MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người, đó là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng hết sức quan trọng, đặc biệt là Vitamin và chất khoáng. Do đó, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm trong rau xanh đang thực sự trở thành vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình thâm canh tăng năng suất cây trồng để tạo ra khối lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế ngày một cao, tình hình VSATTP trong nông sản ở Việt Nam nói chung cũng như ở Tuyên Quang nói riêng, nhất là trong rau xanh đang là vấn đề gây nhiều lo lắng và bức xúc. Tình trạng rau bị ô nhiễm do thuốc BVTV, Nitrat(NO3), kim loại nặng, vi sinh vật (VSV) gây hại đã đến mức báo động từ nhiều năm nay nhưng những mẫu rau này vẫn được bán tràn lan trên thị trường.
Đó là những nguyên nhân chính gây nên tình trạng ngộ độc thực phẩm cấp tính cho người sử dụng. Đồng thời, cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng ngộ độc mãn tính đưa đến các bệnh hiểm nghèo như: Ung thư… ngày càng nhiều. Hơn nữa rau xanh có đặc thù không giống như cây lúa, cây rau được gieo trồng với nhiều chủng loại phong phú, có thời gian sinh trưởng ngắn nên đòi hỏi tưới nước, bón phân cũng như phun thuốc BVTV nhiều hơn. Từ đó nảy sinh ra nhiều vấn đề như, dư lượng thuốc BVTV (do phun thuốc không đảm bảo thời gian cách ly); Đạm (do bón dư thừa vượt quá nhu cầu của cây); các loại vi trùng và ký sinh trùng (do tưới nguồn nước bẩn bị ô nhiễm vi sinh).
Các vấn đề nêu trên tồn dư trong rau vượt quá mức qui định theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5942-1995, gây ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe của người tiêu dùng. Như vậy, việc sản xuất và cung cấp rau an toàn cho thị trường đảm bảo dư lượng thuốc BVTV, hàm lượng Nitrat (NO3) kim loại nặng,. dưới mức cho phép là nhu cầu hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực tế trên, năm 2010 tỉnh Tuyên Quang đã triển khai chương trình sản xuất rau an toàn tại nhiều huyện khác nhau, từ đó đến nay vẫn được duy trì và phát triển.
Huyện Sơn Dương cũng là một trong những n 2 huyện được quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn. Trong đó xã Vĩnh Lợi là xã có nhiều lợi thế và tiềm năng, tháng 9 năm 2013, Dự án sản xuất và sơ chế RAT được triển khai và bắt đầu sản xuất tại xã Vĩnh Lợi theo quy trình của thành phố Tuyên Quang. Trong những năm qua mô hình đã đạt được những kết quả đáng khích lệ làm cho người nông dân phấn khởi, tin tưởng vào cái mới song vẫn còn nhiều tồn tại trong vấn đề sản xuất rau an toàn: Đó là người nông dân chưa thực sự chủ động trong việc sản xuất, ruộng đất vẫn còn manh mún chưa tập trung, gặp khó khăn trong việc đầu tư thâm canh, chăm bón. Quy trình sản xuất rau an toàn đôi khi không tuân thủ triệt để nên ảnh hưởng đến chất lượng và việc tiêu thụ sản phẩm, làm người tiêu dùng giảm độ tin cậy.
Từ những hạn chế đó làm cho hiệu quả kinh tế của việc sản xuất rau an toàn tại xã Vĩnh Lợi giảm đi cả về số lượng cũng như chất lượng. Từ những vấn đề trên, được sự nhất trí của ban quản lý dự án rau an toàn tại xã Vĩnh Lợi và sự đồng ý của khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng sản xuất rau an toàn tại xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Nắm rõ tình hình sản xuất rau an toàn trên địa bàn nghiên cứu, phân tích chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những vấn đề còn tồn tại trong quá trình sản xuất RAT.
Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình sản xuất RAT tại xã Vĩnh Lợi. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thực tiễn của sản xuất rau an toàn. - Đánh giá hiện trạng sản xuất rau an toàn tại xã Vĩnh Lợi, những thuận lợi và khó khăn gặp phải khi thực hiện mô hình. - Đề xuất một số biện pháp để sản xuất rau an toàn có hiệu quả và nhằm phát triển mô hình rau an toàn trong những năm tới.
n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Những khái niệm liên quan đến rau an toàn * Rau an toàn(RAT): Có nhiều khái niệm khác nhau về rau an toàn - Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông thôn, 1998 thì “Những sản phẩm rau tươi có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hóa chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gọi tắt là rau an toàn”. - Căn cứ theo quyết định số 04/2007/QĐ – BNN, ngày 19/01/2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành “ Quy định về quản lý sản xuất và chứng nhận rau an toàn” [5] khái niệm RAT được hiểu như sau: “Là sản phẩm rau tươi đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng về hàm lượng kim loại nặng, hàm lượng Nitrat (NO3), vi sinh vật, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) theo quy định hiện hành của nhà nước (tại quyết định số 99/2008/QĐ – BNN ngày 15/10/2008 của Bộ NN&PTNT); được sản xuất, sơ chế theo quy trình sản xuất, sơ chế RAT; tiến tới sản xuất, sơ chế theo quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi Việt Nam (VietGAP)”.
* Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi Việt Nam gọi tắt là VietGAP (Vietnames Goo Agricultural Practices): Là những nguyên tắc trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và nguồn gốc sản phẩm. *Ngưỡng an toàn: Là mức giới hạn tối đa cho phép của dư lượng hóa chất độc hại (kim loại nặng, nitrat, thuốc Bảo vệ thực vật, các chất điều hòa sinh trưởng), các vi sinh vật có hại được phép tồn tại trên rau mà không ảnh hưởng đến sức khỏe con người theo Quy định hiện hành của Bộ Y tế. Tiêu chuẩn Rau an toàn Theo Quyết định số 106/2007/QĐ – BNN ngày 28 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) [7] sản phẩm rau được hiểu là an toàn khi đáp ứng được các yêu cầu sau: n 4 2. Chỉ tiêu về hình thái Chỉ tiêu hình thái tức là xét ở khía cạnh sạch, hấp dẫn về hình thức: sản phẩm rau phải tươi, sạch bụi bẩn, không lẫn các tạp chất, thu đúng độ chín – khi có chất lượng cao nhất, không có triệu chứng bệnh, có bao bì bảo quản vệ sinh hấp dẫn.
Chỉ tiêu về nội chất Chỉ tiêu nội chất tức là xét về khía cạnh sạch, an toàn về chất lượng: Khi sản phẩm rau không chứa các dư lượng vượt quá ngưỡng cho phép của tiêu chuẩn vệ sinh y tế (TCVN) như : - Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. - Dư lượng đạm Nitrat(NO3). - Dư lượng kim loại nặng(chì, thủy ngân, asenic, kẽm, đồng…). - Số lượng vi sinh vật và kí sinh trùng gây hại.
Trong đó yêu cầu (2) hoàn toàn phụ thuộc vào môi trường canh tác và kỹ thuật trồng trọt, nó là yếu tố quyết định rau sạch hay rau bị ô nhiễm. Sự quan trọng của cây rau 2.Tính đa dạng của cây rau Rau là một trong những cây trồng quan trọng được người dân Việt Nam canh tác từ lâu đời, bất cứ nơi nào có người ở là ở đó có rau xanh, khá phong phú về chủng loại. Riêng rau ở miền Bắc nói chung và rau ở Tuyên Quang nói riêng do có đặc điểm khí hậu đa dạng(có đầy đủ bốn mùa) nên có thể trồng được từ các loại rau nhiệt đới như rau muống, rau ngót, rau cải… cho đến các loại rau xứ lạnh như xu hào, bắp cải, cà rốt… Dựa vào phân loại thực vật có thể chia ra 10 nhóm rau chính: ăn rễ, ăn củ, rau họ cải, họ cà, họ bầu bí, họ đậu, họ hành tỏi, rau ăn lá, rau thủy sinh và rau lưu niên. Ở miền Bắc có tới hơn 75 loài cây dùng làm rau ăn.
Các loại rau chủ yếu thuộc loại cây hàng năm đã thích nghi được với điều kiện khí hậu và điều kiện đất đai của vùng. Đây là nguồn gen quý giá phù hợp cho công tác chọn giống rau quanh năm của khu vực phía Bắc.Thành phần dinh dưỡng của cây rau Rau là loại thực phẩm chứa nhiều nước từ 75 – 80%, chứa các chất khoáng như: Canxi, Kali, Sắt, Iốt…giúp trung hòa pH trong máu và dịch tế n 5 bào, các vitamin quan trọng trong rau vitamin A, vitamin B, Vitamin C… Chất xơ có trong rau chủ yếu là chất khô, nó làm tăng thể tích tiếp xúc của thức ăn với dịch tiêu hóa, giúp cho việc tiêu hóa dễ dàng, kích thích ruột co bóp và tiết dịch tiêu hóa, giúp cơ thể chống bệnh táo bón. Ngoài ra, nó còn chứa chất đạm và là vị thuốc quan trọng. Hiệu quả kinh tế Lợi ích kinh tế do cây rau mang lại: Tăng ngày công lao động cho nông thôn vì sản xuất rau đòi hỏi nhiều công lao động hơn so với sản xuất lúa và cây lương thực khác.
Tăng thu nhập cho nông dân mặc dù sản xuất rau chỉ chiếm 5- 6% so với tổng sản lượng nông nghiệp, ngoài ra nó phát triển thêm nhiều ngành nghề phụ phục vụ cho sản xuất nông thôn: đan sọt, giỏ, nghề mộc và dịch vụ chế biến… Cuối cùng là đẩy mạnh xuất khẩu và trao đổi hàng hóa giữa các nước. Nguyên tắc sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn GAP Các nguyên tắc sản xuất rau an toàn được quy định theo tiêu chuẩn GAP [13] bao gồm: - Chọn đất: Đất để trồng rau phải là đất cao, thoát nước tốt, thích hợp với quá trình sinh trưởng, phát triển của rau. Tốt nhất là chọn đất cát pha, đất thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình có tầng canh tác dày 20-30cm. Vùng trồng rau phải cách ly với khu vực có chất thải công nghiệp nặng và bệnh viện ít nhất 2km, với chất thải sinh hoạt của thành phố ít nhất 200m.