đặt vấn đề phát triển dự án cung cấp rau sạch cho hệ thống nhà hàng Nhật tại Việt Nam và xuất khẩu sang Nhật. Ở nước ta, bắp cải là loại rau được trồng phổ biến nhất để làm thực phẩm và chăn nuôi. Trước hết là giá trị dinh dưỡng với hàm lượng vitamin A, C, giàu sắt và Iốt rất tốt cho cơ thể. Khí hậu của nước ta có 4 mùa rõ rệt, Luan van 14 bắp cải là cây trồng vụ đông có thể sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện lạnh của Miền Bắc.
Ngoài ra do sự phân cắt của địa hình thì ở Sa Pa, Đà Lạt là các vùng trồng rau lớn nước ta cũng phát triển mạnh loại cây trồng này. Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật sản xuất rau công nghệ cao nên bắp cải có thể trồng quanh năm cung cấp rau cải bắp cho thị trường cũng như tăng thu nhập cho người trồng rau, đặc biệt là trồng rau trái vụ đang là xu hướng sản xuất hiện nay [15]. Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, khu vực Đồng Bằng Sông Hồng trở thành vùng sản xuất rau lớn nhất nước, tiếp đó là khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long. Những tỉnh có năng suất đạt cao nhất là Lâm Đồng, Đắk Lắk (Tây Nguyên), Hải Dương,Thái Bình, Hải Phòng (Đồng Bằng Sông Hồng), Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang (Đồng Bằng Sông Cửu Long), Tp.
Hồ Chí Minh, năng suất rau trung bình đạt trên 200 tạ/ha [15].3: Tình hình sản xuất rau bắp cải tại Việt Nam (2015-2018) Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2015 3,2 26,6 0,86 2016 3,4 25,9 0.89 2017 3,7 26,0 0,97 2018 3,6 23,7 0,97 (Nguồn: FAO Stat Database Results, 2020) [23] Tình sản xuất rau bắp cải ở Việt Nam được thể hiện qua bản 2.3, qua bản ta thấy: Về diện tích trồng cây bắp cải vẫn luôn tăng dần qua các năm. Từ 3,2 nghìn ha năm 2015 đến 2017 diện tích đạt 3,7 nghìn ha. Năm 2018 diện tích Luan van 15 có xu hướng giảm nhưng không đáng kể. Việc tăng diện tích qua từng năm nhằm mục đích tăng sản lượng bắp cải cung cấp nhu cầu ngày càng lớn của thị trường.
Năng suất trồng rau bắp cải biến động qua các năm. Năm 2015 năng suất đạt 26,6 tấn/ha nhưng đến 2016 lại giảm 0,7 tấn/ha so với năm 2015. Xong đến 2017 tăng nhẹ đến 2018 thì giảm mạnh giảm 2,9 tấn/ha từ 26,6 tấn/ha năm 2015 đến năm 2018 giảm xuống còn 23,7 tấn/ha. Việc giảm năng suất do một số nguyên nhân như do thời tiết diễn biến thất thường, sâu bệnh hại phát triển và có thể do một số nguyên nhân khác.
Tuy năng suất giảm nhưng sản lượng bắp cải sản xuất ra vẫn luôn tăng đều qua các năm. Từ 0,86 năm 2015 qua các năm vẫn tăng đều đến năm 2017 và năm 2018 đạt 0,90 triệu tấn. Về sản lượng bắp cải của việt nam tăng qua các năm thể hiện cụ thể năm 2015 đạt 0,86 triệu tấn. Đến năm 2016 tăng lên 0,89 triệu tấn và đến năm 2017 và năm 2018 đạt 0,97 triệu tấn, tuy năng suất giảm nhưng do diện tích tăng nên sản lượng sản xuất vẫn luôn tăng.
Tình hình tiêu thụ rau bắp cải ở Việt Nam Với nhu cầu tăng mạnh cùng với thói quen tiêu dùng hiện đại đang được hình thành, Việt Nam sẽ là thị trường hấp dẫn không thua kém bất cứ một thị trường nào trên Thế giới về thực phẩm sạch. Một số tập đoàn lớn đã quay sang đầu tư rất mạnh cho các sản phẩm rau quả sạch như: Vingroup, Hòa Phát, Hoàng Anh Gia Lai,. Công ty Cổ phần rau quả thực phẩm An Giang, cùng với việc quay về thị trường nội địa, hàng năm các sản phẩm rau quả sạch phục vụ cho thị trường nội địa của công ty chiếm tỷ trọng đến 30%. Các sản phẩm rau sạch và một số các loại rau khác có doanh thu từ 3 - 5 tỷ đồng/năm trước đây đã nâng lên 50 tỷ đồng/năm [17].
Luan van 16 Sản xuất rau tại Hà Nội đạt gần 600.000 tấn/năm, tương đương 1. Với mức tiêu dùng khoảng 1 triệu tấn hàng năm, Hà Nội phải nhập thêm một lượng lớn rau từ các tỉnh khác. Nguồn cung bổ sung chủ yếu đến từ các tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông Hổng như: Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hòa Bình. Nhu cầu nhập thêm rau của Hà Nội được dự báo tiếp tục tăng trong thời gian tới do tốc độ đô thị hóa nhanh dẫn tới thu hẹp đất cho sản xuất nông nghiệp tại thành phố Thủ Đô [17].
Đối với rau bắp cải thường được tiêu thụ rộng rãi ở thị trường Miền Bắc. Về tỷ lệ hộ tiêu thụ bắp ở hai thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh đạt 94%, các thành phố khác đạt 92%, thị xã đạt 90%. Tỷ lệ hộ tiêu thụ bắp cải ở vùng đồng bằng sông hồng đạt tỷ lệ 94%, miền núi phía Bắc đạt 90%, Đông Nam Bộ 79%, đồng bằng Sông Cửu Long và Tây Nguyên 78%, Bắc Trung Bộ 70% và Nam Trung Bộ 47% [26]. Thuận lợi, khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ bắp cải tại Việt Nam Do thực trạng sản xuất còn nhỏ lẻ, chất lượng rau không đồng đều, thiếu kiến thức thị trường và khó khăn trong việc tiếp cận những thông tin thị trường cũng như các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sau thu hoạch yếu kém.
Áp dụng chưa đúng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất như: bón phân, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh tự phát không đồng đều dẫn đến hiệu quả không cao Điều kiện khí hậu không thuận lợi như: mưa bão, thời tiết cực đoan. Những kết quả ứng dụng kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất kinh doanh bắp cải trên Thế giới và ở Việt Nam 2. Những kết quả ứng dụng kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất kinh doanh bắp cải trên Thế giới Với tầm quan trọng của cây rau trong sản xuất nông nghiệp và đời sống con người, nên có rất nhiều cơ quan nghiên cứu, tạo giống và kỹ thuật sản xuất rau. Ở Châu Á (trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á-AVRDC) được thành lập năm 1971 đến nay.
AVRDC đa nghiên cứu tạo giống và phát triển sản xuất rau theo hướng bảo vệ môi trường. Sản xuất rau bền vững thích hợp với hệ thống nghiên cứu nông nghiệp quốc gia (VARDC, 2002)[1]. Chương trình của hai viện nghiên cứu và phát triển rau Châu Á bắt đầu năm 1998 với mục tiêu: Thu thập và cải tiến kỹ thuật trong hệ thống rau sản xuất gia đình. Phát triển kỹ thuật phòng trừ sâu dịch hại (IPM) trên rau giảm bớt chi phí nâng cao hiệu quả năng suất.
Nâng cao giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế xã hội của sản xuất rau. Nâng cao hiệu quả nghiên cứu phát triển rau (VARDC, 1999) [1]. Công tác chọn tạo giống rau cải bắp cuốn ở nhiệt độ từ 160C đến 220C. Nhiệt độ trung bình trên 220C hình thành bắp kém, cuốn không chặt.
Bắp cải là loại rau ưa thích khí hậu mát mẻ, khi ở nhiệt độ lớn hơn 250C ở khu vực nhiệt đới Châu Á và á nhiệt đới trong suốt mùa nắng nóng và ẩm ướt giống bắp cải Trung Quốc không thể cuốn bắp được do vậy năng suất thấp, chất lượng kém và phát triển nhiều bệnh gây hại phổ biến. Để khắc phục những vấn đề trên, AVRDC bắt đầu tiến hành chương trình khảo nghiệm chọn tạo giống từ năm 1973 để cải tạo một số giống cải bắp Trung Quốc cho năng suất chất lượng cao, chịu nhiệt tốt, kháng bệnh cao. Luan van 18 NWREC (MỸ, 2002)[1] đã giới thiệu giống cải bắp ngắn ngày 75 - 90 ngày có khả năng chịu nóng và chống chịu một số bệnh hại quan trọng, cho năng suất cao. Những kết quả ứng dụng kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất kinh doanh ở Việt Nam Ở nước ta cải bắp là loại rau phổ biến là một trong những loại rau chủ lực được trồng ở vụ Đông Xuân do thích nghi của nó mạnh dễ trồng, sản lượng cao, chất lượng tốt, chịu vận chuyển, nó được trồng phổ biến ở khắp nơi.
Ngoài ra có giá trị kinh tế cao. Nước ta trồng rộng rãi ở miền Bắc, Đà Lạt, diện tích trồng cải bắp được trồng tập trung ở các thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Nguyên. Công tác chọn giống cải bắp ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn do kinh phí, do điều kiện tự nhiên nên công tác chọn tạo giống mới chỉ dừng lại ở việc tiến hành khảo nghiệm đánh giá các giống nhập nội để đưa giống tốt vào phục vụ sản xuất. Những nghiên cứu về sâu tơ (Plutella xylostella): sâu tơ (Plutella xylostella) là một trong những loài sâu hại rau họ thập tự được nhiều nhà khoa học ở các quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu, do tính chất gây hại đối với sản xuất và tính kháng thuốc của nó.
Theo Lê Trịnh Thịnh (1996)[1] cho biết sâu tơ là loài sâu hại rất nguy hiểm trên rau họ thập tự, sâu thuộc họ ngài đêm roctuidae, bộ cánh vẩy lepidoptera. Sâu tơ hại tất cả các loại rau trong họ thập tự có giá trị kinh tế như bắp cải, su hào, sup lơ,. Chúng được coi là đối tượng sâu hại quan trọng ở hầu hết tất cả các nước trên Thế giới, đặc biệt là các nước trong vùng Nam và Đông Nam Châu Á như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippin, Đài Loan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Dẫn theo tài liệu của Nguyễn Thị Thu Hằng (2001)[1] các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của sâu tơ đã cho biết: Tuỳ thuộc vào điều Luan van 19 kiện môi trường ở từng nước khác nhau mà vòng đời sâu tơ cũng khác nhau như: ở Canada vòng đời của sâu khoảng 14 - 21 ngày; ở Hongkong 22 - 37 ngày; ở Malaysia 10,8-27,0 ngày.
Theo tác giả Koshihara (1985)[1] thì ở nhiệt độ khoảng 200C thì vòng đời của sâu tơ là 23 ngày nhưng khi nhiệt độ là 250C thì vòng đời rút ngắn lại 16 ngày. Theo Ong và Soon (1990)[1] cho rằng sâu non phân bố trên cây chủ yếu ở mặt dưới lá non và lá bánh tẻ để gây hại, đến cuối tuổi 4 thì di chuyển xuống mặt dưới của các lá già và kẽ lá để hoá nhộng. Như vậy việc tỉa bỏ lá già sẽ góp phần hạn chế số lượng sâu chuyển tiếp sang lứa sau trên ruộng rau. Những nghiên cứu về sâu xanh bướm trắng (Piesis sapae) Sâu xanh bướm trắng thuộc họ Pieridae, bộ cánh vẩy Lepidoptera cũng gây hại mạnh đến hầu hết khắp các nước trên Thế giới, có phạm vi ký chủ rộng hơn sâu tơ gồm 9 họ và 35 loài thực vật khác nhau như: họ thập tự, họ cúc, họ bách hợp.