MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bưởi Đại Minh là đặc sản của huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, trong những năm qua giống bưởi Đại Minh được mở rộng diện tích ở 26 xã và thị trấn, tổng diện tích 350 ha, nhưng tập trung chủ yếu ở xã Đại Minh 150 ha. Sản lượng bưởi Đại Minh mỗi năm trên 9.000 tấn, mang lại thu nhập cho người dân khoảng 90 tỷ đồng. Nhiều hộ trồng bưởi có thu nhập từ 400-800 triệu đồng mỗi năm.
Bưởi Đại Minh đã có mặt trong một số siêu thị ở Hà Nội và các tỉnh thành phía Bắc, nhiều năm không đủ quả bán vì nhu cầu cung cấp cho các hội nghị lớn trong nước và quốc tế. Tuy nhiên hiện nay bưởi Đại Minh chưa có cơ sở và nhà vườn nào được cấp chứng nhận VietGAP, do vậy giá trị quả bưởi còn thấp. UBND tỉnh Yên Bái đã thông qua đề án “Phát triển cây ăn quả tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016-2020” theo đó diện tích quy hoạch, trồng mới bưởi, quýt Văn Chấn 1.100 ha, Lục Yên là 400 ha, Trấn Yên 150 ha, Yên Bình 200 ha.phấn đấu trồng mới 2.300 ha cam, quýt, bưởi; giữ vững vùng cây có múi hơn 4.000 ha; phấn đấu đưa diện tích cây ăn quả của tỉnh lên 9. Diện tích và sản lượng bưởi thì ngày càng tăng lên.
Tuy nhiên, diện tích cây ăn quả thường dựa vào quỹ đất của kinh tế hộ, trồng theo kinh nghiệm hoặc nhu cầu tự phát của từng chủ hộ, nên mức độ tập trung, sản lượng chưa cao, chưa xây dựng được cơ sở chế biến trái cây hay bảo quản đơn giản mà thường bán ngay nên sau thu hoạch giá trị thương phẩm thấp, trong khi đầu ra chỉ trông chờ vào thương lái nên về lâu dài là mối lo lắng của người dân. Vì khi cung vượt cầu thì người trồng bưởi rất dễ bị ép giá, giá cả sản phẩm bưởi được quyết định từ phía các thương lái, có một sợi dây vô hình đã liên kết các thương lái với nhau nên họ kiểm soát hoàn toàn giá cả sản phẩm bưởi. Nông dân (người sản xuất) hoàn toàn bị động trong việc quyết định giá cả của sản phẩm mình làm ra. Bên cạnh đó, thiếu thông tin thị trường do chưa có một cơ quan chuyên trách nào tại địa phương cập nhật, phổ biến các thông tin thị trường như giá cả, sản lượng xuất, nhập khẩu cho người sản xuất.
Chính vì vậy người sản xuất luôn Luan van 2 bị động khi tham gia vào thị trường. Bên cạnh đó chưa có kênh phân phối chính thức nên có những thương lái hám lợi mua bưởi ở vùng khác trộn lẫn với bưởi Đại Minh để bán, từ đó làm ảnh hưởng đến chất lượng, uy tín thương hiệu bưởi Đại Minh. Do đó, một trong số những yếu tố quan trọng trong phát triển vùng bưởi chất lượng ở Yên Bái là đầu ra sản phẩm và được sản xuất theo chuỗi liên kết giá trị. Việc xây dựng vùng sản xuất bưởi chất lượng là điều kiện quan trọng để nâng cao giá trị quả bưởi, tạo hướng phát triển bền vững.
Vì vậy, việc xây dựng thương hiệu cho cây ăn quả nói chung và cây bưởi nói riêng cần phải tiến hành song song với việc sản xuất theo quy trình VietGAP để khai thác lợi thế so sánh về sản xuất cây ăn quả ở Yên Bái. Những năm gần đây, sản xuất theo chuỗi với hình thức hợp đồng tiêu thụ nông sản giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp ngày càng phát triển. Phát triển liên kết giữa doanh nghiệp với hộ nông dân thông qua mô hình hợp tác xã để tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông sản đang là một yêu cầu của thực tiễn ngành nông nghiệp, nhằm khắc phục tình trạng “được mùa mất giá, ít thiếu nhiều thừa” đã diễn ra nhiều năm nay. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Điều tra tình hình sản xuất và áp dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất bưởi Đại Minh theo chuẩn VietGAP ở xã Đại Minh huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái”.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá tình hình sản xuất bưởi Đại Minh để từ đó áp dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất bưởi theo tiêu chuẩn VietGAP ở xã Đại Minh huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái.Yêu cầu của đề tài - Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở xã Đại Minh ảnh hưởng đến sản xuất và kinh doanh bưởi Đại Minh - Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ bưởi Đại Minh ở xã Đại Minh. - Các bước tiến hành sản xuất bưởi theo tiêu chuẩn VietGAP ở xã Đại Minh. -Kết quả thiết kế tem truy xuất nguồn gốc sản xuất bưởi Luan van 3 4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4.
Ý nghĩa khoa học Qua thực hiện đề tài nắm được các kiến thức thực tế thông qua việc nghiêm các tài liệu có sẵn và kiến thức mô hình, thực hiện đề tài giúp cho em củng cố được những kiến thức chuyên môn, vận dụng các kiến thức đã học áp dụng vào thực tế sản xuất. Tự thiết lập được kế hoạch qua các hoạt động thực tế. Em có cơ hội tiếp cận tham gia các hoạt động sản xuất, tìm hiểu về quy trình sản xuất từ đó rút ra nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp và em có ý thức tự lập, tự chịu trách nhiệm trong lĩnh vực sản xuất sau này. Ý nghĩa thực tiễn Từ kết quả của đề tài giúp vận dụng tốt quy trình sản xuất theo chuẩn VietGAP trên các đối tượng cây trồng khác, đưa ra các giải phát thích hợp để áp dụng vào thực tế sản xuất đối với từng địa phương.
Khuyến cáo với người sản xuất về các tiêu chuẩn chất lượng đối với nông nghiệp và xu hướng phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam. Luan van 4 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Tình hình sản xuất bưởi trên thế giới Cây ăn quả có múi là loại cây ăn quả nhiệt đới, được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới.
Bưởi được trồng nhiều tại các vùng lục địa như là: Châu Mỹ, Địa Trung Hải và châu Á. Trong đó châu Á là vùng trồng bưởi với diện tích lớn nhất hiện nay, theo số liệu của FAO năm 2018 tổng diện tích trồng bưởi đạt 243.394 ha, năng suất đạt 28.1888 tấn/ha và sản lượng đạt 6.971 tấn, được trồng tập trung ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á.1 Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi của thế giới từ năm 2009-2018 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (ha) (tấn/ha) (tấn) 2009 317.739 Nguồn: (FAO, 2020)[11] Theo bảng 2.1 ta thấy được là tổng diện tích, năng suất và sản lượng bưởi trên toàn thế giới tăng lên rõ dệt, cụ thể năm 2011 đến năm 2018 có sự chuyến biến cả về diện tích, năng suất và sản lượng, đánh dấu bước phát triển vượt bậc so với những năm trước. Năm 2011 với diện tích 324.518 ha đạt năng suất 24,42 tấn/ha và sản lượng đạt 7.236 tấn, đến năm 2018 diện tích 373.735 ha, năng suất 25,08 tấn /ha với kỉ lục sản lượng đạt 9. Luan van 5 Diện tích bưởi của thế giới năm 2009 đạt 317.350 ha đến năm 2018 đạt 373.025 ha, trong đó năm 2018 với diện tích lớn nhất so các năm trước đó.
Năng suất năm 2009 đạt 23,71 tấn/ha đến năm 2018 đạt 25,08 tấn/ha tăng 1,37 tấn/ha, trong đó năm 2017 là năm có năng suất lớn nhất đạt 26,95 tấn/ha và năm 2010 là năm có năng suất thấp nhất 23,65 ha/năm. Sản lượng bưởi năm 2009 đạt 7.065 tấn và đến năm 2018 đạt 9.674 tấn đạt sản lượng cao nhất. Tìm hiểu về thực hành nông nghiệp tốt (GAP) trên thế giới GAP là viết đầu của 3 từ tiếng Anh (Good Agriculture Practices) dịch sang tiếng Việt là thực hành nông nghiệp tốt. Thực hành nông nghiệp tốt (Good Agricultcure Practices ) là những nguyên tắt được thiết lập nhằm đảm bảo một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ, thực phẩm phải đảm bảo không chứa chất độc sinh học (vi khuẩn, nấm, virus, ký sinh trùng) và hóa chất (dư lựa thuốc BVTV, kim loại nặng, hàng lượng nitrat), đồng thời sản phẩm phải đảm bảo an toàn từ ngoài đồng đến khi sử dụng (Ban biên tập FOSI)[9] GAP bao gồm việc sản xuất theo hướng lựa chọn địa điểm, việc sử dụng dất đai, phân bón, nước, phòng trừ sâu bệnh hại, thu hái, đóng gói, tồn trữ, vệ sinh đồng ruộng và vận chuyển sản phẩm, nhằm mục đích đảm bảo: An toàn cho thực phẩm; An toàn cho người sản xuất; bảo vệ môi trường; Truy nguyên nguồn gốc sản phẩm (Ban biên tập FOSI) [9] a) Nguồn gốc ra đời của GAP Khái niệm GAP được ra đời từ năm 1997, theo sáng kiếm của những người bán lẻ Châu Âu (Euro-Retailer Produce Working Group).
Nhằm để giải quyết mối quan hệ bình đảng cũng như trách nhiệm cần thực hiện, giữa người sản xuất sản phẩm nông nghiệp và khách hàng của họ. Từ ngày 7/9/2007, hệ thống EurepGAP của Châu Âu được nâng lên thành GLOBALGAP. Là tiêu chuẩn quy trình sản xuất cảu tổ chức, doanh nghiệp làm ra sản phẩm được áp dụng cho rau, cây ăn quả, động vật, gia súc, thủy sản. Chứng chỉ Luan van 6 đó bao trùm một chuỗi quy trình sản xuất xuyên suốt từ nguồn giống, gieo hạt giống cho đến khi thành phẩm, đua sản phẩm ra khỏi nông trại và được lưu thông trên thị trường.
Các tiêu chuẩn chung của GAP là: An toàn thực phẩm; an toàn cho môi trường; Sức khỏe và an sinh xã hội; Sự an toàn của người lao động; truy nguyên nguồn gốc sản phẩm b) GAP của khu vực Châu Á- ASEANGAP ASEANGAP được thành lập bởi Hiệp Hội ASEAN,10 nước thành viên của ASEAN cam kết gia tăng chất lượng của sản phẩm rau và trái cây. Từ yêu cầu đố các nước thành viên đẫ bắt đầu giới thiệu những quy định về đảm bảo chất lượng mà nông dân phải tuân thủ. Hiện nay, một vài nước thành viên nhận ra cần thiết phải có hệ thống đảm bảo chất lượng (QA:Quality Assurance) nên đã phát triển chúng như: - Malaysia giới thiệu hệ thống kiểm soát chất lượng SALM(The Farmer Accreditation Scheme of Malaysia) - Ở Philippine giải quyết hệ thống đảm bảo chất lượng dựa trên những quy định về thực phẩm an toàn của Chính phủ. - Ở Singapore thì cách tiếp cận khác ở chỗ họ phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm (QA) từ Indonesia- nhà cung cấp chủ yếu sản phẩm cho họ.
Những thống đảm bảo chất lượng này đã bao trùm những khía cạnh mà tiêu chuẩn GAP yêu cầu. Từ đó các nước thành viên đã quan tâm đến một hệ thống QA mở rộng cho cho khối ASIAN dựa trên yêu cầu An toàn thực phẩm.