấp thiết. Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại vắc xin DTL nhập khẩu cũng như sản xuất trong nước song giá thành còn cao, các vắc xin giá rẻ thì chất lượng và hiệu quả sử dụng vắc xin chưa ổn định. Tại Hanvet vắc xin DTL nhược độc tế bào được sản xuất trên tế bào PK 15, nuôi cấy chai phẳng T-flask, quy mô nhỏ, độ ổn định và đồng đều giữa các lô mẻ thấp, số lượng vi rút thu hoạch được hạn chế, không đủ phục vụ sản xuất nếu nhu cầu thị trường gia tăng.
Để phục vụ cho quá trình mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao độ ổn định và chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ sản xuất vắc xin DTL bằng công nghệ nuôi cấy tế bào trên chất mang Microcarrier, chúng tôi thực hiện đề tài:“Nghiên cứu sản xuất vắc xin nhược độc Dịch tả lợn trên tế bào bằng công nghệ Microcarrier tại công ty Hanvet”. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Đề tài được thực hiện nhằm mục đích: 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xây dựng được quy trình chuẩn nuôi cấy và sản xuất vi rút Dịch tả lợn nhược độc trên Microcarrier. Từ đó, đáp ứng được yêu cầu sản xuất vắc xin DTL trên quy mô công nghiệp. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 2. Tình hình dịch bệnh trên thế giới Bệnh dịch tả lợn là bệnh lây lan rất nhanh, tỷ lệ chết cao (có thể từ 60 - 90%). Bệnh thường ghép với phó thương hàn, tụ huyết trùng.
Lợn mắc bệnh thường có triệu chứng bại huyết, xuất huyết ở nhiều cơ quan, bộ phận, hoại tử, loét niêm mạc đường tiêu hoá. Bệnh tiến triển ở nhiều thể khác nhau: quá cấp, cấp tính, mạn tính và thể tiềm ẩn (Nguyễn Bá Hiên & Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2012). Cho đến nay nguồn gốc của bệnh dịch tả lợn chưa được xác minh chính xác, hiện vẫn còn hai quan điểm song song tồn tại: Bệnh xuất hiện đầu tiên ở Anh vào năm 1862, sau đó lây lan sang các nước châu Âu khác là Đan Mạch, Thụy Điển vào năm 1887. Các nhà khoa học Mỹ cho rằng bệnh xuất phát từ châu Âu và lan sang khắp các nước trên thế giới, ở Nam Mỹ năm 1899, Nam Phi năm 1900 (Fuchs, 1968).
Hiện nay bệnh DTL vẫn tồn tại ở nhiều nước trên thế giới, thiệt hại về kinh tế do dịch tả lợn gây ra vẫn rất lớn. Năm 1997, các nước: Đức, Hà Lan, Italia, Tây Ban Nha, Bỉ có hơn 10 triệu con lợn bị giết hủy. Ở Hà Lan tính đến ngày 31 tháng 12 năm 1997 có 424 ổ dịch trong một năm. Cộng hòa liên bang Đức từ tháng 11 năm 1982 đến 9 năm 1984 có 1457 ổ dịch xảy ra ở 248 đàn lợn giống, 777 đàn lợn thịt và 412 đàn hỗn hợp, với 395000 lợn bị xử lý (Oleksiewicz & cs.
Theo OIE (1998), năm 1984 ở Mexico có 179 ổ dịch, Malaysia có 5 ổ dịch, Hàn Quốc có 45 ổ dịch. Trong một thập kỷ từ năm 1999 đến năm 2009, người ta chỉ ghi nhận được một số ổ dịch xảy ra lẻ tẻ ở khu vực phía Đông của EU. Trong các năm 2011, năm 2012 đến năm 2015 vẫn phát hiện ra một số ổ dịch Dịch tả lợn tại một số nước như: Lithuania, Latvia… (Postel & cs. Từ năm 2014 tình hình dịch bệnh Dịch tả lợn vẫn xảy ra ở một số vùng Caribê (Cuba, Cộng hòa Dominic và Haiti) cũng như từ Bolivia, Columbia, Ecuador và Peru.
Tuy nhiên, riêng lục địa châu Phi không phát hiện thấy ổ dịch nào (Oie, 2016). Báo cáo mới nhất của OIE (tính đến tháng 1 năm 2017) cho thấy: tại châu Mỹ không phát hiện thấy ổ dịch Dịch tả lợn, bao gồm: Canada, Chile, Guiana 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuộc Pháp, Mexico, Mỹ và một số tỉnh của Brazil (miền Trung và miền Nam) (Oie, 2017). Về địa dư bệnh lý, bệnh dịch tả lợn có tính chất phân bố toàn cầu. Theo Edwards (1998), bệnh xảy ra ở tất cả các nước có chăn nuôi lợn.
Riêng các nước: Australia, Canada, Newzelva, Irelva, Thụy Sỹ và các nước thuộc bán đảo Scadinavia được coi là không có bệnh dịch tả lợn. Tình hình dịch bệnh ở Việt Nam Ở Việt Nam, bệnh DTL được phát hiện vào các năm 1923 - 1924 bởi Houdenner (Đào Trọng Đạt & cs., 1985) và đến nay bệnh DTL vẫn là một trong “4 bệnh đỏ” gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi lợn ở nước ta. Năm 1960, bệnh DTL xảy ra ở các tỉnh Nghệ An, Phú Thọ do việc vận chuyển lợn bệnh từ tỉnh ngoài vào. Năm 1973, bệnh DTL xảy ra ở 11 trại lợn xung quanh thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1974 dịch xảy ra ở 17 tỉnh phía Bắc, làm thiệt hại trên 4 vạn lợn, 15 tỉnh Nam bộ có dịch, gây chết 145078 con lợn (Trần Thị Tố Liên &Đào Trọng Đạt, 1985), năm 1983 dịch xảy ra ở Hải Hưng. Trong những năm 1972 - 1973 dịch kéo dài ở Nghệ An, Hà Tĩnh do nhân dân mua lợn bệnh về trong dịp ăn tết cổ truyền làm lây lan dịch bệnh. Tại các tỉnh Trung bộ dịch xảy ra mạnh vào những năm 1976 - 1978; năm 1976 có 17 ổ dịch, 1977 có 36 ổ dịch, năm 1978 có 18 ổ dịch (Đào Trọng Đạt & cs. Từ những năm 1980, do việc tiêm phòng đã triển khai đồng bộ nên các ổ dịch lớn không xảy ra, nhưng bệnh vẫn tồn tại và diễn biến ngày càng phức tạp, có nhiều thay đổi về triệu chứng lâm sàng, bệnh tích cũng như về độ tuổi mẫn cảm.
Nghiên cứu về bệnh lý lâm sàng, triệu chứng, bệnh tích của bệnh DTL ở lợn các lứa tuổi khác nhau có những biến đổi phức tạp, bệnh diễn ra ở thể mạn tính, không điển hình do các chủng vi rút giảm độc lực thường xảy ra đối với lợn nái chưa tiêm phòng, lợn con theo mẹ và gây chết nhiều nhất là lợn con (Trần Tố Liên & Đào Trọng Đạt, 1985). Bệnh DTL ở nước ta xảy ra quanh năm, tuy nhiên do thời tiết thay đổi (thể hiện rõ ở miền Bắc) và do biến động của đàn lợn trong năm nên bệnh có lúc tăng lúc giảm. Ngoài ra, bệnh dịch tả lợn còn phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ tiêm phòng, lợn lớn đã có miễn dịch bị giết mổ, lợn con thay đàn bổ sung vào chưa kịp tiêm phòng làm cho tỷ lệ lợn mẫn cảm trong đàn tăng lên. Việc tiêm phòng theo mùa vụ 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và tiêm phòng bổ sung thường xuyên góp phần ổn định và hạn chế dịch bệnh rất nhiều, nhưng trong thực tế sản xuất có nhiều lý do nên việc tiêm phòng chưa thực hiện đúng quy định, vì vậy dịch tả lợn vẫn xảy ra vào các tháng trong năm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011).
Theo nghiên cứu của Nguyễn Phục Hưng, 2019 về “điều tra dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn cổ điển ở lợn tại miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2014-2017” cho thấy : trong giai đoạn điều tra, hầu hết các tỉnh miền bắc đều có hai năm dịch hệ số năm dịch >1, chỉ có tỉnh thái bình 3 năm có dịch, còn Sơn La, Nam Định là 1 năm có hệ số mùa dịch > 1. BỆNH DỊCH TẢ LỢN 2. Vi rút dịch tả lợn 2. Nguồn gốc vi rút Dịch Tả Lợn Theo Salmon & Smith (1885), bệnh gây ra bởi một loại vi khuẩn, hai ông đặt tên là Bacillus cholera suis (tức Salmonella suis).
Nhưng đến năm 1903, Schweinitz và Dorset đã xác định tác nhân gây bệnh DTL là một loài vi rút còn vi khuẩn Bacillus cholerae suis chỉ đóng vai trò phụ. Năm 1947 Holmes đặt tên cho vi rút gây bệnh DTL là Tortor vi rút. Trước đây, người ta coi vi rút gây bệnh DTL là thành viên của họ Togavirideae, giống Pestivi rút cùng với vi rút gây bệnh tiêu chảy ở bò (Bovine Viral Diarhea Vi rút – BVDV) và vi rút gây bệnh Border ở cừu (Border Diseease Vi rút – BDV). Nhưng gây đây, qua những nghiêm cứu về cấu trúc phân tử của Pestivirrus cho thấy bộ gen của chúng (genome) tương ứng với vi rút thuộc họ Flaviviridaenên giống Pestivi rút được xếp vào họ Flaviviridae.
(Nguyễn Văn Thanh & cs. Hình thái cấu trúc của vi rút Vi rút DTL thuộc loại ARN vi rút, có vỏ bọc là Lipoprotein. Quan sát dưới kính hiển vi điện tử, vi rút có dạng cấu trúc hình cầu với nucleocapside đối xứng hình khối bao bọc bởi lớp màng ngoài. Virion có đường kính 40-50 nm, đường kính của một khối nucleocapside là 29 nm bao bọc sợi ARN của vi rút.
Bề mặt của virion có những gai lồi 6-8 nm, là thành phần có tính chất bảo vệ hạt vi rút. Bộ gen của vi rút là một chuỗi đơn ARN có độ dài 12KB. Vi rút có 2 glycoprotein E155 và E146 KD ở trên bề mặt và một nucleocapside protein 36KD. Hệ số sa lắng là 140s – 180s (Nguyễn Bá Hiên & Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2012).
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cấu trúc vi rút DTL Nguồn: Nguyễn Ngọc Hải (2007) 2. Phân loại vi rút Năm 1939, Geiger đã kết luận rằng không có sự khác nhau cơ bản nào về tính kháng nguyên để sắp xếp các chủng vi rút DTL vào nhiều type vi rút khác nhau.