đặt vấn đề về số hộ SX lên hàng đầu. Số hộ tham gia làm nghề hoa giấy ngày càng giảm, chứng tỏ tình hình SX, tiêu thụ tại làng nghề chƣa ổn định, cần có những biện pháp cụ thể để phát triển SX và tiêu thụ tại làng nghề. - Số sản phẩm: Lƣợng sản phẩm đƣợc tiêu thụ ra bên ngoài thị trƣờng chính là thƣớc đo đánh giá sự phát triển về SX và tiêu thụ sản phẩm tại LNTT Thanh Tiên, lƣợng đơn đặt hàng càng cao thể hiện mức độ tiêu thụ sản phẩm hoa giấy càng cao, khả năng thu hút lớn, có tiềm năng phát triển. Ngƣợc lại đơn đặt hàng càng ít thể hiện mức độ tiêu thụ của sản phẩm hoa giấy không cao, không thu hút đƣợc khách hàng, chƣa khai thác hết tiềm năng, giá trị của sản phẩm hoa giấy Thanh Tiên.
Với thị trƣờng hiện đại ngày nay, nếu muốn tăng SX và tiêu thụ sản phẩm thì cần trang bị nhiều thiết bị, công nghệ SX hiện đại hơn, đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng. - Số LĐ: Một nghề với quy mô LĐ thì đòi hỏi cần phải có nhiều nhân công với mục đích tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng. Điều này cho thấy rằng số LĐ làm việc trong nghề là điều kiện đánh giá mức độ SX của làng nghề đó. Một nghề tạo ra nhiều việc làm cho ngƣời dân thì chứng tỏ nghề đó có quy mô lớn và phát triển, đã giải quyết một phần lớn ngƣời LĐ thất nghiệp tại địa phƣơng, giúp các hộ gia đình có thu nhập ổn định, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần.
- Thị trường tiêu thụ: Việc mở rộng thị trƣờng tiêu thụ chính là yếu tố quan trọng giúp sản phẩm của NTT làm hoa giấy đƣợc tiêu thụ ở nhiều nơi, không chỉ trong nƣớc mà còn ở nƣớc ngoài. Sản phẩm muốn đƣợc thị trƣờng tiêu thụ thì sản phẩm đó phải thực sự tốt, đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng. Thị trƣờng tiêu thụ ngày càng rộng thì chứng tỏ SX và tiêu thụ sản phẩm hoa giấy đang rất phát triển và ngƣợc lại. Về chất lƣợng 12 - Năng xuất LĐ: LĐ của làng nghề hoa truyền thống hoa giấy Thanh Tiên phần lớn là LĐ phổ thông, không qua đào tạo bài bản.
Tuy nhiên chính những con ngƣời này là cái hồn của sản phẩm. Nhờ bàn tay tài hoa, óc sáng tạo mà mỗi sản phẩm làm ra đều mang mỗi sắc thái riêng, không nhƣ các sản phẩm công nghiệp. Phát triển về mức độ SX và tiêu thụ sản phẩm chính là tạo ra nhiều sản phẩm hơn, muốn nhƣ vậy cần đầu tƣ cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lƣợng tay nghề, có nhƣ vậy thì năng suất LĐ sẽ cao hơn. Năng xuất LĐ càng cao càng thể hiện đƣợc sự phát triển về SX và tiêu thụ sản phẩm tại LNTT.
- Độ tinh xảo: Một trong những tiêu chí đánh giá sản phẩm thì sự đa dạng về mẫu mã là điều kiện thiết yếu. Sản phẩm có chất lƣợng thì sẽ đƣợc thị trƣờng tiêu thụ, tuy nhiên nếu mẫu mã đa dạng, phong phú hơn sẽ thõa mãn đƣợc nhu cầu của ngƣời tiêu dùng hơn. Việc SX và tiêu thụ sản phẩm phải gắn liền với việc bảo đảm và nâng cao chất lƣợng sản phẩm, chất lƣợng có ảnh hƣởng tới giá cả, từ đó ảnh hƣởng trực tiếp tới doanh thu. Về cơ sở sản xuất - Số lượng và chủng loại sản phẩm NTT hoa giấy: Nhằm đáp ứng yêu cầu thị trƣờng trong nƣớc và trên thế giới đang biến động mạnh mẽ và cạnh tranh ngày càng gay gắt, phục vụ và thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của ngƣời tiêu dùng đối với sản phẩm.
Điều này chứng minh đƣợc nếu cơ cấu số lƣợng sản phẩm và chủng loại sản phẩm đƣợc thay đổi tốt sẽ thấy đƣợc thế mạnh của địa phƣơng, phát huy trí tuệ, óc sáng tạo của đội ngũ nghệ nhân. Tự khẳng định vì thế về tiềm năng SX và tiêu thụ sản phẩm hoa giấy tại làng nghề hoa giấy Thanh Tiên. - Các sản phẩm thờ tự: Đây là các sản phẩm đƣợc tiêu thụ phổ biến của NTT hoa giấy. Các sản phẩm đƣợc sử dụng hàng ngày, tuy nhiên đóng góp không nhỏ cho sự phát triển chung của làng nghề.
- Các sản phẩm du lịch: Việc tiêu thụ sản phẩm bởi khách du lịch càng nhiều chính là yếu tố giúp cho sự phát triển nghề hoa giấy nói chung. Và thể hiện đƣợc sự phát triển du lịch tại địa phƣơng đó. Các nhân tố ảnh hƣởng đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại điểm đến du lịch làng nghề truyền thống * Chủ trương, chính sách của nhà nước, chính quyền địa phương Các làng nghề thủ công, trên thực tế bao giờ cũng hoạt động trong một môi trƣờng thể chế. Nói cách khác môi trƣờng thể chế luôn tác động trực tiếp đến hoạt động SX kinh doanh ở các làng nghề.
Môi trƣờng thể chế bảo đảm cho làng nghề phát triển bền vững, phát huy đƣợc các giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội các giá trị đạo đức, tín nhiệm và lƣơng tâm ngƣời thợ thông qua chất lƣợng sản phẩm đƣợc làm ra. Môi trƣờng thể chế gồm quy chế của làng và chính sách pháp luật của nhà nƣớc. Trong hầu hết các làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng ở nƣớc ta, đều có quy chế về nghề thủ công, hoặc thành văn bản riêng. Thậm chí mỗi phƣờng nghề trong cùng một nghề ở cùng một làng cũng có quy chế riêng, dƣới dạng “lời thề”, “lời nguyền”.
Những quy chế này truyền từ đời này sang đời khác, bắt buộc các thành viên trong gia tộc, trong phƣờng hội phải tuân theo, thực hiện một cách khá nghiêm ngặt. Những quy định nghiêm ngặt trong các làng nghề là biện pháp giữ bí mật và bí quyết nghề nghiệp của những ngƣời thợ trong các làng nghề. Điều đó có tác dụng tích cực đối với việc duy trì lâu dài hoạt động SX của mỗi làng nghề. Tuy nhiên, sự độc quyền của các thế hệ thợ thủ công trong mỗi làng nghề nhƣ thế đã kìm hãm sự phát triển của nghề trong phạm vi cả nƣớc.
Sau này, khi các trƣờng dạy nghề mở ra, cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ thì những hạn chế trên đây thay đổi theo hƣớng tích cực hơn. Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nƣớc có ảnh hƣởng rất lớn đến sự phát triển hay suy vong của các làng nghề. Thời kỳ trƣớc đổi mới, trong chính sách đối với các thành phần kinh tế, chúng ta chỉ tập trung phát triền kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, không chấp nhận kinh tế tƣ nhân, cá thể, nên các làng nghề theo nghĩa là đơn vị kinh tế độc lập đã chuyển thành hợp tác xã, hoặc các tổ, đội ngành nghề phụ trong các hợp tác xã SX nông nghiệp, làm cho các nghề phụ không phát triển đƣợc. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, khi hộ gia đình đƣợc công nhận là chủ thể kinh tế độc lập tự chủ cho nông thôn, các doanh nghiệp tƣ nhân đƣợc phép phát triển chính 14 thức, thì các làng đã có điều kiện phục hồi và phát triển mạnh.
Trong các kỳ Đại hội Đảng gần đây, vấn đề công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn đã đƣợc quan tâm đặc biệt. Đây chính là nội dung cơ bản của quá trình công nghiệp hóa đất nƣớc nhằm đạt mục tiêu đƣa nƣớc ta cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp vào năm 2020. Chính vì vậy, các chính sách về doanh nghiệp, vốn, thuế, đào tạo nguồn nhân lực, quản lý thị trƣờng… Là động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nông thôn nói chung và làng nghề nƣớc ta nói riêng. Nếu không có các chính sách phát triển hợp lý đối với sự kết hợp giữa đại công nghiệp với TTCN thì các làng nghề cũng khó có điều kiện phát triển.
* Kết cấu hạ tầng Kết cấu hạ tầng trƣớc hết là giao thông, điện, cấp thoát nƣớc, bƣu chính viễn thông… Có sự ảnh hƣởng trực tiếp và gián tiếp rất lớn tới sự hình thành tồn tại và phát triển của làng nghề, trong đó giao thông vận tải là yếu tố quan trọng nhất. Nhờ có giao thông phát triển mà nguyên liệu và sản phẩm đƣợc giao lƣu dễ dàng hơn phục vụ tốt hơn việc đáp ứng các nhu cầu của thị trƣờng. Làng nghề phát triển tốt là đều có giao thông thuận tiện, đây là điều kiện quan trọng vì nếu không tiện đƣờng giao thông thì làng nghề khó tồn tại lâu dài. Điện có nhiều tác dụng trong đó đặc biệt là đáp ứng nhu cầu cơ khí hóa trƣớc hết là cơ giới hóa ở một số khâu, công đoạn trong quá trình SX áp dụng công nghệ tiên tiến vào SX nhằm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trƣờng.
Thông tin là cầu nối để ngƣời SX nắm bắt đƣợc nhu cầu sở thích của khách hàng từ đó ra quyết định về mẫu mã sản phẩm, giá bán đồng thời thông tin còn giúp cho chủ doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm. * Thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề Sự tồn tại và phát triển của LNTT phụ thuộc rất lớn vào thị trƣờng và sự biến động của nó. SX càng phát triển càng thể hiện rõ sự chi phối của quan hệ cung – cầu và quy luật cạnh tranh. Những làng nghề có khả năng thích ứng với sự thay đổi của nhu cầu thị trƣờng thƣờng có tốc độ phát triển nhanh.
Đó là những làng nghề mà sản phẩm của nó có đủ sức cạnh tranh trên thị trƣờng và luôn đổi mới cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của xã hội. Điều này đƣợc chứng minh ở sự phát triển mạnh của 15 một số LNTT gốm sứ mỹ nghệ, chạm, khắc gỗ. Ngƣợc lại một số làng nghề không phát triển đƣợc, ngày càng bị mai một có nguy cơ bị mất đi vì những lý do: Không đáp ứng đƣợc những đòi hỏi khắt khe của thị trƣờng hoặc nhu cầu của thị trƣờng không cần đến loại sản phẩm đó nữa. * Nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất Trong bất kỳ một CSSX nào số lƣợng nguyên liệu dự trữ trong kho bãi hay đang trên đƣờng về nhà đóng một vai trò quan trọng quyết định trong chiến lƣợc đầu tƣ SX kinh doanh, quy mô SX cả cơ sở.
Chủng loại nguyên liệu, chất lƣợng, giá cả các nguyên liệu còn ảnh hƣởng đến chất lƣợng và giá cả sản phẩm, hàng hóa SX ra. Chất lƣợng sản phẩm tốt đƣợc đảm bảo, càng thu hút đƣợc ngƣời tiêu dùng và nâng cao đƣợc thị phần sản phẩm của các làng nghề trên thị trƣờng.